Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, May 6, 2015

- Trường Chinh Đấu Tố Mẹ


Trường Chinh:

Đấu Tố Mẹ
image
“Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau"

- Trường Chinh Đấu Tố Mẹ
Tiêu biểu là “đảng viên ưu tú” Trường Chinh đấu tố cha mẹ đến chết. Nhờ vậy y cũng được bia miệng ngàn năm khắc ghi câu đối tưởng niệm như thầy mình: “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng! Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu!”. (Đặng Khu chính là Đặng Xuân Khu, tên thật của thằng tặc tử Trường Chinh).
image
Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu sinh ngày 9/2/1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, qua đời năm 1988 tại Hà Nội.
Tiếp đó, theo Đèn Cù, là Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh. Bắc ghế ngồi trên thềm cao, y chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng dưới sân, gằn giọng: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”. Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

60 năm một tội ác kéo dài !!!

image
Cuộc trưng bày chuyên đề Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) 1946-1957 tại viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hà Nội từ hôm 08-09-2014 với gần 150 hiện vật, tư liệu gốc, tư liệu ảnh đã được hí hửng giới thiệu: “Đây là một hoạt động góp phần tuyên truyền, giáo dục cho đông đảo tầng lớp nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ nhận thức đúng hơn về cuộc cách mạng ruộng đất trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta những năm 1946-1957. Qua đó củng cố niềm tin, niềm tự hào về Đảng, Chính phủ và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay” (Thông báo của Bảo tàng). Trong ngày khai mạc, “Tiến sĩ” Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng còn hùng hồn phát biểu: “Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng dân chủ ‘long trời lở đất’, mang lại những giá trị to lớn của một xã hội mới, một chế độ mới, một cuộc sống mới cho người dân Việt Nam”.
image
Dĩ nhiên người dân Việt Nam và cả quốc tế, từ hơn 60 năm nay, đều biết đó là một biến cố trời long đất lở, thậm chí vào bậc nhất lịch sử dân tộc. Không trời long đất lở sao được khi có hơn 172 ngàn người (nói theo con số chính thức) bị gọi là “địa chủ” phải tan thây vì đạn bắn vỡ sọ, cày ủi đứt đầu, đùi đánh nát ngực, dây trói gãy cổ….; khi có gấp ba số người ấy (tính mỗi gia đình 4 nhân khẩu) chỉ vì là thân thuộc của “địa chủ” mà bị giam nhốt trong chuồng trâu, bị cấm ra chợ búa, bị khai trừ khỏi xã hội để rồi phải chết đói trong tức tưởi và uất hận. Không long trời lở đất sao được khi dưới sự che chở lẫn xúi giục của Bác và Đảng, từng đoàn từng đội cải cách tung hoành khắp nơi mọi chốn, quyền uy hơn cả Thượng Đế (“Nhất Đội nhì Trời”), tổ chức những phiên tòa không cần bằng chứng, chẳng thèm luật sư, cấm tự biện hộ, để vội vàng tuyên cáo tịch thu tài sản, tuyên bố bản án tử hình và thi hành bản án ngay tại chỗ! Không long trời lở đất sao được khi từng tốp “ông đội”, “bà đội” hoặc đi vào từng làng, đến các gia đình bần nông hay cố nông, “thăm nghèo, hỏi khổ” để khơi sâu thù hận, tiếp đó “bắt rễ, xâu chuỗi” để chiêu mộ bầy tố cáo, dạy cho chúng tập hài tội thật nhuần nhuyễn ngõ hầu khi hữu sự thì diễn ngon lành… hoặc đến chính những gia đình sắp thành nạn nhân, áp bức vợ tố chồng, bó buộc con tố cha, uổng ép tớ tố chủ, với trò lừa gạt “không chịu tố thì thân nhân sẽ bị tử hình”, nhưng dại dột tố xong thì đó là những bằng cớ rành rành để “đội cải cách” thi hành công lý: giết thể xác địa chủ và giết tâm hồn người thân của họ.
image
Thế nhưng, nhìn vào các hiện vật (y phục đồ đạc đắt tiền của địa chủ, nhà cửa áo xống tồi tàn của bần nông, hình ảnh nông dân thay trâu kéo cày, kẻ vô sản được đảng ban phát ruộng, gia đình nghèo đoàn tụ sau cuộc chia ly vì đi ở tớ…), người ta thấy chỉ là một trò tuyên truyền hoàn toàn bất chấp lịch sử, dù được trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Trước hết, một số khách am tường đồ cổ và quá khứ đã cho biết có rất nhiều hiện vật và hình ảnh phục dựng, giả tạo, sai thời (năm 1958 chưa có nồi gang, đũa nhựa và thìa phíp trắng; bát tô tận thời bao cấp sau 78 mới xuất hiện; ảnh ông bố cởi trần kéo thứ cày của thập niên 70…). Tất cả biểu lộ thói khinh thường công luận của những “chuyên gia” trình bày, nhất là thói gian trá vốn thâm căn cố đế nơi người cộng sản, cái thói được thản nhiên bày tỏ chẳng những trong ứng xử cuộc sống mà cả trong giáo khoa, sử sách, tư liệu. Thứ đến, cuộc triển lãm chỉ nói tới những cái gọi là “thành tựu” của CCRĐ (vốn không có hay nếu có thì toàn những thành tựu cho riêng đảng, như sẽ nói dưới đây) mà hoàn toàn lãng quên những sai lầm lớn lao, những tội ác tầy trời và những hậu quả bi thảm cho con người và xã hội. Điều này là sự cố ý, vì chính giám đốc bảo tàng có nói: “Không nhất thiết phải phơi bày sai lầm của lịch sử” rồi còn biện minh cho việc giết người cách trâng tráo vô liêm sỉ, cho đó là sự hy sinh cần thiết: “Có thể những phần trưng bày này sẽ không thỏa mãn được hết mong muốn của người dân, đặc biệt là những dòng họ, gia đình có liên quan đến CCRĐ. Thế nhưng cuộc cách mạng có thắng lợi thì bao giờ cũng có những tổn thất. Mà những tổn thất đó thì không thể đi sâu và đưa vào trong một phạm vi triển lãm nhỏ như thế này. Nếu đưa quá nhiều thì lấn át chủ đề chính là những thành tựu chúng ta đã đạt được trong CCRĐ.
image
Thôi thì cũng phải nói với họ (172.000 nạn nhân CCRĐ) rằng sự hi sinh của họ mang lại nhiều điều tích cực cho đất nước thời kỳ đó.” Đấy là thói bất phục thiện (không bao giờ nhận lỗi) hầu như luôn tìm thấy nơi người cộng sản, nhất là hàng ngũ lãnh đạo. Chính thái độ bao che tội ác, lấp liếm sự thật này (giữa lúc một tác phẩm vạch trần vô số điều xấu xa, độc dữ, tồi tệ của đảng, đặc biệt trong CCRĐ, vừa xuất hiện trên thị trường và mạng lưới là Đèn Cù của Trần Đĩnh) đã gây nên sự công phẫn nơi đồng bào VN từ trong ra tới ngoài nước. Rất nhiều tài liệu lịch sử, công trình nghiên cứu từ lâu hay nhiều bài viết mới về biến cố đau thương này, soi chiếu nó dưới mọi khía cạnh, đã được đưa ra hay tái đưa ra cho công luận, khiến người ta thấy cuộc triển lãm mang nét thứ ba là ngu đần, và thầm khen taythầy dùi xúi tổ chức cuộc triển lãm đúng là “thằng đểu”. Hay như lời một người dân Hà Nội: “Chúng nó hết khôn dồn ra dại hay sao mà lại đi chọc “c...” ra để ngửi với nhau như thế hở!” Khiến cho cuộc triển lãm dự trù kéo dài 3 tháng phải đóng cửa chỉ sau 3 ngày!
Nhưng chính nhờ trò “chọc”, màn đểu vắn vỏi này mà công luận có dịp nhìn lại những tác giả gây ra và kéo dài tội ác “Cải cách” đó.
Trước hết là Hồ Chí Minh, “kẻ tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng VN”. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần đọc bản cáo trạng “Địa chủ ác ghê” do chính tay y viết và đăng báo Nhân Dân ngày 21-07-1953 với bút hiệu CB (có lẽ là Của Bác) để kết án tử vị ân nhân số một của đảng, bà Nguyễn Thị Năm, người đầu tiên bị đem ra bắn để mở màn chiến dịch. Theo tác giả Bảo Giang trong bài “Cải cách hay đấu tố”, đó là “bản cáo trạng đẫm máu vô tiền khoáng hậu trong lịch sử… là sự kết tinh tổng hợp của tất cả những gian dối, bịa đặt và vu khống cộng lại. Nó đáng bị lên án. Bất hạnh thay, nó lại triển nở rực rỡ trong lòng đảng cộng sản. Nó trở thành kim chỉ nam, trở thành người hướng dẫn đầy sáng tạo để cho các đoàn đảng viên nhuần nhuyễn và thi hành. Nó trở thành khung, sườn cho mọi cuộc đấu tố. Dù ở bất cứ làng nào, xã thôn nào, huyện nào, tỉnh nào, mọi cuộc đấu đều phải rập khuôn theo đúng nội dung trong “địa chủ ác ghê” do HCM đề ra. Nó rập khuôn gian dối, bịa đặt, vu khống đến nỗi tất cả đều như một. Theo đó, nó không chỉ là một bản cáo trạng khởi đầu mùa đấu tố, đọc trước mặt nạn nhân Nguyễn Thị Năm, nhưng còn là một văn kiện khai mở ra nền tảng luân lý và đạo đức của chế độ cộng sản. Một chế độ phi nhân, sống dựa vào gian dối và tạo ra gian dối”, dựa vào bạo lực và tạo ra bạo lực. Chính vì thế, dân gian đã tặng cho Hồ câu đối để ghi khắc bia miệng ngàn năm: “Lở đất long trời cuộc phanh thây địa chủ, kìa đạo đức Nguyễn Ái Quốc Mác-Lê! Thần căm người hận màn đấu tố ân nhân, ấy tình thương Hồ Chí Minh Cộng sản!”.
image
Chính “tấm gương đạo đức Bác Hồ” đó -mà đảng viên, cán bộ và toàn dân bị buộc phải học tập từ đợt chiến dịch này tới đợt chiến dịch khác- đã đẻ ra đảng Cộng sản vốn cai trị đất nước từ 60 năm qua theo tinh thần và đường lối của Hồ. Trước hết là tinh thần độc tài toàn trị. Sử sách và chứng từ đã cho biết: đảng CS thực thi cuộc CCRĐ với ba mục tiêu. Mục tiêu chính trị là nắm toàn quyền trên xã hội. CCRĐ là một cách quét sạch những địa chủ, cường hào, nhân sĩ uy tín, những con người có mầm mống vươn lên ngoài vòng kiểm soát của đảng. Nghĩa là tất cả những gì mà cách mạng cho là đối nghịch, nguy hiểm trong tương lai và trong hiện tại. Quét sạch để xã hội trở nên một tờ giấy trơn, đảng muốn vẽ gì thì vẽ, trở nên một đàn cừu, đảng dẫn đi đâu thì đi. Mục tiêu kinh tế là tập trung đất đai tài nguyên vào tay đảng. Những người cày được chia ruộng (đảng khoác lác có gần 4 triệu nông dân lúc ấy được chia hơn 70 vạn hecta tịch thu từ địa chủ) chỉ vài năm sau là phải vào hợp tác xã, trả lại tất cả (ruộng, trâu, cày) cho nhà nước. Việc này nay được hiến định lẫn luật định rất rõ ràng: nhà nước là địa chủ duy nhất, sở hữu chủ toàn diện! Và cuối cùng là mục tiêu văn hóa. CCRĐ để phá vỡ cơ cấu thôn làng gia tộc, vốn là giềng mối của xã hội nông nghiệp ngàn năm, thay vào đó bằng đoàn đội sản xuất; ngoài ra, khi buộc con tố cha, vợ tố chồng, hàng xóm tố nhau, CCRĐ còn phá vỡ luân lý gia đình nói riêng và đạo đức xã hội nói chung, để đảng đưa ra một thứ đạo đức mới, đạo đức cách mạng, đạo đức bác Hồ, với nguyên tắc duy nhất: cứu cánh biện minh cho phương tiện. Bất cứ cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng, dù đó là gian dối, hận thù, đàn áp, dù đó là bóp méo sự thật, chà đạp công lý, tiêu diệt tình thương, thì đều là tốt là thiện cả!
image
Do đó và thứ đến là tinh thần “cách mạng tiến công”, nhiệt thành thực thi cuộc CCRĐ theo những quy tắc luân lý của riêng nó. Tiêu biểu là “đảng viên ưu tú” Trường Chinh đấu tố cha mẹ đến chết. Nhờ vậy y cũng được bia miệng ngàn năm khắc ghi câu đối tưởng niệm như thầy mình: “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng! Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu!”. (Đặng Khu chính là Đặng Xuân Khu, tên thật của thằng tặc tử). Tiếp đó, theo Đèn Cù, là Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh. Bắc ghế ngồi trên thềm cao, y chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chắp tay đứng dưới sân gằn giọng: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”. Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

image
Những đảng viên tiếp nối gương Hồ và những “học trò xuất sắc” của y nay càng nhan nhản. Dù ở trung ương hay ở địa phương, chúng đang kéo dài tội ác CCRĐ đó. Nay nó mang cái tên mới: Giải Phóng Mặt Bằng. Nó không chỉ nhắm vào ruộng đất mà cả nhà cửa, không chỉ nhắm vào nông dân mà cả thị dân. Không chỉ là nửa triệu nạn nhân trực tiếp mà cả chục triệu dân oan, sống vô gia cư, chết vô địa táng, khiếu kiện từ đời ông cha đến đời con cháu, bị hành hung, kết án, tống ngục. Bọn địa chủ tham lam, tàn bạo thế hệ mới này còn dự tính dâng cả đất nước cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc để chúng hưởng quyền lực và quyền lợi lâu dài. 
BBT._,_.___
Than chao,
Que Do 


Tương lai ra sao sau 40 năm thất bại?


Tương lai ra sao sau 40 năm thất bại?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-05-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
05042015-40ye-failur-wht-next.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Một thiếu nữ cầm cờ cộng sản sau khi tham dự một cuộc diễu hành quân sự được tổ chức vào 10 tháng 10, 2010 tại Hà Nội
Một thiếu nữ cầm cờ cộng sản sau khi tham dự một cuộc diễu hành quân sự được tổ chức vào 10 tháng 10, 2010 tại Hà Nội
AFP
Những ngày cuối tháng tư đã trôi qua, song những xúc cảm và suy nghĩ về những ngày này 40 năm trước vẫn còn tràn đầy các trang blog. Những hồi tưởng về thất bại, những lo lắng về hiện tại và tương lai.
40 năm thất bại
Tuần lễ cuối cùng của tháng Tư, các trang blog hầu như có cùng một chủ đề, đó là ngày 30/4 của 40 năm trước, ngày mà nhiều người cho rằng là một ngày định mệnh làm thay đổi số phận của cả dân tộc Việt vốn tồn tại cả ngàn năm.
Blogger nhạc sĩ Tuấn Khanh viết về những đồng nghiệp đàn anh của ông tại miền Nam trong thời khắc chuyển đổi đầy bi kịch đó:
Tháng 4/1975 là cột mốc thay đổi rất nhiều thứ của người miền Nam Việt Nam. Đối với giới âm nhạc, đó cũng là một giai đoạn đầy biến động nhưng ít được ghi lại,. Những biến động đó bao gồm ly tán, tuyệt vọng, cái chết và sự nhục nhằn của kiếp người từ một chế độ này, bước sang một chế độ khác.
40 năm sau cái ngày định mệnh đó việc bàn luận và tranh cãi nhau về nó lại dường như không giảm đi theo năm tháng. Nếu tuần trước ông Andre Menras viết bài giải thích thái độ của mình trong chiến tranh Việt nam, thì tuần này tác giả Trần Quí Cao viết trên Bauxite Việt nam để phản biện, để nhấn mạnh đến khía cạnh nội chiến của cuộc chiến ấy. Và tác giả kết luận rằng người dân Việt đã bị lợi dụng, và trong số những người dân ấy người ta nhìn thấy cả hình ảnh của tác giả qua lời văn của chính ông:
Anh Cương Quyết thân mến, cách đây hơn 40 năm, tôi từng căm phẫn như anh khi đọc những dòng đại loại: “Việt Nam bị các đại cường xâu xé để cướp đoạt tài nguyên”. Qua thực tế lịch sử, hiện nay tôi cũng căm phẫn, nhưng theo chiều khác: căm phẫn cái thế lực, cái dã tâm, lợi dụng lòng yêu nước của dân ta, đã đưa ra chiêu bài sai trái đó để dẫn dụ người Việt giết người Việt. Đa số dân chúng bị dẫn dụ non nớt đã đành, nhưng không thể không căm phẫn cái thế lực vì dã tâm thống trị độc tài mà đang tâm xô đẩy dân tộc vào vòng điêu linh tan nát!
Blogger Song Chi viết bài Sự dối trá kéo dài, trong đó bà liệt kê những thất bại triền mien 40 năm qua của những người những tưởng là chiến thắng vào những ngày này bốn thập kỷ trước. Đó là những người cộng sản đã Phản bội lại chính lý thuyết của mình, họ Thất bại trong hòa giải, nền văn hóa xã hội họ tạo ra cho đất nước cũng hoàn toàn thất bại.
Qua thực tế lịch sử, hiện nay tôi cũng căm phẫn, nhưng theo chiều khác: căm phẫn cái thế lực, cái dã tâm, lợi dụng lòng yêu nước của dân ta, đã đưa ra chiêu bài sai trái đó để dẫn dụ người Việt giết người Việt
Trần Quí Cao
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn nhìn lại những thất bại đó:
Chiến thắng gì khi mà xong cuộc chiến thì cả nước lâm vào cảnh khốn cùng, bị phía bên kia trừng phạt suốt 20 năm trời, và cuối cùng phải đi cầu cạnh chính cái kẻ mà mình đánh đuổi nó ra khỏi nước.
Hệ quả của cuộc chiến còn thê thảm hơn nữa. Nó đẩy đất nước vào nghèo đói triền miên. Cho đến nay vẫn còn nghèo. Cả triệu người bỏ nước ra đi bất chấp hiểm nguy. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có nhiều người bỏ nước ra đi như thế.
Một trong những thất bại lớn nhất của những người cộng sản chính là cuộc sống cơ cực của hàng triệu nông dân Việt nam đã không giảm đi mà còn tăng lên qua hình ảnh xung đột đất đai mà nhà báo Lê Phú Khải ghi nhận được trong thời gian làm việc tại vùng đồng bằng Cửu long. Điều trớ trêu ở đây lại nằm ở chổ lá cờ búa liềm của đảng cộng sản lại không cứu giúp được những người mà họ tự nhận mình là kẻ bảo vệ.
Một phụ nữ đứng bán cờ đảng ở TPHCM
Một phụ nữ đứng bán cờ đảng ở TPHCM. AFP
Trong số những người từng đứng dưới lá cờ búa liềm đó có nhà báo, blogger Nguyễn Vũ Bình, người từng làm việc cho Tạp chí cộng sản, cơ quan tuyển truyền ý thức hệ của những người cộng sản. Ông viết về ngày 30/4 năm nay, về những người tự cho là thắng cuộc:
Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm. Sau 30/4/75, đất nước sạch bóng quân thù, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội….một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 40 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản: Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán; đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng?
Chiến thắng gì khi mà xong cuộc chiến thì cả nước lâm vào cảnh khốn cùng, bị phía bên kia trừng phạt suốt 20 năm trời, và cuối cùng phải đi cầu cạnh chính cái kẻ mà mình đánh đuổi nó ra khỏi nước
GS Nguyễn Văn Tuấn
Một người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến là Đoan Trang tham gia cuộc biểu tình chống hủy hoại mội trường tại Hà nội vừa qua viết sau khi cô bị công an bắt giam vài giờ trong cuộc biểu tình hoàn toàn bất bạo động tại thủ đô:
Có lẽ nào chúng ta cứ để một thiểu số bất tài vô hạnh ra những quyết định mang tính chất phá hoại – mà không chỉ phá chúng ta, còn gây hại cho nhiều thế hệ sau này nữa? Điều đáng sợ nhất là, khi lầm lỗi, khi làm sai, khi phạm tội ác mà không phải chịu trách nhiệm gì, kẻ sai, kẻ ác sẽ không có lý do gì để dừng lại.
Phải chăng lời phát biểu của Đoan Trang trong những ngày tháng tư nóng bỏng này chính là lời tổng kết 40 năm thất bại.
Một tương lai không rõ ràng
Khi Quí thính giả lắng nghe bài điểm blog này thì cuộc diễu hành hoành tráng kỷ niệm ngày chiến thắng của những người cộng sản đã chấm dứt. Người ta nói nhiều về những thất bại của họ, người ta cũng đàm tiếu những hình ảnh phô trương của ngày diễu binh. Rồi tất cả cũng qua đí, câu hỏi lớn nhất được đặt ra là sắp tới là cái gì? Cái gì sẽ chờ đón dân tộc này? Những người cộng sản sẽ tiếp tục cầm quyền và ca ngợi chiến thắng của họ hàng năm? Và cũng hàng năm người ta lại thấy những quan chức nước láng giềng Trung quốc tung ra những lời hữu hảo nhưng đầy nghi ngại trong con mắt người dân Việt? Và họ lại tiếp tục gọi nước Mỹ ngày nay là Đế quốc? Gọi những người mạo hiểm tính mạng tìm tự do là lầm đường lạc lối như lời ông chủ tịch Mặt Trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân?
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn viết:
Tôi không biết giới chính quyền Mĩ  họ nghĩ gì khi đọc bài của ông tổng Trọng. Nhưng chắc chắn họ đã đọc, và chắc chắn họ không vui. Họ cũng là người, có tình cảm vui buồn như chúng ta, thì làm sao họ vui cho được khi người họ mời sắp ghé thăm lại nhắc đến những quá khứ không đẹp – không đẹp cả hai bên. Họ thừa hiểu rằng Việt Nam chỉ dám chửi họ thôi, chứ Việt Nam không dám hó hé gì với Tàu cộng. Kể cũng lạ: chửi kẻ đang giúp mình, nhưng lại im lặng với kẻ đang hãm hại mình từng ngày! Thật không hiểu đạo lí và logic đằng sau là gì cho thái độ đó. Chỉ dám chửi kẻ ở xa, chứ không dám hó hé với kẻ sát nách nhà. Và, hiểu như thế thì người Mĩ sẽ mỉm cười.
Trong quan hệ giữa Mỹ và Trung quốc, trên thế trận mới của bàn cờ địa chính trị thế giới, còn vài tuần nữa ông Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng lên đường sang thăm Hoa kỳ.
Có lẽ nào chúng ta cứ để một thiểu số bất tài vô hạnh ra những quyết định mang tính chất phá hoại – mà không chỉ phá chúng ta, còn gây hại cho nhiều thế hệ sau này nữa? Điều đáng sợ nhất là, khi lầm lỗi, khi làm sai, khi phạm tội ác mà không phải chịu trách nhiệm gì
Đoan Trang
42 nhân sĩ trí thức Việt nam cùng viết kiến nghị với ông:
Chúng ta không cần và cũng không nhằm liên minh với một nước để chống lại nước thứ ba, song lại rất cần liên minh với ai có thể giúp chúng ta thêm sức mạnh chống lại kẻ cướp đang xông vào nhà mình. Chúng ta đã có bài học về các nước lớn vì lợi ích riêng của họ, biến nước nhỏ thành con tốt trên bàn cờ chính trị, để quyết giữ vững bản lĩnh của một dân tộc không chịu khuất phục trước mọi áp lực. Nhưng phải sòng phẳng nói rằng: lúc này đây thực lực của Mỹ đang là một sức mạnh giúp chúng ta giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc ta trên biển cũng như trên đất liền.
Ngay trước ngày kỷ niệm 30 tháng tư, một hội thảo được tổ chức tại Hà nội với sự tham dự của nhiều nhà quan sát quốc tế, một trong những nhà quan sát đó là Giáo sư Jonathan London, đồng thời cũng là cây bút quan thuộc của trang điểm blog này cũng có tham dự. Ông viết bài Giải phóng:
Điều gì ở phía trước cho nước 94 triệu dân này vẫn chưa rõ ràng. Điều rõ ràng là cả nước đã đi một chặng đường rất dài trong 40 năm qua, mặc dù có lẽ không đủ dài để tự tin nói rằng họ đã hoàn toàn đối diện với quá khứ của mình.
Xã hội dân chủ là một con đường hứa hẹn nhất cho Việt nam và tiệm cận nhất với nguyện vọng và ý chí của nhân dân Việt nam. Liệu xã hội dân chủ có thể được hình thành ở một quốc gia đang phát triển? Những người bảo thủ sẽ nói không cho đến khi nào có người trả lời không với họ. Những gì mà Việt nam sẽ đạt được trong những thập kỷ tới sẽ phần lớn là kết quả của các quyết định chính trị của chính người Việt nam trong và ngoài Đảng. Nếu các quyết định được đưa ra càng mang tính dân chủ, minh bạch và công khai tôi sẽ càng lạc quan về tương lai chính trị, xã hội và kinh tế của Việt nam.
Những mầm mống của phong trào dân chủ trên thực tế đã hình thành ở Việt nam, nhưng sự thành công của họ dường như vẫn còn xa vời theo như blogger Kami nhận định trong một bài viết mà ông so sánh với phong trào đối lập tại Cuba vừa bị thất bại:
Giả sử bây giờ nhà nước Việt nam bất ngờ tuyên bố bỏ điều 4 Hiến pháp, cho tổ chức bầu cử tự do, đa đảng trong một thời gian gấp rút tương tự như Cu ba, thì có lẽ phong trào dân chủ ở Việt nam khó mà tránh được vết xe đổ tương tự như vừa xảy ra ở Cu ba ngày Chủ Nhật 19/4 vừa qua. Nghĩa là hầu hết các ứng viên dân chủ sẽ khó mà có cơ hội đắc cử, nếu như họ và các tổ chức của họ không có một sự chuẩn bị sẵn sàng về các bước cần thiết để tranh thủ sự ủng hộ của cử tri ngay từ bây giờ.
Đó là nói về tương lai, còn hiện tại đứng giữa những ngày tháng tư này, đứng giữa những cuộc tranh luận và cải vã, một cây bút giấu tên viết trên trang Viet-Studies:
Các thế hệ sẽ dần qua đi, để không còn có ai đáng cho ai ngạo nghễ về chiến thắng, không còn có ai đáng cho ai hận thù vì tội ác đã gây ra.
Chúng tôi xin mượn ý này để kết thúc bài điểm blog hôm nay!

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Chuyển tiếp đến các người Việt Nam trên thế giới , xin mời đọc :



         
  Chuyển tiếp đến các người Việt Nam trên thế giới , xin mời đọc :

Tôi là Huỳnh Ngọc Thiên Trường, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1981.
Hiện tôi sống và làm việc tại TP.HCM. Trước đây, vào năm 2004, tôi từng tốt nghiệp cao đẳng trường Đại học Công nghiệp TP.HCM. Năm 2006,tôi bắt đầu sự nghiệp từ vị trí công việc của một nhân viên chăm sóc khách hàng cho Viettel,rồi sau đó là phụ trách công việc chào mừng khách hàng mới bằng việcWelcome Letter, hỗ trợ Manager quản lý công việc của Tổng đài tại Teleperformance – TP.HCM. 

Từ năm 2007, tôi là phó phòng nhân sự của Công ty cổ phần Truyền thông Kim Cương. Hiện tôi đang kinh doanh bất động sản tại Phúc Đức Group, đồng thời chuyên bán điện thoại di động và dụng cụ công nghệ nói chung. 

Hôm nay, tôi xin chia sẻ những suy nghĩ thật lòng của mình trước thực tế xã hội mà các bạn đang sống: 
Thưa Quý Thân hửu! Tuổi trẻ trong nước dám nhận xét và đưa lên sự thật XHCN như vậy, thì tà quyền cộng sản còn kéo dài được bao lâu nữa!!!

Là người Việt Nam, bạn có suy nghĩ gì về hiện tình đất nước? Tôi thuộc thế hệ sinh ra sau chiến tranh, lòng tôi thật sự biết ơn vì sự hy sinh của những thế hệ cha anh đi trước, cho tôi có cuộc sống hòa bình ngày hôm nay. Tôi cảm phục lý tưởng độc lập dân tộc mà các thế hệ cha anh đã chiến đấu để giành được, nhưng tôi cũng rất đau xót khi thấy những lý tưởng ấy đang bị chính quyền ngày hôm nay phản bội. 

Đất nước ta đã thống nhất gần 40 năm, vậy mà đến nay nền kinh tế vẫn nghèo nàn, lạc hậu; đời sống của từng người, từng nhà đang đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất; đời sống xã hội bất ổn, suy thoái đạo đức, rồi tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, thực phẩm giả, độc hại của Trung cộng gây bệnh ung thư làm số lượng người chết trong nước hằng năm cao nhất thế giới… 
Dịp Tết đến xuân về, xã hội càng bất ổn với nạn trộm cướp, hỏa hoạn, nghèo đói, tai nạn giao thông…
Chỉ cần mở truyền hình ra xem, các bạn sẽ thấy những vụ án tham nhũng, quan chức tha hóa, biến chất, công an đánh người,… Và còn biết bao thực tế chua chát đang bị báo chí của nhà nước bưng bít đưa tin, che đậy hoặc định hướng theo kiểu “ngu dân” để dễ bề cai trị? 
Thử hỏi có xã hội nào “tươi đẹp” như xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng không? Thật đáng mỉa mai! 

Thực trạng xã hội đầy đau xót đó có nguyên nhân từ đâu? Có phải do chúng ta không có trí tuệ, do chúng ta lười biếng, hay do chúng ta không có ý chí vươn lên? Hay là do nước ta thiếu tài nguyên, hay do chúng ta không được bạn bè quốc tế ủng hộ, giúp đỡ chúng ta phát triển? Không phải! 

Chúng ta có trí tuệ, có sức khỏe, có tuổi trẻ, hoài bão, nhưng dù bạn có cố gắng học hành và làm việc cật lực thế nào thì bạn cũng không bao giờ thoát khỏi thân phận đói nghèo nhục nhã, vì số tiền thuế mà các bạn phải> đóng quá nhiều, vì nền kinh tế này đang được điều hành bởi những kẻ tham lam, dốt nát. 

Bạn có biết rằng, mỗi năm Việt Nam được nhận biết bao tiền viện trợ của quốc tế, rất nhiều dự án do nước ngoài tài trợ,… nhưng những khoản tiền khổng lồ này đều rơi vào túi tham vô đáy của bọn quan chức tham nhũng. (Ngay cả tôi là người làm kinh doanh trong những năm qua, tôi không ngạc nhiên gì về những thủ đoạn ăn bẩn của các cơ quan nhà nước và nhất là bọn công an phường Tân Quý, CA quận Tân Phú và CA quận 3, chưa kể cả CA quận 1, CA TP.HCM!). 

Chắc các bạn cũng đã nhận thấy rõ, cho đến nay thì cả Đảng cs Việt Nam và Nhà nước CHXHCNVN hiện nay đã hiện nguyên hình là một bọn cướp. Dân oan khắp nơi cùng quẫn đành đổ về Hà Nội và
TP.HCM biểu tình, vì bản thân và gia đình họ bị cướp trắng hết đất đai, nhà cửa, nhưng tất cả hành động biểu tình ôn hòa của họđều bị đám công an côn đồ đàn áp thẳng tay. Người dân làm lụng lam lũ cực khổ để đóng thuế nuôi bọn công an, để rồi đến lượt chúng ra tay giết chính chúng ta một cách tàn nhẫn, dã man như vậy hay sao? 

Trong hoàn cảnh đó,chỉ có một cách để vươn lên, đó là tuổi trẻ của chúng ta phải dũng cảm đấu tranh, đòi đa nguyên, đa đảng, thực hiện dân chủ hóa xã hội, thì mới hy vọng có một tương lai mới, một mùa Xuân mới đúng nghĩa cho cả dân tộc. 
Bản thân tôi rất xúc động với Cuộc biểu tình ngày 01 tháng 01 năm 2014 tại Sài Gòn. Bất chấp đàn áp, cuộc biểu tình đúng vào ngày đầu năm mới tại Sài Gòn như một tiếng pháo nổ vang trời báo hiệu một năm đầy sôi động và nhiều biến cố đối với cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho toàn dân Việt Nam. 

Đừng thụ động chờ đợi các thế hệ cha anh tiếp tục đấu tranh cho chúng ta nữa! Họ đã phải hy sinh, mất mát quá nhiều rồi! Giờ đến lượt tuổi trẻ của chúng ta phải gánh vác trách nhiệm trước dân tộc, trước tương lai của chính chúng ta và các thếhệ con em chúng ta! 
Cuối cùng, mong các bạn hãy cùng nhau phổ biến thông điệp này trên các phương tiện truyền thông, facebook và các mạng xã hội. Hãy gửi luôn cho các đồng chí công an mà các bạn biết, hy vọng thông điệp của chúng ta có thể cảm hóa được họ, từ đó dần đưa đất nước thoát khỏi chế độ độc tài công an trị, vững bước đi lên! 

Tôi công khai tên tuổi, địa chỉ, vì tôi không hèn, không sợ! Tại sao các bạn lại sợ? 
Có gì chưa rõ, xin các bạn liên lạc: 

Huỳnh Ngọc Thiên Trường 
0979 22 02 12 hoặc (08)
2200 2243 
huynhtruong@phucduc.com.vn hoặ 
cthientruong0808@gmail.com 
20/13 Tân Quý , P.Tân Quý, quận Tân Phú, TP.HCM 

Hoặc địa chỉ công ty Phúc Đức
Group của tôi: 240 Võ Văn Tần, phường 5 
, quận 3, TP.HCM 
phucduc.batdongsan@gmail.com

TUỔI TRẺ VN HÃY ĐOÀN KẾT LẠI ĐỂ ĐẤU TRANH VỚI
BẠO QUYỀN CỘNG SẢN!






Like • Comment • Share

__._,_.___
________________________________________
Posted by: HungViet Bui

Tuesday, May 5, 2015

Tôi đi thăm chồng "cải tạo"

 

Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. […]Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. […] Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đày

http://www.radiochantroimoi.com/wp-content/uploads/2015/04/VuQuangHien-300x225-2.jpg

Tiến sĩ Vũ Quang Hiển, phó giáo sư, sử gia của Đại học Quốc gia Hà Nội .

 

Tôi đi thăm chồng "cải tạo"

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là "các ông cải tạo" như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là "tấm bằng tù cải tạo" của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định….
Minh Hòa -Virginia
2015-04-29
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
DSC_0157-001-va-2012-600.jpg
Tác giả Minh Hòa chụp tại Virginia năm 2012
Ảnh do tác giả gửi RFA

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm.  Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. 

Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về.  Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…
Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.

Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.
Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.

Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. .. Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi "phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm"… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.
IMG_0021s-1971-dalat-400.jpg
Tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng năm 1971 tại Dalat.

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…
Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. 

Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.

Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. .. Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa. Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…
Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, "Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm Tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà" Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…
Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế...

Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505.  Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, "bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong." Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chêt có nhau...

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …

Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi.  Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết.  Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về... Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.

Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là "tấm bằng tù cải tạo" của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…. Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ ... Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay … nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ.  Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….

Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.
Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay . Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.

Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???
Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột.  Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an.  Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. 

Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con  đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của Thầy Mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
-  Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.
Tôi cúi mặt giận dỗi:
-  Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …
Tôi lại khóc, hai tay nắm
diane-n-family
'Bé Dung' với chồng và hai con, 08-2014

chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:
-  Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!
Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:
-  Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.
Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục.  Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:
-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…
Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc . Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.
Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…
Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. 

Các chị bạn cũng chẳng hơn gì . Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. 

Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.

Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. 

Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà "vợ tù cải tạo" gọi là… Hotel California.
Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là "các ông cải tạo" như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.
family-pic
'Cu Bi' và cha mẹ, ngày cưới vợ, 04-2009

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:
-  Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ … Hà hà..
Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link