Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, May 5, 2015

Hình độc...






Hình độc
Mừng ngày phóng giải trời quên mất giải phóng mà 30.5 cả làng ơi. Việt nam nay mừng sớm một tháng.
Hội nghị sáng mắt !

Thì ra tháng này đóng tiền điện thấy mẹ luôn chủ yếu để bảo vệ đảng...

Đã hoàn thành việc cải tạo thay thế cây xanh ở Hà Nội. Loại bỏ được hết những cây xấu xí già cỗi để thay bằng những hàng cây xanh chuẩn đều đặn như trong hình. Thủ Đô ta đẹp hơn, xanh hơn mà lại rẻ tiền hơn để chào mừng những ngày Lễ lớn 30/4 và 1/5/2015 sắp tới.
Tài. Tài đến thế là cùng. Tiên sư anh Thế Thảo...


Hai Bà Trưng thời XHCN cũng bị quan tham rút ruột nên võng lọng không còn và ông tượng cũng bị biến dạng thành xe rác trùm mền !!

Inline image
Làm cả cái băng rôn treo trước công chúng mà sai cũng không biết. Như vậy ta biết được tính thờ ơ vô trách nhiệm của cán bộ việt nam thế nào !

Ôi trời thật độn đần..

Tinh thần lao độn là đúng quá rồi còn gì...! Đội với cs thì là thằng độn mới theo nó chứ.

Bức ảnh đã chứng minh tất cả khỏi giải thích...

Chỉ nói mục tiu thôi.Ko có thời gian cụ thể nên hoàn toàn đúng..

Sau 40 năm so sánh nước ta và nước người.
*********************************************************
Những hình ảnh trái ngược làm nhục mặt con người.

***********************************************************
Con trâu này phải ra tòa và xử không khoan hồng vì tội chống người thi hành công vụ.

Tên của chủ tịch QH Thái Lan nếu dịch sang tiếng Việt là:Ngồi xổm sặc kiệt sức ra ói...

CSGT bắn tốc độ thì cứ bắn nhưng bắn đàng hoàng, công khai chứ không nên núp núp như thế này, nhìn rất NHẾCH NHÁC

Inline image
Thế này bị kiểm tra giấy tờ thì làm sao !Hic Hic !
Việc chạy vào nhà trắng của Obama ...mà ví như chạy chức chạy quyền ở VN.
PGS TS mà ăn nói thiếu học thức như vậy chỉ có ở VN

Ăn nói như vậy rõ ràng bằng cấp này chỉ có mua ! Cách ăn nói này không thể có ở một PGS TS không sợ người nghe cười cho thối mặt ....

Một em gái ngồi vá xe bên lề đường để kiếm sống, đáng trọng hơn rất nhiều so với mấy em thả rông đú đỡn sống bám vào tiền của trai. 

Inline image
Ngôi làng nổi tiếng  !
Inline image
Vậy thì chôn ở đâu ?

Inline image
Năm nay bảo đảm cay cú.












__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

30-4-75: ai giải phóng ai và ai thắng ai thua


 

30-4-75: ai giải phóng ai và ai thắng ai thua

Đinh Từ Thức      
 
Danh nghĩa và thực tế

Theo cách nói chính thức, ngày 30 tháng Tư 40 năm trước, dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Miền Bắc đã thắng trong cuộc chiến giải phóng Miền Nam, và đồng thời, thắng cả Hoa Kỳ, là đồng minh chính của Miền Nam. Nhưng sau 40 năm nhìn lại, trên thực tế, ai đã giải phóng ai, ai thắng ai thua, cũng như ai được ai mất, và mất gì được gì?
clip_image002
Theo những tài liệu được chính báo chí phía Cộng Sản công bố, không có ai chụp được cảnh chiếc xe tăng đầu tiên đụng cổng Dinh Độc Lập khi tiến vào Dinh trưa 30 tháng 4. Hôm sau, người ta mới dàn cảnh chụp hình lại để làm “tài liệu lịch sử” (Hãy xem video http://www.yourepeat.com/watch/?v=ivNE2OKTfcA#!)
T
rước hết, hãy nói chuyện “giải phóng”:

Từ “giải phóng” trong tiếng Việt có nghĩa “liberate” trong tiếng Anh. Tra chữ liberate trên Dictionary.com (*) thấy có 5 nghĩa, trong đó có 2 nghĩa đáng chú ý: “2. to free (a nation or area) from control by a foreign or oppressive government.” (cho tự do - một dân tộc hay một vùng – khỏi sự kiểm soát của một chính quyền ngoại bang hay áp bức) 5. Slang. to steal or take over illegally: The soldiers liberated a consignment of cigarettes. (Lóng. Ăn cắp hay đoạt lấy bất hợp pháp: Binh sĩ đã giải phóng món hàng thuốc lá).

Nếu theo nghĩa thứ 5 trên đây, quả thật, 40 năm trước, Miền Bắc đã “giải phóng” Miền Nam. Điều này không những chỉ xẩy ra cho hàng hoá, đồ dùng như quần áo, tivi, tủ lạnh, xe cộ, dụng cụ sản xuất… mà còn áp dụng cho cả lãnh thổ Miền Nam.

Nhưng theo nghĩa thứ 2 trên đây của từ giải phóng, thực tế đã trái ngược hoàn toàn. Nhiều nhân chứng sống và tài liệu khả tín đã chứng minh, vào thời gian 30 tháng Tư năm 1975, Miền Bắc bị ngoại bang (Nga, Tầu) kiểm soát chặt chẽ hơn ngoại bang (Mỹ) đối với Miền Nam. Về phương diện chính quyền đàn áp cũng vậy: Miền Nam có báo chí tư nhân, tự do lập hội, tự do biểu tình, kể cả biểu tình chống chính quyền. 

Tất cả những điều này đều không có tại Miền Bắc 40 năm trước, và ngày nay, dưới chế độ Cộng Sản, vẫn chưa có trên cả nước. Như vậy, không thể có chuyện vô lý: nơi không có tự do giải phóng cho nơi đang có tự do, nơi có chính quyền lệ thuộc ngoại bang và áp bức dân giải phóng cho nơi ít lệ thuộc ngoại bang, và dân ít bị đàn áp hơn.

Nhưng cũng phải thừa nhận, tình hình đã thay đổi nhiều trong 40 năm qua. Ngày nay, tuy tư nhân chưa được ra báo, nhưng blog tư nhân tràn ngập trên internet. Dân chưa được tư do lập hội, nhưng Xã Hội Dân Xự đang xuất hiện ngày càng nhiều. Chưa có luật tự do biểu tình, nhưng thỉnh thoảng vẫn có biểu tình. Việt Nam vẫn tồn tại là một xã hội cảnh sát trị. Bốn chục năm trước, người dân sợ công an cảnh sát như sợ cọp. Bây giờ, người dân vẫn e dè công an cảnh sát như cọp, nhưng là thứ cọp trong sở thú, thỉnh thoảng quẳng cho miếng mồi, chụp hình đem lên mạng.

Sự thay đổi này sẩy ra sau biến cố 30 tháng Tư.
Bốn chục năm trước, có câu truyện lạ lan truyền. Kể rằng: Sau khi Miền Nam được giải phóng, người ta thấy nhạc sĩ cổ nhạc Văn Vỹ tự mình lái xe gắn máy phóng khắp Sài Gòn. — Sao lạ dzậy? — Nhạc sĩ này vốn khiếm thị mà! Thì bởi, sáng mắt ra rồi!

Câu truyện tưởng như đùa, mà quá gần sự thật. Hãy nghe nghệ sỹ xuất sắc Kim Chi kể trên Facebook đài RFA (**) về sự sáng mắt của mình:
Mấy năm qua, mỗi lần 30/4 tôi mất hẳn cảm giác hạnh phúc, mất hẳn sự tự hào như những năm trước đây. Tôi buồn vì niềm tin trong tôi hoàn toàn đổ vỡ. Nghĩ lại, nhận rõ và xác thực hơn: Những năm tôi ‘đi theo lý tưởng’ Bác Đảng và bom đạn thì quả là tôi "lớn rồi mà như ngây thơ, ngu xuẩn, dại khờ". Tôi cũng như biết bao đồng đội đã qúa ‘ngây thơ, ngu ngốc’.

Như thế, cứ theo đúng chữ đã được định nghĩa trong tự điển, qua biến cố 30 tháng 4, Miền Bắc đã “giải phóng” Miền Nam – theo nghĩa lóng – về mặt của cải, tài sản, đất đai… Trong khi đó, những người còn ngây thơ, mê muội về chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản đã được giải phóng – theo nghĩa thường – về mặt tư tưởng, nhận thức và tầm nhìn.

Bây giờ tới chuyện thắng, thua.
Cuộc chiến chấm dứt ngày 30 tháng 4, 1975, theo danh nghĩa chính thức, có bốn bên thuộc hai phe trực tiếp tham dự: Phe Miền Nam có Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà, phe Miền Bắc có Mặt Trận Giải Phóng và Cộng Sản Bắc Việt. Bây giờ xét từng bên xem ai thắng ai thua.

Trước hết, Mỹ là cường quốc tư bản, không phải đế quốc thuộc địa. Mỹ tham chiến nơi nào, danh nghĩa là bảo vệ tự do dân chủ nhân quyền, nhưng thực chất là mở mang hay bảo vệ thị trường, không phải để chiếm đất. Hà Nội vỗ ngực tự sướng đã thắng Mỹ, ngay dân Mỹ cũng nhiều người nghĩ rằng, với sự rút lui khỏi Việt Nam 40 năm trước, họ đã thua lần đầu tiên trong lịch sử. 

Thật ra, Mỹ không thua trận vào năm 1975. Họ đã rút lui trong trật tự từ năm 1973 theo Hiệp Định Paris, mang về đủ số tù binh, kể cả tối đa hài cốt có thể tìm được của các tử sĩ. 30 tháng 4 chỉ là mốc thời gian xếp lại bàn cờ chiến lược, nhờ đó, Mỹ chẳng những không mất, mà sau này, thị trường tăng gấp bội.

Ngoài thị trường Hoa Lục mông mênh, sau hai thập niên cấm vận để thuần hoá con thú cộng sản, tại Việt Nam, thị trường Mỹ không còn giới hạn ở phía Nam vĩ tuyến 17, mà lan nhanh ra cả nước. Trước 1975, dân Miền Nam quen hàng Pháp hơn hàng Mỹ, cả nước chi có hai trường chuyên dậy tiếng Anh. Ngày nay, trường dậy tiếng Anh có mặt khắp nơi, đếm không xuể. Tổng Biên Tập đài RFA Dan Southerland, sau chuyến đi VN năm 2013, nói trong cuộc phỏng vấn vào tháng 4 năm 2015: “một điều đáng ghi nhận là tôi thấy có rất nhiều trường Anh ngữ mọc lên ở Sài Gòn, có rất nhiều người học tiếng Anh kể cả trẻ em” (***). Trước 1975, VNCH không có trường dậy tiếng Anh cho trẻ em. Sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ, thời VNCH là con số hàng trăm, năm 2014 là 16 ngàn.

Trước 75, tiền Mỹ mang sang VN là tiền viện trợ, ra đi không về, năm vừa qua, Mỹ đầu tư ở VN, là số tiền bỏ ra kinh doanh để kiếm lời, cao hơn 30 tỷ đô la. Tiền Mỹ, hàng Mỹ, phim Mỹ, nhạc Mỹ, show Mỹ, mốt Mỹ, tiếng Mỹ… là những thứ hiện nay quá quen thuộc với người dân VN. Đến nỗi, báo đăng tin, có cô gái đi trên đường phố, giả bộ đàm thoại trên cell phone bằng tiếng Mỹ, muốn chứng tỏ mình là người văn minh hiện đại. Trước 75, ai làm vậy, bị khinh là “Me Mỹ”. Hồi ấy, Sài Gòn cũng chưa hề có McDonald’s, KFC và Coca Cola. Hơn nữa, đây là điểm đáng ghi nhận hàng đầu: Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của PEW, 95 phần trăm dân Việt Nam trong nước hiện nay tin tưởng vào kinh tế tư bản, một tỷ lệ cao nhất thế giới, hơn cả tại chính nước Mỹ, con số này chỉ có 70%. Từ khẩu hiệu “Đánh Mỹ cứu nước” trước 75, chủ trương của Việt Nam bây giờ là “Thân Mỹ cứu nước”. Như vậy là Mỹ thua, hay Mỹ thắng?

VNCH đầu hàng vô điều kiện ngày 30 tháng 4, đương nhiên là bên thua trận. Nhưng như đã trình bầy trong phần nói về giải phóng, bên thua đã bị trắng tay về của cải tài sản, nhưng cái thua của Sài Gòn đã có hiệu lực thức tỉnh tất cả những ai còn mê muội trên khắp nước. Đây không phải là thứ “chuyển bại thành thắng”, mà trong cái thua của một tập thể, đã đem lại lợi ích cho cả nước, một tập thể lớn hơn gấp bội, và tiếng vang còn thức tỉnh cả dư luận thế giới. Chế độ Sài Gòn đã thua về vật chất; thất bại này giúp phơi bầy sự thật phũ phàng từng bị che đấu trước người dân Miền Bắc và thế giới, tạo ra điểm thắng về tinh thần. Tinh thần quan trọng hơn vật chất, phần thắng đáng kể hơn phần thua.

Trên danh nghĩa, bên thứ ba, Mặt Trận Giải Phóng, là kẻ cầm cờ của Bên Thắng Cuộc. Chính lá cờ của tập thể này đã được cắm trước tiên trên Dinh Độc Lập. Nhưng oái oăm thay, số phận của kẻ thắng này còn thê thảm hơn của kẻ thua. VNCH tuy thua trận, nhưng không bị tan biến, cả vô hình là tinh thần dự do dân chủ và nhân bản, và hữu hình là từ nghĩa trang tử sĩ tới những tập thể từ trong tới ngoài nước với quốc kỳ cũ vẫn hãnh diện mình thuộc về VNCH. Trong khi ấy, thành phần MTGP bị tan biến hoàn toàn, giống như loài bọ ngựa đực, sau khi phục vụ nhu cầu sinh lý cho bọ ngựa cái, đã bị “người yêu” ăn sống nuốt tươi. Luận bàn thắng bại về một thành phần đã biến vào hư vô, là điều vô ích.

clip_image004
“Hỏi đường một lúc, chúng tôi gặp một người dân đang vác lá cờ từ Thảo Cầm Viên chạy ra. Ông ta nói: ‘Quân giải phóng cho tôi lên xe thì tôi sẽ dẫn đường cho’. Lá cờ cắm trên nóc dinh Độc Lập chính là lá cờ của người dân này. 34 năm nay, tôi đi tìm con người này mà vẫn không tìm thấy.” Trung tướng Phạm Xuân Thệ kể lại (TuanVietNam – 27/04/2009) 

(MTGP đã biến mất, lá cờ đã biến mất, làm sao t
ìm được người cầm cờ?)
Bên cuối cùng là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước 30 tháng 4, 75, nhờ bộ máy tuyên truyền và bưng bít sự thực, trước đa số nhân dân, Đảng đã đạt được địa vị ngang hàng thần thánh. Giống như tín đồ Phật giáo nói “nhờ ơn Trời Phật”, tín hữu Công giáo nói ”nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ”, người dân thường nói “nhờ ơn Bác và Đảng”. Sau khi mở mắt nhờ 30 tháng 4, bây giờ, giới trẻ trong nước phát động chiến dịch nêu cao khẩu hiệu “Tôi không thích Đảng Cộng Sản”. Nhiều đảng viên lão thành không tiếc lời công khai chỉ trích Đảng. 

Nhiều đảng viên già có trẻ có, công khai từ bỏ Đảng, và không ngại nói rõ lý do. Tóm lại, chẳng những Đảng không còn được kính sợ và tin tưởng như trước, mà còn bị khinh thường. Vậy, trong cả bốn bên, thua đậm nhất phải là Đảng Cộng Sản VN. Nhưng cho công bằng, sự hy sinh của hàng triệu bộ đội trong đạo quân Miền Bắc không phải là vô ích. Họ đã đóng góp xương máu, tưởng là để giải phóng Miền Nam, nhưng thực ra đã giải phóng tư tưởng của chính đồng bào ruột thịt Miền Bắc của mình.

clip_image006
Mất và được
Dù thắng hay thua, cuộc chiến nào cũng có những tổn thất. Điều quan trọng nên biết rõ là mất gì được gì, và ai mất ai được.

Mỹ mất hơn 58 ngàn mạng người. Một mạng người đã quý, huống chi hàng ngàn, hàng vạn. Cho đến nay, những người chủ trương phản chiến bằng mọi giá vẫn cho rằng, tổn thất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam chẳng những vô ích, còn làm hoen ố lịch sử một nước chưa từng bại trận. Phe này cho rằng thuyết Domino thời Eisenhower là sai, bằng chứng là sau khi Hà Nội thắng trận, Đông Nam Á không lọt vào tay cộng sản. Thật ra, nếu Mỹ không can thiệp từ năm 1954, hay bỏ đi từ năm 1965, rất có thể chuyện Domino đã thành sự thật. Mạng người và đô la Mỹ đã giúp Đông Nam Á cầm cự được mười năm. Khi Hà Nội làm chủ cả nước, kinh tế khối cộng sản đã kiệt quệ, Nga Tầu chống nhau, Cộng Sản Nam Dương đã bị dẹp, Cộng Sản Việt chỉ còn đủ lực xâm chiến Campuchia.

Tuy trên danh nghĩa, Mỹ đã không thành công trong sứ mạng giúp người dân VNCH bảo vệ được nếp sống tự do dân chủ phôi thai của mình. Nhưng ngoài việc ngăn chặn bước tiến của cộng sản ít nhất trong một thập niên, Mỹ cũng đã đạt được nhiều lợi ích. Văn ôn vũ luyện, thay vì thỉnh thoảng tổ chức tập trận giả bắn đạn thật, Mỹ có cả một chiến trường rộng lớn đánh trận thật, bắn người thật. Tất cả những võ khí tối tân chưa hề được sử dụng hồi Thế Chiến II và chiến tranh Triều Tiên, như chiến đấu cơ siêu thanh, pháo đài bay B-52, trực thăng, tầu nguyên tử, truyển tin bằng vệ tinh, thuốc khai quang… đều được thực nghiệm tại chiến trường Việt Nam. Muốn có địa vị cường quốc về quân sự, người khôn ngoan không mang võ khí nước người về sử dụng ở nước mình, mà mang võ khí của mình thực nghiệm ở nước ngoài.

clip_image008
Sau 40 năm chống Mỹ cứu nước, Việt Nam có 4 tiệm McDonald’s
Sau khi thí nghiệm xong võ khí mới và có đủ kinh nghiệm về chiến trường mới, 30 tháng 4, 1975 là mốc thời gian Mỹ bắt đầu giai đoạn mới, chấm dứt chiến tranh, mở mang thị trường trong hoà bình. Nhật thua trận, biết thân phận mình, ngoan ngoãn theo Mỹ dẫn dắt, chỉ trong 20 năm đã thành cường quốc kinh tế. Việt Nam thắng trận, tưởng bở, 30 tháng 4 năm nào cũng kỷ niệm đại thắng, pháo hoa, cờ xí rợp trời, duyệt binh, dậm chân tại chỗ. Tuy vậy, sau 40 năm, Mỹ cũng có được 4 tiệm McDonald’s. Sau khi mang tiếng thua trận, Tổng Thống Mỹ tới Việt Nam, dù vào ban đêm, vẫn được dân đón đầy đường phố. Trong khi ấy, Chủ Tịch Nước và Thủ Tướng Việt Nam anh hùng tới Mỹ, thường phải đi cửa hậu.

Về nhân mạng và của cải, VNCH thiệt hại nặng hơn Mỹ. Nhưng nếu có hàng triệu người đã hy sinh, cũng có hàng triệu người đã thoát nạn, đa số tạo cho mình hoặc con cháu cuộc sống nhiều cơ hội tốt đẹp hơn ở nước ngoài. Công ơn của những người đã hy sinh không uổng phí, đó là món nợ cho những người may mắn. Trong rủi có may, một thế kỷ trước, chỉ có vài tiếng nói của người Việt chân chính có cơ hội cất lên ở ngoại quốc vận động cho nước mình, ở Á có Phan Bội Châu, ở Âu có Phan Chu Trinh, một thế kỷ sau, những tiếng nói này vẫn còn được trân trọng. Sau 30 tháng 4, bỗng nhiên có hàng triệu “sứ giả bất đắc dĩ” có mặt tại hàng trăm quốc gia trên khắp thế giới, mưu cầu điều tốt đẹp cho VN. Biết dùng tổn thất làm cơ hội, là biến bại thành thắng.

Cái “Mặt Trận Giải Phóng” đã được bàn tay Hà Nội dùng trò quỷ thuật tạo ra từ con số không, giống như mụ phù thuỷ phất chiếc đũa thần tạo ra trang phục và cỗ xe cho cô bé Lọ Lem, để nàng sánh vai với Hoàng Tử trong Dạ hội Đa quốc. Trưa 30 tháng Tư là thời gian trò ma thuật hết hiệu nghiệm. Khác truyện xưa, Hoàng Tử hiện nguyên hình là tên côn đồ, với chiếc hài của Lọ Lem đã biến thành dép râu, chẳng ai thèm thử. Lọ Lem được một cơ hội vui chơi, chẳng mất gì. Chỉ có “Hoàng Tử” ê mặt, nhưng thuộc loại tối dạ, vẫn vỗ ngực tự khoe “đỉnh cao chiến thắng”.

Qua biến cố 30 tháng 4, phía Cộng Sản Việt Nam mất gì, được gì? Trước biến cố, trên danh nghĩa, Đảng với dân là một, Đảng từ dân mà ra. Sau biến cố, dân sáng mắt: Đảng là thành phần cai trị, dân là thành phần bị trị. Dân mất quá nhiều, từ xương máu tới của cải. Chỉ còn lại những thứ phù phiếm không thể tiêu dùng như huy chương, bằng tưởng lệ, và tượng Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Trong khi ấy Đảng, nói rõ hơn là cấp lãnh đạo đảng, được quá nhiều. Bằng chứng dễ thấy là những dinh thự nguy nga tráng lệ, chữ nghĩa ngày nay là “hoành tráng”, của các cựu Tổng Bí Thư hay Thanh Tra Chính Phủ, những chiếc xe đắt tiền, và cách ăn chơi phung phí của con cháu giai cấp lãnh đạo Đảng.
Những hy sinh mất mát của dân đã chuyển thành của cải nằm trong tay giai cấp lãnh đạo Đảng.
———–




__._,_.___

Posted by: truc nguyen

Monday, May 4, 2015

Nguỵ biện



Nguỵ biện
Nguyễn Tuấn
Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về "Chứng từ của tội lỗi" (tôi không dùng chữ "tội ác"), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.
Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:
Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là "red herring", hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ "red herring" có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.


Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.

Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề "dân oan", v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.

Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.

Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói "nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố". Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là "conventional war", mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.

Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là "dốt"). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những "lê máy chém khắp nơi", v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.

Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế", và hàm ý là "tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được". Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).
Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.

Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét "phản động". Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến "phía bên kia cũng ác ôn". Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Họ, những cánh bướm đêm dập dìu trong bóng tối

Mặc Lâm, phóng sự từ Malaysia
2015-05-02

an-toi-tai-cafe-Vietnam-622.jpg
Khách hàng ăn tối tại một tiệm cà phê Việt Nam ở Malaysia.
RFA
Your browser does not support the audio element.
Nếu người Việt hải ngoại tự hào với con phố Bolsa nơi có Little Saigon mà họ gọi một cách thân thương là Sài Gòn nhỏ thì khách du lịch từ Việt Nam sang Singapore có thể ghé quán Little Việt Nam nằm trên đại lộ Guillemard gần với con lộ Geylang để thưởng thức các món thuần Việt, hay xa hơn, tại Kuala Lumpur, một quán Little Việt Nam khác nằm trên đường Jalan Alor sẽ làm người xa nhà ngạc nhiên vì ở thành phố mà món ăn do người Hoa làm chủ nhưng một quán ăn nhỏ bé Việt Nam lại có thể đông đúc như vậy.

Một bài toán không lời giải

Singapore và Malaysia không những chỉ có nhà hàng mang tên Little Việt Nam mà nó còn những thứ Việt Nam khác đang sinh hoạt tại hai quốc gia này. Sự nhộn nhịp khi đêm xuống của một cộng đồng các cô gái từ các nước trong đó nhiều nhất là Việt Nam sang bán dâm đang là một bài toán không lời giải cho các tổ chức quan tâm về vấn đề buôn người trên khắp thế giới.
Singapore cũng giống như Thái Lan, cho phép thành lập các khu đèn đỏ hoạt động dưới sự kiểm soát trong một chừng mực nào đó của chính phủ. Khu Keong Saik trước đây và Geylang hay Joo Chiat bây giờ được vận hành bởi những hội kín của người Hoa. Giống như các hoạt động mãi dâm bất hợp pháp, dù hợp pháp chăng đi nữa thì nguồn hàng mới vẫn cần tìm kiếm, dụ dỗ có khi lừa bịp để cung cấp cho khách làng chơi. Việt Nam đã có sẵn đường giây lâu đời của các má mì người Việt lẫn Hoa hoạt động mà hơn một lần báo chí Việt Nam khui ra là xuất phát từ Trung Quốc.

Nhà em ngoài Bắc thì làm lúa làm rẫy, trồng mía trồng trà làm ruộng. Lần đầu tiên thì con bạn hồi đó đi làm công nhân nhưng hồi đó lương thấp thấy bạn đi về nhiều tiền nên ham. Nó nói cho số điện thoại bên đây rồi tự ra sân bay, vé thì nó đặt giúm cứ tự ra sân bay tự đi. Cũng sợ lắm nhưng kệ, đi tới đâu thì điện thoại dẫn tới đấy.
-Cô Lam
Những cô gái Việt sang Singapore phần lớn đi một mình được sự hướng dẫn bằng điện thoại từ Geylang. Chấp nhận ra đi cô sẽ được ứng trước một số tiền tương đương 1.000 đô la Mỹ và sau đó mỗi tháng cộng với tiền lời 20% khiến cô khó mà trả hết số nợ ngày một tăng cao này. Ở Singapore các cô còn phải cạnh tranh với các cô gái đến từ nhiều nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka ngay cả với Campuchia nữa nên thu nhập không thể đủ để thanh toán các khoản chi tiêu trong đó có món nợ của các má mì đàn ông lẫn đàn bà, đa số là người Tàu nói tiếng Việt.

Khác với Singapore, chỉ cần băng qua biên giới thì thành phố Johor Bahru của Malaysia sẽ chào đón các cô gái Việt với nhiều cơ hội thành công hơn.
Johor Bahru có không ít tụ điểm về đêm và mặc dù là một quốc gia Hồi giáo trên 60% tín đồ, Malaysia tỏ ra khoan dung hơn Indonesia và các quốc gia hồi giáo khác.
Điểm đặc biệt mà người ta có thể nhận ra không cần bàn cãi đó là phụ nữ của quốc gia này không bán dâm trong tất cả các khu vực ăn chơi. Phụ nữ Mã ra phố trong trang phục phương Tây lẫn trong những khăn choàng của Hồi giáo. Những chiếc hijab choàng đầu sặc sỡ làm cho đất nước này xinh xắn hơn so với những bộ trang phục màu đen lạnh lùng và khép kín.
Bộ luật Sharia của Hồi giáo Malaysia không bao giờ tha thứ cho việc mua bán dâm. Đây là tội ác và báng bổ thần thánh có thể bị ném đá đến chết hay ít nhất cũng phạt roi cho tới tàn tật cả đời.
Tiem-Little-Vietnam-400.jpg
Tiệm ăn Little Vietnam ở Malaysia. RFA PHOTO.
Công việc mà người phụ nữ Malaysia cho là đáng xấu hổ này lại là nguồn khai thác cho các cô gái Việt. Nếu so với Singapore thì Malaysia là chốn thiên đàng cho nghề mãi dâm mặc dù lâu lâu cũng có một vụ càn quét của cảnh sát Mã. Cách đây ít lâu vào đêm 19 tháng 12 năm 2014 quán The Zone ở đường Ibrahim Sultan, thành phố Johor Bahru cảnh sát đã bắt giữ một số gái Việt nhưng các cô lại xuất hiện vài ngày sau đó và ánh đèn của The Zone tiếp tục nhấp nháy trở lại.

Từ Johor Bahru, 184 cây số về hướng Nam là thành phố cổ kính Malacca. Nơi đây ban ngày du khách không thấy hình dạng nào của sự ăn chơi nhưng khi màn đêm buông xuống thì những tụ điểm lên đèn và trong những quán bar đó toàn những cô gái Việt Nam ngồi rót bia cho khách với một thứ ngôn ngữ duy nhất là tiếng Hoa.

Khách làng chơi tại Malacca hầu hết du lịch tour từ nhiều nước của cộng đồng nói tiếng Hoa như Đài Loan, Macau, Hongkong, Singapore và dĩ nhiên nhiều nhất vẫn là Trung Quốc đại lục. Tất cả những quốc gia nói tiếng Hoa ấy được các cô gái Việt gọi chung là người Tàu hay tiếng Tàu và khi giao tiếp với họ chỉ cần học vài tiếng phổ thông là đủ.

Chấp nhận hoàn cảnh

Giống như hầu hết các quán Bar nổi tiếng khác của Malaysia, tại Malacca tiếp viên được chia 20 Ringgit (tiền Mã) khi khui được 5 chai bia cho khách với giá bán 25 Ringgit một chai, tương đương với 7 đô la Mỹ. Mỗi đêm nếu may mắn có nhiều khách tiền khui bia có thể lên tới 50 đô la đó là chưa kể tiền bo khi ngồi với khách.

Tuy nhiên hiếm khi cô gái nào chịu ngồi với khách mà không rủ rê họ để bán dâm. Nếu có nhan sắc và giỏi tiếng Tàu thì có thể ngồi với khách nhưng thiếu hai yếu tố này thì con đường duy nhất kiếm tiền là phải bán thân. Không ít người trong các cô gái ấy là công nhân xuất khẩu lao động, họ đến từ khắp nơi trên đất nước Việt Nam chứ không riêng gì gái miền Tây như định kiến của báo chí trong nước. 

Do việc làm không đủ họ bỏ trốn ra ngoài làm chui và con đường mãi dâm đến với họ không phải là khó khăn dưới sự săn đuổi của những cô gái giống như họ nhưng bây giờ đã trở thành mối lái do tuổi tác hay bệnh tật.
Nói chung là theo hoàn cảnh nào phải chấp nhận. Gia đình khó khăn thì bên này phải chịu khó làm kiếm tiền giúp gia đình. Chồng cháu bị tai nạn ở chân không đi làm được cháu phải sang đây làm. Cháu ký hai năm nhưng hơn năm thì công ty không có việc nên lên đây làm chui. Làm có tiền rời mới tính sau này nhờ các anh này làm giấy tờ rồi về. 

-Một Cô Gái VN ở Malaysia
Một cô gái kể lại hoàn cảnh khó khăn khi đi lao động tại Malaysia, từ Ayer Hiltam cách Malacca 40 cây số cô nói:
“Nói chung là theo hoàn cảnh nào phải chấp nhận. Gia đình khó khăn thì bên này phải chịu khó làm kiếm tiền giúp gia đình. Chồng cháu bị tai nạn ở chân không đi làm được cháu phải sang đây làm. Cháu ký hai năm nhưng hơn năm thì công ty không có việc nên lên đây làm chui. Làm có tiền rời mới tính sau này nhờ các anh này làm giấy tờ rồi về.”
Không phải ai cũng chịu đựng như cô Lam, một cô gái khác gốc gác Thanh Hóa cho biết con đường mà cô theo từ khi sang Malaysia 2 năm về trước:

“Nhà em ngoài Bắc thì làm lúa làm rẫy, trồng mía trồng trà làm ruộng. Lần đầu tiên thì con bạn hồi đó đi làm công nhân nhưng hồi đó lương thấp thấy bạn đi về nhiều tiền nên ham. Nó nói cho số điện thoại bên đây rồi tự ra sân bay, vé thì nó đặt giúm cứ tự ra sân bay tự đi. Cũng sợ lắm nhưng kệ, đi tới đâu thì điện thoại dẫn tới đấy. Thấy người ta nói chuyện giống như bên Việt Nam xem phim mà không có phiên dịch, chẳng hiểu gì hết cứ lắc lắc không thôi.”
Từ Malacca cách thủ đô Kuala Lumpur 145 cây số là ngôi tháp đôi nổi tiếng Petronas Twin Tower. Dọc bên hông ngôi tháp đôi này là đường Jalan P. Ramlee nơi có hai tụ điểm cũng nổi tiếng không kém ngôi tháp Petronas đó là câu lạc bộ Beach và Thai Club, hai quán bar có chiêu đãi viên toàn người Việt Nam.
Beach nổi tiếng đến nỗi bất cứ xe taxi nào tại Kuala Lumpur cũng đều phải biết. Dáng vẻ sang trọng chứa bên trong hàng trăm cô gái Việt mỗi đêm đã làm cho Beach có tên tuổi so với các nơi ăn chơi về đêm khác của Kuala Lumpur. 80% khách vào đây là người Tàu còn lại là Tây và hiếm lắm mới có vài người đàn ông bản xứ. Những cô gái trẻ từ 18 tới 25 lượn lờ trong quán và sẵn lòng chia sẻ tiếng cười của mình với khách mặc dù trước đó họ có bị chủ nợ đòi hay một cú phone xin tiền từ nhà gọi sang báo tin người thân trong gia đình mang trọng bệnh.
Beach-Club-2-400.jpg
Beach Club ở Malaysia. RFA PHOTO.

Các cô không hẳn là trẻ hết, trong đó cũng có người mà tuổi tác đã làm cho khách phải kín đáo nhăn mặt. Trang là một cô gái như thế mặc dù tuổi chưa quá 35 nhưng sự lo âu đã nằm trọn trên đuôi mắt. Nói với chúng tôi trước chai bia sắp cạn Trang kể:
“Có bà chị kêu em qua nấu ăn cho đào, phụ nấu ăn cho nhà bả. Qua nấu ăn thời gian thì kinh tế bả khó khăn bả nói thôi giờ nghĩ nấu ăn đi vì đào nó ăn tự túc hết rồi, vậy thì thôi giờ em đi làm luôn đi. Ba tháng sau học tiếng, ráng học. Nói chung còn thiếu bả 3.000 giờ ráng làm để trả.”

Sau một hồi chạy quanh đâu đó, Trang trở lại bàn và kể nhiều hơn về gia đình cô tại Long An, trong đó động cơ thúc đẩy cô sang Malaysia chính là chồng mình do đã liên tục sách nhiễu tình dục đối với người vợ đã quá kiệt sức sau những giờ làm việc tất bật, Trang kể:
“Bây giờ nói chung em không biết may giày nhưng mà cách xếp giày thì em biết hết rồi, giày Nike đó chuyên nghiệp về giày Nike. Cứ 6 giờ là có mặt và ngày nào cũng tăng ca bắt buộc phải tăng ca tới 7 giờ sau 7 giờ ngày em tăng ca thì nhà em gần nhà mấy chị hàng bông, trước khi làm Nike nhà em bán hàng bông mà, sau giờ đó thì em chở ra chợ em sang rồi 7 giờ tới 8 giờ em về tới nhà. Cơm nước giặt đồ quay qua quay lại tắm rửa con cái ngủ hết thì em lặt ớt. Lặt ớt tới 11-12 giờ khuya ngủ được một miếng tới 3 giờ em dậy đi bán rồi.
Nói chung là nó đòi quan hệ. Thật sự thì quá mỏi mệt luôn ngày nào cũng như ngày nấy làm sao chịu nỗi? Em mới nói một tuần em chỉ cho quan hệ một lần vợ chồng ai cũng vậy không có ai quan hệ nhiều, phụ nữ mà.”

Đối diện xéo góc với Beach là Thai Club, có lẽ do một người Thái làm chủ. Phong cách Thái lộ rõ khi bên hông của quán bar này là một chiếc miếu thờ Phật bốn mặt mà trước khi vào quán các cô gái Việt ghé vào thắp nhang thành kính cầu xin cho buôn may bán đắt. Sát với Thái Club là quán bán thức ăn Việt Nam có tên Tiệm Cà Phê Việt Nam. Ngôi quán nhỏ nhắn có nhân viên người Việt rất dễ thương trải lòng mọi chuyện xảy ra tại đây để khách thấy được bức tranh tổng thể  cuộc sống của hàng ngàn cô gái Việt đang bơi lội trong chiếc ao nhỏ bé mang tên Kuala Lumpur để bán thân xứ người.

Từ con đường Jalan P. Ramlee đến một con đường nhỏ khác có tên Jalan Alor không bao xa các cô gái thường ghé một quán Việt Nam ở đó để ăn uống, tán gẫu trước và sau khi làm việc tại Beach hay Thai Club. Quán nhỏ, bán nhiều thức ăn Việt và khách chủ yếu là công nhân xuất khẩu lao động hay những cánh bướm đêm của Việt Nam. Người ta có thể thưởng thức một tô phở nóng đặc trưng Hà Nội hay bánh hỏi heo quay đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chủ quán có vẻ biết khai thác tâm lý người xa quê khi không quên một món mà không người miền Nam nào lại không biết đó là bánh mì Việt Nam.

Trước cửa quán là chiếc xe bánh mì đầy thịt ba rọi, xíu mại, thịt nướng cùng rau chua khiến hình ảnh một Sài Gòn trong lòng bùng dậy ấm áp xoa dịu chút gì đó trăn trở và chen lẫn hối hận của các cô gái tha phương.

truoc-mieu-Phat-4-mat-400.jpg

Một Miếu Phật trên đường phố ở Malaysia. RFA PHOTO.

Họ như những cánh bướm đêm, sặc sỡ và lười biếng từ ăn nói tới đi đứng, chuyện trò. Có lẽ họ quá mỏi mệt khi phải đối phó với nhiều thứ bên cạnh việc hằng đêm phải làm chuyện mà không người đàn bà nào muốn. Những khuôn mặt của nhiều vùng quê Việt Nam từ Cà Mau đến Thanh Hóa, Lạng Sơn...tại đây họ không còn phân biệt vùng miền mà chính yếu sự phân loại ấy nằm ở trong ruột những cuốn hộ chiếu mang giòng chữ Hộ chiếu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các con dấu ở phi trường hay cửa khẩu của Malaysia sẽ nói lên người cầm nó trong tình trạng nào, hợp pháp hay bất hợp pháp trước pháp luật của Malaysia.

Nghị định khung miễn thị thực Visa trong khối ASEAN được ký từ năm 2006 cho phép thời gian lưu trú của công dân các nước trong khối ASEAN không quá 14 ngày đối với Brunei và Myanmar, không quá 21 ngày đối với Philippines, không quá 30 ngày đối với Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan Việt Nam và Singapore.

Ba mươi ngày nhập cảnh vào các nước Đông nam á là khoảng thời gian mà ASEAN tính tới nhằm ngăn chặn tệ nạn lao động chui qua con đường du lịch. Thời gian ít ỏi không cho phép người nước khác mua vé máy bay trở về nhà rồi tiếp tục sang làm việc với một lần nhập cảnh mới. Tuy nhiên sự tính toán này tỏ ra không hiệu quả đối với lao động xuất khẩu của Việt Nam và lại càng không thể áp dụng với các cô gái hành nghề mãi dâm đang tràn ngập đất nước Malaysia.

Cầm trên tay cuốn hộ chiếu chưa một lần đóng dấu không ít các cô gái Việt Nam bây giờ mới biết sự quan trọng của những trang giấy trắng tinh này. Từ Việt Nam có cô nhờ luôn công ty môi giới làm sẵn hộ chiếu cho mình, khi lên máy bay cuốn hộ chiếu ấy do người đại diện công ty cầm giữ, bước xuống phi trường về tới chỗ làm việc họ cũng không có cơ hội nhìn thấy nó vì chủ nhân giữ lại để tránh việc họ trốn ra ngoài làm chui.
Con đường của một cuốn hộ chiếu theo chân công dân Việt còn lắm gian nan nữa nếu chủ nhân của nó có ý định trốn lại Malaysia để làm việc bất kể tình trạng di dân bất hợp pháp của mình.

Sự liều lĩnh ấy dù sao tồn tại được cũng nhờ vào các mánh khóe cộng với sự tiếp tay của các nhân viên chính phủ của hai nước cấp và chấp nhận hộ chiếu Việt Nam. Các cô gái hành nghề mãi dâm trên toàn đất nước Malaysia có cùng một cách để ở lại cho dù tấm hộ chiếu của họ thuộc loại nào. Có ba loại hộ chiếu cùng xuất hiện tại đây: Hộ chiếu chết, hộ chiếu chốt và hộ chiếu trắng.

Hộ chiếu chết là hộ chiếu đã hết hạn từ lâu nhưng chủ nhân của nó không buồn ngó ngàng gì tới cho đến khi có ý định trở về Việt Nam thì tính sau. Hộ chiếu “chốt” là khi hết hạn người cầm nó quay về Thái Lan, sau đó nhập cảnh lại vào Malaysia để có con dấu thị thực mới. Hộ hiếu trắng là người cầm nó quay hẳn về Việt Nam làm một cuốn hộ chiếu mới để quay lại Mã.

Cô gái đến từ Thanh Hóa tên Thuần cho biết cách mà một người muốn vào lại Malaysia qua việc đi chốt, tức là đi đóng dấu tại cửa khẩu Malaysia và Thái Lan:

“Đi chốt (hay chốp) là cứ một tháng đi một lần. Thí dụ như mùng bốn tháng trước mùng bốn tháng này là một tháng nhưng phải đi trước khoảng 27-28 chứ không để tới mùng bốn. Hai bảy hai tám ra bến xe mua vé đi Thái. Từ Malacca sang tới Thái Lan sáng hôm sau qua khỏi cửa khẩu của Mã xong rồi vô Thái nhập cảnh trong Thái đi chốt là qua Thái xong nhập cảnh vô Mã Lai lại thì tốn ít tiền chứ vể Việt Nam qua lại rất khó. Ba tháng mới về nhà về Việt Nam một lần. Bên này đi chốt sang Thái thì ba lần phải về Việt Nam xong quay sang bằng hộ chiếu mới. Về Việt Nam đổi passport mới xong lại quay sang đi chốt tiếp.”

Nếu hộ chiếu quá cũ thì đi chốt sẽ bị từ chối và có thể vào tù. Có hai cách để tránh tình trạng đi chốt liên tục mỗi tháng. Cách thứ nhất đóng dấu nhập cảnh giả, cách thứ hai quay về việt Nam làm hộ chiếu mới hay hộ chiếu trắng.

Cách thứ nhất có rất nhiều người theo vì ít tốn kém hơn nữa cảnh sát Mã có hỏi thì cũng không biết được con dấu giả hay thật ngoại trừ nhân viên của sở di trú dưới tên tắt là ZELA.

Theo cô Thuận thì cô chọn cách thứ hai vì chỉ với một số tiền vừa phải là có thể an tâm quay lại Malaysia mà không sợ pháp luật gõ cửa:
“Mình không muốn bản cũ nên đổi cái mới. Ra Hà Nội đổi thì có hai trăm ngàn nhưng mà lâu và lằng nhằng lắm. Môi giới thì nhanh cho tiền chúng nó là xong. Làm đổi mới chỉ trong ngày lấy thì một triệu ba. Nếu ba ngày lấy thì 600 ngàn còn nửa tháng mới lấy thì 200 ngàn.”
Không có tiền như các cô gái sống về đêm, công nhân xuất khẩu lao động mỗi khi muốn trở về Việt Nam thì cách duy nhất là nhờ môi giới với đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, một công nhân người Phú Thọ cho biết:

“Thì chúng cháu phải nhờ môi giới ở đây để đưa lên Đại sứ quán người ta làm thù tục giấy tờ cho bọn cháu về. Có nghĩa là trả tiền người ta lo cho mình về chắc cũng tầm 2 nghìn hay 2 nghìn mốt gì đó. Hai nghìn đó thì bọn cháu phải làm việc trong 3 tháng.”

Vài ngày trước, hôm thứ ba ngày 21 tháng 4 năm 2015 một cuộc hội thảo mang tên Xây dựng chương trình hành động phòng chống mua bán người giai đoạn 2016-2020 do Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm của Chính phủ tổ chức tại TP.HCM cho biết mỗi năm có 5.000 phụ nữ sang Singapore và Malaysia hành nghể mãi dâm. Con số này thật ra đã bớt xuống nếu so với thống kê của Cơ quan di trú Malaysia cho biết có ít nhất 18 ngàn người hành nghề mãi dâm trong đó gái Việt Nam là hơn 8 ngàn người.

Đầu năm nay một quán bar tại vùng Sitiawan bị cơ quan ZELA ập vào bắt giữ hơn 40 cô gái Việt nhưng chỉ sáng hôm sau hầu hết các cô đều được chủ nhân chuộc ra và diễn tiến này lập lại sau đó hai tháng đối với hai câu lạc bộ Beach và Thai Club tại Kuala Lumpur.
Luật Malaysia quy định nếu bị phát hiện nhập cảnh và ở quá thời hạn người cầm hộ chiếu sẽ bị giam giữ hai tháng sau đó trục xuất về nơi xuất phát. Tuy nhiên ít có người bị giam hay trục xuất vì đa số đã được lót tay để cho qua và tiếp tục ở lại hành nghề.

Chính phủ cũng không thể truy tố chủ nhân các quán bar về tội buôn người cho dù chỉ cần bằng chứng họ cho mượn tiền và buộc phải làm việc cho họ là đủ cấu thành tội phạm. Lý do là không một cô gái Việt nào dám nói ra sự thật vì sợ trả thù và cũng sợ hết đường làm ăn. Hơn nữa đối với các nạn nhân thì việc má mì cho mượn tiền xuất phát từ lòng tốt và truyền thống người Việt không nên lấy oán trả ơn.

Những ký sinh sống bám vào mồ hôi của các cô gái Việt dưới nhiều hình thức: cho thuê nhà, cho vay lấy lãi, môi giới hộ chiếu, môi giới bán dâm...tất cả đều là dạng buôn người nhưng nếu tìm người chứng thì không ai dám đứng ra vì hệ thống dày dặc của bang hội người Hoa.
Đã từng có vụ giết người được cảnh sát cho là bịt miệng nhân chứng xảy ra và hình ảnh cô gái Việt Nam nằm chết sóng xoài trong một quán bar đã khiến hầu hết các cô gái Việt chết khiếp.

Mạng lưới mafia hay đường dây buôn người tại Mã chưa bao giờ bị phát hiện mặc dù liên tục bị cảnh sát theo dõi. Giống như hầu hết các tổ chức buôn người trên thế giới, những đồng tiền hối lộ luôn là đồng tiền khôn và sự thật hiển nhiên không một quốc gia Đông nam á nào lại từ chối việc được hối lộ.

Nhưng có lẽ sức mạnh đồng tiền mới chính là lý do khiến các cô im lặng. Thu nhập một đêm tại Beach hay Thai Club có thể từ 1 tới 2 trăm đô la Mỹ đã vây hãm thân thể họ trong vòng tròn son phấn. Cho tới khi son phấn phai nhạt thì con đường trở thành má mì dẫn dắt các cô gái khác lại tiếp tục làm cho vòng tròn sinh sản của những cánh bướm đêm sang một chu kỳ khác.

Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày Văn Cao sáng tác bài Mùa Xuân đầu tiên, người Việt những tưởng cái mùa xuân đáng ao ước ấy sẽ vĩnh viễn trở về trên đất nước Việt Nam. Có đâu 40 năm đã qua mà mùa xuân chỉ xuất hiện về đêm, qua những cánh bướm tả tơi nơi thành phố xa lạ và không hề được thông cảm cho nhịp đập của những đôi cánh ấy.


2014 : Năm đen tối của Tự do báo chí trên thế giới


Đăng ngày 03-05-2015 Sửa đổi ngày 03-05-2015 12:27

2014 : Năm đen tối của Tự do báo chí trên thế giới

media
Ngàn lẻ một cách để bịt miệng báo chí.REUTERS/Tyrone Siu

Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Syria, Eritrea là những nước mà quyền tự do báo chí bị xếp vào « vùng đen » của Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới Reporters Sans Frontières RSF. Bản tổng kết công bố nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 03/05, khẳng định năm 2014 là năm mà quyền tự do thông tin « thoái giảm một cách thô bạo ».

Bốn tháng sau ngày Tòa soạn tuần báo trào phúng Charlie Hebdo của Pháp bị khủng bố nhân danh Hồi giáo tấn công, bản tổng kết tình hình tự do báo chí trên thế giới năm 2014 nhấn mạnh chiều hướng « đi xuống » của quyền tự do thông tin và được thông tin. Nếu khu vực Bắc Âu, với Phần Lan đứng nhất trong năm năm liên tiếp , tiếp theo là Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan dẫn đầu bản xếp hạng thì những quốc gia như Việt Nam (hạng 175), Trung Quốc (hạng 176) cùng với Bắc Triều Tiên và Eritrea (180) đóng chốt ở cuối bảng.
Trung Quốc và Việt Nam mỗi nước bị sụt một hạng so với năm trước. Lý do làm cho Việt Nam bị xếp gần cuối bảng , kém hơn cả Cam Bốt, hạng 139, là vì « chế độ độc đảng kiểm soát thông tin » theo như nhận định của Phóng Viên Không Biên Giới.

Hoa Kỳ cũng mất ba hạng từ 46 xuống 49 do « cuộc chiến chống WikiLeaks » của chính quyền Obama. Tuy nhiên, điều này không làm Tổng thống Mỹ ngần ngại đón tiếp ba nhà báo nạn nhân của chế độ đàn áp tự do báo chí, «yếu tố cốt lõi của nền dân chủ » : Nga, Eritrea và Việt Nam (Điếu Cày Nguyễn Văn Hải) ngày 02/05/2015 tại Nhà Trắng . Pháp lên một hạng từ 39 lên 38 nhưng RSF lấy làm tiếc là còn nhiều trường hợp « nguồn tin mật » của phóng viên không được bảo vệ tốt.
Nếu tổng kết theo từng khu vực địa lý thì so với một năm trước, Tây Âu và vùng Balkan được cải tiến, tiếp theo là Châu Mỹ và ngay Châu Phi cũng tiến bộ hơn vùng Châu Á Thái Bình dương, Đông Âu, Trung Á. Cuối cùng, hai khu vực Trung Đông và Bắc Phi là nơi mà quyền tự do thông tin bị suy thoái nghiêm trọng nhất do xung đột vũ trang.

« 1001 cách bịt miệng báo chí »
Ở một số quốc gia, tính mạng các nhà báo, sự tồn tại của các phương tiện truyền thông bị trực tiếp đe dọa. Tại Trung Quốc một trong những trường hợp được biết đến nhiều hơn cả, là nhà báo Cao Du, 71 tuổi, vừa lãnh án 7 năm tù vì tội « tiết lộ bí mật quốc gia ». Nhà báo Cao Du từng bị chính quyền Trung Quốc bắt giữ vì đã viết bài ủng hộ phong trào dân chủ Mùa Xuân Bắc Kinh năm 1989. Gần đây, bà đã phơi bày những nét tiêu cực trong guồng máy chính trị của đất nước.

Trong trường hợp của Việt Nam, theo tổ chức Phóng viên Không Biên giới, chính quyền đàn áp báo chí bằng cách sách nhiễu gia đình các nhà báo, bắt giữ các bloggers. Bên cạnh việc tấn công thẳng vào cá nhân các phóng viên, một số quốc gia có thể nhân danh một tôn giáo, hay một đức tin để kiểm duyệt báo chí. Tại Thái Lan chẳng hạn, những chỉ trích liên quan nhà vua hay gia đình hoàng tộc đều coi là một điều cấm kỵ, có thể khép vào tội khi quân.

Còn tại Nga, theo lời thông tín viên đài RFI Muriel Pomponne, không một tờ báo nào dám đăng những bức biếm họa của tuần báo trào phúng Pháp, Charlie Hebdo vì sợ đụng chạm đến đức tin của một phần công luận. Vi phạm điều đó, có thể bị phạt đến 3 năm tù giam. Mỉa mai thay là mới chỉ tuần trước, chính Tổng thống Putin đã tuyên bố rằng « một nền báo chí độc lập sẽ góp phần củng cố cho sự vững chắc của Nhà nước ». Cắt quảng cáo, nguồn tài trợ chính của các phương tiện truyền thông độc lập là hình thức để nước Nga của ông Putin kiểm duyệt báo chí.

Gần đây, nhiều quốc gia cũng có thể bịt miệng báo chí bằng cách gia tăng kiểm duyệt mạng Internet. Không chỉ ở Trung Quốc hay Việt Nam, mà tại Pakistan, các nguồn cung cấp dịch vụ internet phải cung cấp cho chính phủ các dữ liệu tin học theo mô hình đã được áp dụng tại Anh, Mỹ. Tại Pháp, chiếc nôi của nhân quyền, dự luật về thông tin, đang gây nhiều tranh cãi.

Nhìn sang Châu Mỹ La Tinh, 2014 là một năm đen tối đối với báo chí Venezuela. Các hành vi sách nhiễu nhắm vào giới phóng viên gia tăng. Nhiều tờ báo phải giảm số trang vì lý do kinh tế, hay chỉ còn ấn bản trên internet, đơn giản là vì không có tiền để mua giấy phục vụ cho độc giả.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link