Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Thursday, May 21, 2015

BÀN CHUYỆN RỜI BỎ ĐẢNG


    Trích Tạp Chí Cách Mạng Số 72 của Đại Việt Cách Mạng Đảng

BÀN CHUYỆN RỜI BỎ ĐẢNG

NGUYỄN MINH CẦN

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại ĐCSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bỗng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.

Thiết nghĩ có mấy điều đáng suy nghĩ sau đây:

Điều thứ nhất. Có thể nói không ngoa là rất hiếm có một đảng chính trị nào giống như ĐCSVN, coi khinh mạng con người hết sức rẻ rúng. Xin các bạn cứ ngẫm mà xem! Đọc các chuyện kể của những nhân vật đã từng ở trong ĐCS hay những người đã từng bị ĐCS đày đọa, rồi nhìn kỹ vào thực tế,  thì thấy rằng, quả là ĐCSVN “giết người như ngóe”. Ai chống Đảng – Đảng diệt! Ai chưa chống Đảng, mà Đảng nghĩ là người đó có thể có ngày sẽ chống Đảng – Đảng cũng diệt! Những người có quan điểm khác với Đảng – nhất là người thuộc các đảng yêu nước không cộng sản – thì Đảng cho “đi mò tôm”, tức là bỏ rọ trôi sông. Ai bị Đảng nghi, ngay cả đối với đảng viên của đảng – chẳng cần chứng cớ gì hết, chẳng cần điều tra gì hết – Đảng “thịt”. Người nơi khác lơ ngơ đi lạc vào A-Tê-Ka (ATK, an toàn khu) của Đảng – Đảng “thịt” ngay, để giữ bí mật của Đảng. Người cảm tình với Đảng từ nơi xa  lần mò tìm đến ATK của Đảng mà không có ai trong ATK chứng nhận – Đảng cũng “thịt”. Thậm chí, trong kháng chiến, người dân có mang vật gì trong người, chẳng hạn, chiếc khăn lau mặt, có ba màu: xanh, trắng, đỏ, Đảng nghi là gián điệp – Đảng “thủ tiêu”.

 Đã có biết bao nhiêu mạng người đã bỏ xác vì những lý do vớ vẩn như thế! Mà chỉ cần một cái hất đầu, một cái nháy mắt, một ngón tay đưa lên… của cán bộ thôi, chứ không cần phải có bất kỳ giấy tờ, quyết định, chữ ký lôi thôi gì cả - thế là một, hai hay nhiều mạng người  “đi toong”! Chính cái đầu óc “coi mạng người như ngóe” đó, mà Đảng nhất quyết bác bỏ “nhân tính”, chỉ thừa nhận “giai cấp tính”, mà nghĩ cho cùng có khi đó lại là “thú tính”. Xin hãy nghĩ mà xem: cái lối giết người bị quy là “địa  chủ” trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), như chôn sống, hay chôn người đến cổ rồi cho trâu bừa qua nhiều lần cho đến chết, giam người ở chuồng trâu rồi bỏ đói cho chết; cái lối giết người Hoa trong chuyến ĐCSVN đuổi trên 300 nghìn người Hoa về nước, có nơi đã thu vàng bạc của người ta rồi, cho lên tàu xua về nước lại còn cho tàu đuổi theo xả súng giết chết hết hay đục thuyền cho đắm… đến nỗi xác người nằm san sát nhau lềnh bềnh trên sông như củi rều vậy. Như thế gọi là gì? “Giai cấp tính” ư? Rõ ràng là “thú tính”! Và cái lối tàn sát dân lành kiểu này có khác gì lối giết người của bọn phát-xít? Và như vậy, ĐCSVN có khác gì bọn khủng bố quốc tế thuộc các giáo phái cực đoan ngày nay?

Thế nhưng, hễ ai – các nhà trí thức, các đảng viên của Đảng – dám đề cao “nhân tính” thì Đảng liền phê cho là “mất lập trường”, là tư tưởng xét lại, là quan điểm tư sản, phản động, là không có “đảng tính”. Chính vì thế mới xảy biết bao nhiêu vụ oan khiên suốt trong 85 năm tồn tại của ĐCSVN. Nào là các vụ giết hàng trăm lãnh tụ và đảng viên các đảng yêu nước không cộng sản, như Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Đại Việt, v.v… những năm sau khi ĐCS cướp được chính quyền, để không còn ai có thể cạnh tranh quyền lực với Đảng nữa. Ngay cả đối với những người yêu nước cùng ý hệ với Đảng, nhưng khác về đường lối, như những người trotskistes Việt Nam đã từng một thời hợp tác tốt đẹp với những người CS ở miền Nam, ĐCSVN cũng không tha – phải giết hết! Vì sao? Vì hồi 1937-38, Nguyễn Ái Quốc từng hùa theo Stalin, lu loa chửi bới thậm tệ những người trotskistes là “một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát-xít Nhật và chủ nghĩa phát-xít quốc tế”, “đàn chó trotskistes”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”, v.v… 

Những câu, chữ này còn nằm trong ba bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi cho Trung ương (TƯ) Đảng (xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr.97-100). Cho nên những ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v… (hồi năm 1945-46), Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (hồi năm 1948) đã bị sát hại thê thảm! Ngay cả những đảng viên CSVN bị nghi ngờ, dù chẳng có chứng cớ gì hết cũng bị giết hại dễ như bỡn: như vụ giết oan mười mấy đảng viên CSVN người Hoa đã từng bị tù đày vì đấu tranh cách mạng Việt Nam (do Lý Ban “chỉ điểm”) và vụ giết oan mấy chục đảng viên CS người Việt (trong vụ H122 do Hoàng Quốc Việt phụ trách). 

Đó là chưa kể đến các vụ bắt bớ, đày đọa trong trại tù hàng chục nghìn người đã từng làm việc dưới chế độ cũ thời Pháp (có nhiều khi chẳng làm việc gì cho chế độ cũ, như các linh mục, các chánh trương, trùm đạo, các nhà sư Phật giáo…) sau khi ĐCS tiếp nhận miền Bắc (theo nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước VNDCCH do Chủ tịch Trường Chinh ký ngày 20.6.1961), còn sau 30 tháng Tư năm 1975 là vụ đánh lừa gọi đi học ngắn ngày để bắt giam và đày đọa mấy chục năm ròng trong các trại tù trên hai trăm nghìn người đã từng phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa (do lệnh gọi đi học của Ủy ban Quân quản). Trong cả hai vụ đó đã có hàng nhiều chục nghìn  người phải bỏ xác trong các trại tập trung kiểu phát-xít, mệnh danh là “trại cải tạo”.  Đó là chưa kể đến các vụ thảm sát chừng bốn nghìn người thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968, vụ bắn trọng pháo ngay trên đường người dân lành chạy lánh nạn ở Quảng Nam – Đà Nẵng hồi 1975… Chính vì phủ nhận “nhân tính”, nên trong kháng chiến đã từng xảy nhiều vụ tung lựu đạn vào xe đò hay đặt bom mìn trên đường ray để nổ tung các đoàn tàu chợ (chở hành khách) giết hại thường dân “vùng địch”.

Đặc biệt cần nói đến vụ cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc trong những năm 1953-1956 đã tàn sát  vô cùng man rợ trên 172 nghìn người dân vô tội, thậm chí giết cả những người đã từng ủng hộ tiền, vàng, thóc gạo, quần áo cho Đảng, đã từng che giấu, nuôi nấng cán bộ của Đảng và quân kháng chiến trong thời kỳ khó khăn nhất. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên của Đảng từng chiến đấu cho Đảng đã bị vu oan và hành quyết trong CCRĐ. Tài liệu chính thức của ĐCS đã phải  thừa nhận là trong số 172 nghìn người bị giết trong CCRĐ thì 70% là những người bị oan! Đây thực sự là một tội diệt chủng, một tội ác đối với nhân loại, một tội ác tày trời đối với Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Tự cổ chí kim chưa từng xảy ra một tội ác như vậy trên Đất nước Việt Nam này! Tội ác đó không thể nào tha thứ được! Thế mà Hồ Chí Minh và Trường Chinh, những kẻ đã gây nên tội ác đó, vẫn ngụy biện tuyên bố “dù CCRĐ có sai lầm, nhưng thắng lợi vẫn là căn bản”.

Vẫn chưa hết, cuộc phiêu lưu của nhóm cầm quyền thân Mao là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước, đã phát động cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, vô cùng tàn khốc trên mười mấy năm trời đã làm cho trên sáu triệu người dân Việt Nam phải bỏ mạng, đem đến cho cả hai miền biết bao đau thương, tang tóc, biết bao thiệt hại về nhân mạng, về của cải vật chất, về tinh thần, đạo đức và tình cảm. Đã thế, Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn, một trong những kẻ khởi xướng cuộc nội chiến, cuối cùng lại nói: "Chúng ta chiến đấu là để cho Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa". Một câu nói hết sức phũ phàng đối với biết bao hy sinh xương máu của nhân dân Việt Nam!

Việc phát động chiến tranh chứng tỏ nhóm chóp bu ĐCS thân Mao hồi đó coi thường sinh mạng người dân của cả hai miền, coi thường sinh mạng của hàng triệu binh lính, thanh niên xung phong và dân công. Thế nhưng, khi một số cán bộ – mấy ủy viên TƯ Đảng, nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp, một số sĩ quan trong quân đội, gồm mấy vị tướng, nhiều sĩ quan cấp tá, ở trong nước và ngoài nước đã phản đối chiến tranh, phản đối đường lối thân Mao của bọn chóp bu CS, thì họ bị quy là “phần tử xét lại chống Đảng”, bị vu khống “làm gián điệp cho nước ngoài” và bị đàn áp ác liệt, bị tù ngục nhiều năm, thậm chí có những cán bộ đã bị chết trong tù.

Chính việc ĐCSVN phủ nhận “nhân tính” đã đem lại hậu quả nguy hại rất nghiêm trọng cho đạo đức xã hội, là ngày nay trong dân gian, người dân học đòi Đảng cũng coi thường tính mạng con người: cái thói độc ác ngày càng phổ biến, chỉ vì một việc cỏn con thôi, người ta sẵn sàng chém giết nhau. Một nhà báo trong nước đã phải kêu lên: “Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.”

Điều thứ hai. Từ khi ra đời cho đến nay, 85 năm ròng rã, ĐCSVN đã tỏ rõ là một đảng vô cùng gian dối, thường xuyên dối trá, lừa gạt, chẳng những đối với địch, mà cả đối với dân, cả đối với đảng viên của Đảng. Đảng luôn luôn nói dối trắng trợn, nói một đằng, làm một nẻo. Thí dụ thì nhiều vô kể. Chỉ xin đưa ra vài chuyện thôi. Cú lừa gạt đau đớn nhất là đối với “bạn đồng minh gần gũi, thân cận nhất” của Đảng (tầng lớp nông dân) là khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Khi cần lôi kéo nông dân theo Đảng làm cách mạng, ĐCS tung ra khẩu hiệu đó lên, ra rả quanh năm suốt tháng; khi làm CCRĐ, ĐCS vẫn còn hò hét cái khẩu hiệu đó. Nhưng, khi CCRĐ vừa xong, nông dân chưa kịp thụ hưởng gì trên mảnh đất mới được chia, thì ĐCS đã vội lùa họ vào cái gọi là hợp tác xã bậc thấp, rồi nhanh chóng đưa lên bậc cao, lấy ruộng của nông dân cho ban quản trị, thực tế là ĐCS, quản lý; biến nông dân từ người chủ ruộng thành người “làm công ăn điểm” để rồi “Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe/Mỗi người làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân”, v.v… 

Vẫn chưa hết, đến năm 1980, sau khi ĐCS đã nắm quyền trên cả nước, Đảng liền thảo Hiến pháp (HP) của cái gọi là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), đưa ra điều 19 HP chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Tuyên bổ đất đai là “sở hữu toàn dân”, có nghĩa là ĐCS đã “quốc hữu hóa” đất đai, hay nói chính xác hơn “đảng hữu  hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước.

Từ đây,  ĐCS thực tế đã tự biến mình thành một tên siêu đại địa chủ. Đến những lần sửa đổi HP 1992 và HP 2013, điều khoản về đất đai vẫn giữ nguyên nội dung giống như HP 1980,  tức là tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, nhất là nông dân. Từ nay, nông dân chỉ được Nhà nước chuyên chính vô sản cho quyền sử dụng. Khi nào cần thì Nhà nước chuyên chính sẽ cưỡng chế tước đoạt lại! Và cái lối “quốc hữu hóa”, nói đúng hơn là “đảng hữu hóa” này chỉ có lợi cho đám quan lại CS cầm quyền ở các địa phương. Bọn này tha hồ áp bức nông dân, cưỡng chế cướp đoạt ruộng đất của nông dân, tự biến chúng thành những địa chủ mới, những cường hào đỏ, biến nông dân thành hàng triệu “dân oan” khốn khổ, hàng chục năm trời đi khiếu kiện khắp các cửa quan một cách vô vọng, chịu biết bao tủi nhục, bị đánh đập, thậm chí bị giết thê thảm. Đấy, sự lừa gạt bỉ ổi, khủng khiếp nhất đối với nông dân là như vậy. Cái vết thương đau đớn này trên cơ thể Dân tộc vẫn còn rướm máu mãi.

Một sự lừa gạt trắng trợn nữa là sau khi phát động cuộc nội chiến dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, để kích động người dân tham gia cuộc chiến, những kẻ gây chiến phải ra sức nói dối, ra sức lừa gạt, nào là người dân ở miền Nam dưới ách Mỹ Diệm bị khốn khổ vô cùng, nào là chế độ miền Nam độc tài, gia đình trị ghê gớm, người dân không có chút tự do, xã hội thối nát, sa đọa, người ta còn dựng lên biết bao chuyện bẩn thỉu, như tổng thống Diệm ngủ cả với em dâu, vợ Ngô Đình Nhu, v.v... và v.v… Ngày nay, sự thật như thế nào thì chắc mọi người đã thấy rõ. Ngay trong ngày đầu tiên khi quân miền Bắc mới vào Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương, lúc bấy giờ là thanh niên xung phong, thấy và hiểu được Sự Thật, và chị đã ngồi bên vệ đường khóc ròng!

Còn biết bao chuyện lừa dối, phỉnh gạt khác nữa không thể kể hết. Nào là “Nhà nước công nông”, “nông” thì đã rõ như cái thí dụ vừa kể trên, còn “công” thì đồng lương mà “Nhà nước công nông” trả cho công nhân, viên chức là “đồng lương bóc lột”, “đồng lương chết đói”, thực tế chỉ đủ ăn trong mười ngày. Nào là “chuyên chính vô sản”, thực tế có anh vô sản nào được xơ múi gì ở cái “chuyên chính” đó, chung quy chỉ là một lũ quan tham lại nhũng tham quyền cố vị, thậm chí những tay hoạn lợn, cai cao su, lưu manh đường phố… khoác cái áo “vô sản lưu manh” (từ ngữ của ông Marx) chễm chệ ngồi trong Bộ Chính trị (BCT), làm TBT  ĐCSVN, làm Chủ tịch nước, làm bộ trưởng công an để nắm chặt “chuyên chính” mà đè đầu cưỡi cổ “thằng dân”. 

Nào là “dân làm chủ, cán bộ là đày tớ của dân” – điều này chẳng cần bình luận gì nữa, dân ta đã chế nhạo quá nhiều rồi. Nào là những hứa hẹn huy hoàng trong “Chương trình Việt Minh”: xóa bỏ mọi thứ thuế, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, dân chủ, tự do, hạnh phúc,… nhưng khi ĐCS nắm chính quyền rồi thì tất cả những thứ đó chỉ là những lời nói suông. Nhà báo Trần Đĩnh kể về “nghệ thuật” lừa đảo siêu đẳng của ủy viên BCT Tố Hữu trong việc mua ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản ở Hà Nội đã từng quyên góp nhiều vàng và nhà cửa cho ĐCS. Bà còn lại một ngôi nhà, Ban tuyên huấn TƯ muốn mua; người ta đặt giá thì chê đắt không mua. Đùng một hôm, xe tuyên huấn chở mấy bao tiền đến, đắt mấy cũng mua. Ba ngày sau, đổi tiền! Trần Đĩnh nhận xét rất hay: “Tố Hữu, nguyên Trưởng ban tuyên huấn TƯ đã hạ thời cơ tuyệt hảo chấm dứt cơ nghiệp đại gia tư sản Lợi Quyền có tiếng ở Hà Nội. Bằng giấy lộn. Ai cứ bảo nhà thơ trên gió trên mây.”

Việc ĐCSVN cho công an lập ra những tổ chức “kháng chiến” cuội, “phục quốc” cuội để đánh lừa thanh niên yêu nước ở miền Nam, làm cho hàng nghìn người mắc bẫy để tống họ vào tù. Đó cũng là một tội ác kinh tởm.
Trên đây là những chuyện đối nội, còn về đối ngoại thì không thiếu chuyện ĐCSVN gian dối, lừa gạt trắng trợn dư luận thế giới. Chuyện ông Hồ Chí Minh sang Pháp nói dối như thế nào, nhiều người đã biết. Chẳng hạn, có tờ bảo hỏi thẳng: ông có phải là cộng sản không? 

Ông Hồ chối đây đẩy: không. Trả lời câu hỏi của báo Journal de Genève, ông tuyên bố như đinh đóng cột: “Các bạn của chúng tôi không nên lo chủ nghĩa mác-xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”. Trên báo Le pays ông cũng đã nói: “Những lý thuyết mác-xít không thể áp dụng ở nước chúng tôi được”. Còn trong cuộc phỏng vấn ngày 25.6.1946, trả lời đảng viên Xã hội Pháp Daniel Guérin hỏi về cái chết của Tạ Thu Thâu, ông Hồ đã nói như sau: “Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés”, tạm dịch: “(Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”. Ông Hồ giả dối làm ra vẻ đau buồn về cái chết của nhà ái quốc Tạ Thu Thâu, trong lúc đó chính ông ta biết quá rõ ai là người ra lệnh giết ông Thâu, và chắc chắn ông ta cũng không thể quên ba bức thư ông gửi cho TƯ những năm 1937–38 chửi bới thâm tệ những người Trotskistes.

Việc ĐCSVN vi phạm Hiệp định Genève 1954, để lại vũ khí, cài lại cán bộ ở trong Nam, vi phạm Hiệp định ngừng bắn năm 1973, hay là những vi phạm thường xuyên các Công ước quốc tế về nhân quyền, về chống tra tấn, v.v. và v.v… càng nổi bật sự gian trá quen thuộc của tập đoàn cầm quyền ĐCSVN. Có thể họ biện bạch rằng đứng trên lập trường vô sản, đánh lừa quốc tế, tức là đánh lừa bọn đế quốc, là đúng đường lối giai cấp và chỉ có lợi cho ta thôi. Họ không hề nghĩ rằng làm như thế là có hại cho quốc thể, là tạo thêm nỗi quốc nhục cho Đất nước Việt Nam: đã mang danh tên ăn mày quốc tế vác bị đi xin khắp thế giới lại còn muốn quàng thêm cái danh xưng thằng bạc bịp quốc tế nữa thì thanh danh của Tổ quốc Việt Nam mãi mãi bị chôn vùi dưới ba thước đất, làm sao còn ngẩng mặt lên trước thế giới văn minh được?

Điều thứ ba. ĐCSVN thực tế là một đảng độc tài toàn trị, phản dân chủ. Ngay từ sau khi cướp được chính quyền, để củng cố quyền lực độc tài toàn trị Đảng đã ra sức tiêu diệt mọi đảng phái yêu nước có thể tranh chấp quyền lực với ĐCS hoặc đánh quỵ mọi thành phần có tiềm năng chống đối để bảo đảm cái mà Lenin gọi là гегемония пролетариата, tiếng Pháp là hégémonie du prolétariat, tức là địa vị độc tôn của giai cấp vô sản, thực ra là của ĐCS (Hà Nội dịch là độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản). Để bảo đảm cái địa vị độc tôn đó thì trong tất cả các cơ quan nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong tất cả các cơ quan chuyên môn, như bệnh viện, trường học, bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu bóng, v.v…, trong tất cả các đoàn thể xã hội, trong tất cả các cơ quan truyền thông, tất cả các báo chí của Đảng… đều phải do các đảng viên CS nắm giữ địa vị chủ chốt. Dù rằng ở một số bộ và cơ quan nhà nước có thể có người ngoài đảng trên danh nghĩa là bộ trưởng, vụ trưởng, giám đốc, v.v… nhưng đảng viên CS hay đảng đoàn CS những nơi đó vẫn là người có thực quyền quyết định, còn các vị ngoài đảng chỉ “làm vì”. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng. 

Đối với các lực lượng có tiềm năng chống đối Đảng, tính ra chỉ còn giới trí thức và giai cấp tư sản thì ĐCS chủ trương phải “cải tạo” họ. Ở nông thôn, từng lớp phú nông đã bị đánh gục trong CCRĐ rồi, nên Đảng không lo. Học theo Trung Cộng, ĐCSVN chủ trương cải tạo trí thức bằng cách “chỉnh huấn”, rập khuôn theo bài bản “chỉnh phong” của Mao Trạch Đông. Trong  “chỉnh huấn”, buộc  những người trí thức phải tự bộc lộ, tự kiểm điểm, tự xỉ vả những thói hư tật xấu của mình, họ còn phải khai báo về xuất thân của mình, nếu thuộc về những giai cấp gọi là “đối tượng của cách mạng” như địa chủ, tư sản… thì họ phải tố cáo, xỉ vả và căm thù ngay cả bố mẹ, ông bà mình. Tất nhiên, đây là điều sỉ nhục lớn đối với người trí thức biết tự trọng, nhưng nếu anh ta chịu đựng được thì tỏ ra rằng anh ta đã khuất phục giai cấp vô sản, tức là ĐCS, và anh ta sẽ được Đảng sử dụng. 

Tuy vậy, Đảng vẫn không hoàn toàn tin anh ta, còn những điều anh ta đã bộc lộ với Đảng thì Đảng ghi vào hồ sơ lý lịch và theo dõi anh ta suốt đời. Hơn nữa, dù được Đảng sử dụng, nhưng bao giờ Đảng cũng kỳ thị, phân biệt đối xử với trí thức. Cái đó gọi là “chủ nghĩa thành phần”. Cái “chủ nghĩa” quái gở này áp dụng không chỉ  cho cán bộ, nhân viên, sĩ quan và binh lính, mà cả cho học sinh, sinh viên, nhất là khi xét duyệt cho họ vào đại học hay đi nước ngoài. Cái “chủ nghĩa” này đã hủy diệt biết bao tài năng của tuổi trẻ! Giáo sư Tạ Quang Bửu bị thất sủng chính vì đã phản đối cái “chủ nghĩa” này.

Còn nếu người trí thức có thái độ ngang bướng, không phục tùng Đảng, hoặc lời ăn tiếng nói không vừa ý lãnh đạo thì Đảng sẽ mở trận đấu tranh không khoan nhượng. Đó là trường hợp đối với các văn nghệ sĩ, các giáo sư trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm” hồi giữa những năm 50 thế kỷ trước. Hậu quả của việc ĐCSVN đánh “Nhân Văn-Giai Phẩm” là cả một nền văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt trong mấy chục năm ròng, và cả một lớp tinh hoa của dân tộc tiêu biểu cho trí tuệ và sức sáng tạo đã bị đánh gục, bị vùi dập, bị dìm xuống bùn đen trong nỗi sợ triền miên làm cho sự tiết tháo, nhân cách của giới trí thức miền Bắc Việt Nam bị sa sút nặng nề. Đó là một tội ác của ĐCSVN đối với trí tuệ của dân tộc.

Còn việc cải tạo công thương nghiệp, chủ yếu là để tước đoạt (từ ngữ của Marx) phương tiện sản xuất, cơ sở kinh doanh của giai cấp tư sản, lại là một đòn chí tử nữa ĐCS đã giáng xuống những mầm mống đang lên của nền kinh tế non yếu của Đất nước làm cho nó càng thêm suy bại.

Mặc dù ĐCS đã độc quyền thao túng bộ máy cai trị gồm cả chính quyền lẫn các tổ chức và đoàn thể xã hội, đã nắm chắc hệ thống chuyên chính vô sản, nhưng sau những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, sau những sai lầm và thất bại nặng nề về kinh tế, xã hội, đã làm cho đời sống người dân cực kỳ khó khăn, thua kém rất nhiều so với thời còn dưới chế độ cũ, thì uy tín của ĐCSVN ngày càng sa sút trầm trọng. Vì thế, tập đoàn cầm quyền CSVN thấy cần phải bắt chước ĐCSLX dưới thời trì trệ của TBT Brezhnev đã đưa điều 6 vào HP LX 1977,  thì họ cũng đã đưa điều 4 vào HP CHXHCNVN 1980. Và sau này họ vẫn giữ nguyên cả trong HP 1992 và 2013. Đây là âm mưu dùng HP để thể chế hóa sự độc quyền cai trị và địa vị độc tôn của ĐCSVN, siết chặt hơn nữa chế độ độc tài toàn trị của một nhúm nhỏ mấy người trong BCT TƯ Đảng, nhằm chặn đứng con đường dân chủ hóa xã hội, con đường đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập. Cho nên đòi hỏi của dân chúng, nhất là các nhà trí thức và các chiến sĩ dân chủ phải xóa bỏ điều 4 HP là điều rất hợp lý và rất chính đáng, vì điều 4 chi phối phần lớn những điều khác trong HP, chi phối toàn bộ sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Gần đây, Khối 8406 vận động cuộc biểu tình trên mạng đòi xóa bỏ điều 4 HP cũng là một việc làm rất có ý nghĩa.

Cũng nên thấy rằng một khi ĐCS cầm quyền buộc phải ghi điều đó vào HP thì chứng tỏ là chế độ thống trị CS đã rệu rã, rung rinh và có cơ sụp đổ, vì thế tập đoàn thống trị phải dùng điều đó để siết chặt hơn nữa nền thống trị CS. Trước đây, khi mới cầm quyền, dân chúng còn hy vọng, còn tin tưởng vào ĐCS, họ không cần đưa điều đó vào HP mà vẫn chuyên chính được. Bây giờ, hy vọng và tin tưởng đã mất hết, nên điều đó là tối cần thiết cho kẻ thống trị. Cho nên TBT Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên BCT khác đều nói: “Bỏ điều 4 HP là tự sát!”. Nhưng đó cũng chính là tiên triệu báo trước sự sụp đổ không xa của chế độ độc tài. 

Đấy, năm 1977, ĐCSLX đưa điều 6 vào HP thì 13 năm sau, Liên Xô sụp đổ và ĐCSLX tan tành! Vì thế, ngày nay, các  quan chức CSVN phải tính chuyện đường dài, họ bắt chước các lãnh tụ CS họ Kim ở Bắc Triều Tiên, hay họ Castro ở Cuba, dần dần cài người thân trong gia đình vào bộ máy lãnh đạo từ tỉnh lên đến TƯ để dùng lối cha truyền con nối mà đảm bảo sự độc quyền thống trị của họ. Còn một cách nữa: chuyện mới xảy ra gần đây thôi. Theo báo Nhân Dân ngày 29.1.2015, tại hội nghị cán bộ do Ban Tổ chức TƯ triệu tập ngày 27.1.2015, ông Tô Huy Rứa, ủy viên BCT, trưởng Ban Tổ chức TƯ đã cho biết cuộc họp Ban Chấp hành TƯ lần thứ 10 vừa qua đã thông qua danh sách gồm 290 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết cho Đại hội XII, và danh sách 22 ủy viên BCT và ủy viên Ban Bí thư (BBT) cho khóa XII. 

Đây quả là một “sáng kiến tân kỳ”, chưa từng thấy của ĐCSVN: bất chấp Điều lệ Đảng, toàn bộ nhân sự của ĐCSVN khóa XII sắp tới đã được hội nghị TƯ Đảng lần thứ 10 khóa XI, gồm 197 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết khóa XI quyết định xong xuôi. Toàn bộ danh sách các vị ủy viên trong BCT và trong BBT khóa XII cũng quyết định xong. Như thế là hội nghị TƯ lần thứ 10 đã làm thay cho toàn bộ quá trình đại hội từ cơ sở đến Đại hội toàn quốc lần thứ XII cả trong việc ứng cử, lựa chọn, bầu cử các cấp ủy từ dưới lên trên cho đến Ban Chấp hành TƯ, BCT và BBT khóa XII. Tập đoàn thống trị hiện nay cố đấm ăn xôi, quyết bảo đảm cho kỳ được là tập đoàn cầm quyền sắp tới phải theo ý chí của họ. Quả là một sự độc tài, chuyên quyền trắng trợn không thể tưởng tượng nổi.

Điều thứ tư. Hãy nhìn lại trong 85 năm qua, ĐCSVN đã làm được gì cho dân, cho nước.

ĐCSVN rất thích kể công về thời trước. Mà nhiều khi cái “công” đó chưa hẳn là công thật. Đảng thường tự hào là Đảng đã cướp được chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức là ĐCS) đã cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp, mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim là ai? Thực ra, họ không phải là “chính phủ bù nhìn” cho Nhật như Việt Minh và tờ Cờ Giải Phóng của ĐCS đã vu cáo họ, mà là một chính phủ do vua Bảo Đại lập ra sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) gồm nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng trong cả nước, chẳng những họ có trí tuệ, có tư tưởng, mà còn có đức hạnh đứng ra gánh vác việc nước vì mục đích giành độc lập thật sự cho Việt Nam. Vì điều kiện phức tạp hồi bấy giờ, Chính phủ đó chỉ tồn tại trong bốn tháng thôi. Nhưng trong thời gian ngắn ngủi đó họ đã làm được nhiều việc lớn: đã cố thu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng nhằm giữ được toàn vẹn lãnh thổ; đã tổ chức việc cứu đói cho dân miền Bắc; đã Việt hóa nền giáo dục, và việc này đã có ảnh hưởng lâu dài cho cả những thời kỳ và nhiều thế hệ sau này; đã cải tổ thuế má, tư pháp; đã vận động và tổ chức thanh niên, sinh viên (tổ chức Thanh niên Tiền tiến) đưa thanh nên vào sinh hoạt chính trị, xã hội… Đại diện của Chính phủ Trần Trọng Kim đã năm lần gặp đại diện của Việt Minh (ĐCS) để bày tỏ lòng mong mỏi hợp tác với Việt Minh để cùng lo việc nước, nhưng đại diện của Việt Minh đã khước từ vì chủ trương của ĐCS là: ĐCS phải là đảng cầm quyền, duy nhất cầm quyền.

ĐCS thường kể công và tự hào đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nhưng cũng có lắm ý kiến bác lại rằng: nếu ĐCS có chính sách mềm dẻo hơn thì chưa chắc đã cần phải đổ máu kháng chiến chống Pháp trong gần 10 năm. Nếu cứ tiếp tục đứng trong Khối Liên hiệp Pháp (theo Hiệp định sơ bộ - 6.3.1946) mà đấu tranh thì cuối cùng Pháp cũng phải trả lại độc lập cho ta, giống như các nước thuộc địa khác đã được Pháp trả lại độc lập, chẳng phải tốn máu xương mà còn được độc lập sớm hơn ta nhiều. Đấy, cái “công” đó cũng chưa hẳn là công thật. ĐCS còn tự hào đã lãnh đạo chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam. Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, mà những người lãnh đạo thân Mao hồi đó, như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… đã phát động, do sự xúi giục và mưu đồ của Mao Trạch Đông: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. ĐCSVN phải chịu trách nhiệm trước Dân tộc về cái tội đã phát động cuộc nội chiến này gây ra biết bao đau thương, tang tóc, tốn biết bao máu xương của Dân tộc: trên sáu triệu người đã bỏ mạng. Cái “công” này không phải là công mà chính là tội, tội ác.

Về đối ngoại, từ chỗ suy tôn “Mao Trạch Đông là Lenin của thời đại ba dòng thác cách mạng Á-Phi-La”, chửi Liên Xô là “xét lại hiện đại”, rồi lại kình địch với Trung Quốc, chửi Mao, tiến hành chiến tranh với Campuchia Pol Pot, chiếm đóng Campuchia; Lê Duẩn và ĐCSVN lại quay ngoắt chạy theo LX, tuyên bố coi LX là Tổ quốc thứ hai (nhưng, thực ra trong nội bộ CSVN vẫn coi LX là “xét lại hiện đại”) cốt để xin viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh, rồi ký kết Hiệp ước Tương Trợ với LX. Đến khi bị Trung Cộng tung 300 nghìn quân đánh một trận trên suốt đường biên giới phía Bắc, ĐCS lại chửi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, ghi hẳn điều đó vào HP. Còn khi Liên Xô và các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Mông Cổ sụp đổ, ĐCSVN bơ vơ, bị cô lập hoàn toàn, thì nhóm chóp bu CSVN là Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng lại muối mặt bay đến Thành Đô (3-4.9.1990) hạ mình khuất phục Trung Cộng, chui đầu vào dây thòng lọng của Trung Cộng. 

Sau đó, CSVN lại tự nguyện quàng thêm vào đầu “vòng kim cô” “mười hai chữ vàng” của Giang Trạch Dân ban, mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc mới. Sở dĩ nhóm chóp bu của ĐCSVN phải quy phục như vậy là vì muốn cứu cái chế độ độc tài toàn trị của chúng, cứu cái địa vị thống trị của chúng trên đầu trên cổ người dân. Từ đó đến nay, nhóm cầm đầu ĐCSVN tiếp tục tự biến mình thành những tên “thái thú” nhượng đất, nhượng biển cho TQ; mặc cho Trung Cộng làm mưa là gió trên Biển Đông, cấm đoán, săn đuổi, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân, bắn giết ngư dân; mặc cho Trung Cộng làm sân bay, củng cố công sự trên các đảo Việt Nam đã bị chúng chiếm; mặc cho chúng làm thêm những đảo nhân tạo… 

Còn trên đất liền thì sao? Bất chấp sự phản đối của các nhà trí thức và nhân dân, ĐCSVN cho Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nơi xung yếu nhất của Tổ quốc, trên diện tích hàng chục nghìn hec-ta rừng, với hai nhà máy Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và Nhân Cơ, tỉnh Đak-Nông, với hàng nghìn công nhân, lao động Trung Quốc đang chiếm cứ ở đó. Gần 80% các công trình quan trọng trên cả nước Việt Nam đều do Trung Quốc trúng thầu xây dựng. Các tỉnh miền biên giới đã cho Trung Quốc thuê trên 300 nghìn hec-ta rừng đầu nguồn của 18 tỉnh phía Bắc trong 50 năm. Trung Quốc được phép lập nhiều khu dân cư nhiều nơi trên đất Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam bị Trung Quốc lũng đoạn nặng nề. Văn hóa Trung Quốc cũng xâm nhập sâu vào Việt Nam. Viện Khổng tử cũng đã khai trương tại Đại học Việt Nam. Một điều đáng chú ý nữa là gần đây một đoàn cán bộ cao trung cấp của Đảng đã đưa sang đào tạo ở Trung Quốc. Đó là chưa nói tới việc Trung Cộng còn tác động đến quyết định chọn lựa các nhân vật quan trọng trong cơ cấu Việt Nam mà nhiều người đã biết. Như vậy là với đường lối đối ngoại hiện nay, rõ ràng là nhóm cầm quyền trong ĐCSVN đã phản bội lại quyền lợi của Đất nước và Dân tộc Việt Nam.

Về đối nội cần nói rõ rằng, trong lúc khuất phục Trung Cộng thì nhóm cấm quyền ĐCSVN lại ra sức đàn áp những người yêu nước Việt Nam đứng lên đấu tranh đòi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; đàn áp các cuộc biểu tình tố cáo và phản đối những vi phạm bờ cõi và biển đảo Việt Nam, phản đối việc đưa giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam. Thậm chí việc đồng bào kính viếng các tử sĩ Việt Nam trong cuộc chiến Việt Trung 1979 cũng bị cấm cản, xua đuổi. Bộ mặt phản nước hại dân của nhóm cấm quyền ĐCSVN ngày càng rõ rệt.

Về đối nội, trong 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Bắc – Nam chấm dứt, một thời gian dài với đường lối phiêu lưu, duy ý chí của tập đoàn Lê Duẩn, Đất nước đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khốn khổ, dù Lê Duẩn luôn luôn huênh hoang hứa hẹn mọi điều tốt đẹp. Đến thời “đổi mới” có dễ chịu hơn một chút, kinh tế bắt đầu phát triển, nhưng ban lãnh đạo ĐCSVN vẫn bảo thủ, cứ khư khư giữ chặt địa vị của mình, chỉ đổi mới về kinh tế, mà nhất định không đổi mới về chính trị. Hơn nữa, đổi mới kinh tế mà Đảng lại cứ kiên trì cái phương châm trái khoáy: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho nên dù có nhưng tiến bộ về kinh tế nhưng đà phát triển không mạnh làm cho sụ tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực, như Singapore,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, v.v… ngày càng lớn. 

Phải nói rằng ở Việt Nam chưa bao giờ nạn tham nhũng, cửa quyền trầm trọng và tràn lan như bây giờ. Từ trên xuống dưới hiện tượng tham nhũng rất phổ biến, nó làm cho nền kinh tế phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề, đồng thời làm cho cuộc sống người dân càng thêm khó khăn. Đám cầm quyền luôn miệng nói tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm ra vẻ hò hét chống tham nhũng, dọa sẽ “hốt, hốt hết”, nhưng tham nhũng vẫn không hết mà càng nặng nề thêm. Vì sao? Vì cái chế độ cực quyền toàn trị không cho người dân cất tiếng nói, không cho báo chí được tự do ngôn luận, cho nên cái gọi là quyền lực thứ tư không thể nào phát huy tác dụng. Hơn nữa, dưới chế độ độc tài đảng trị, không có tam quyền phân lập, không có tư pháp độc lập nên không thể trừng phạt được những cán bộ đảng viên tham nhũng nắm giữ các địa vị cao. Biết bao nhiêu vụ bị tố cáo đều đã “chìm xuồng”, mà có nhiều trường hợp các nhà báo dũng cảm tố cáo thì lại vô tù.

Dưới chế độ toàn trị của ĐCS, quyền công dân cũng như quyền con người không hề được tôn trọng, người dân không cảm thấy mình là người chủ của Đất nước, trong lúc đó ĐCS lại o bế công an, cảnh sát, lại sử dụng bọn côn đồ trong việc đàn áp dân lành, biến công an, cảnh sát thành những kiêu binh, tha hồ nhũng nhiễu, hành hạ, đánh đập, tra tấn, thậm chí đánh chết người dân. Số người bị công an đánh chết, bị tật nguyền không phải là ít. Trong khi đó, tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, xì ke ma túy, đĩ điếm lan rộng, chẳng những ở thành thị mà tràn lan đến cả vùng nông thôn. Đạo đức xã hội ngày càng băng hoại đến nỗi tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã phải kêu lên: “Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh váo rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?” Đấy, kết quả nhãn tiền của “đạo đức cộng sản” và việc “xây dựng con người mới, xã hội chủ nghĩa” của Hồ Chí Minh và ĐCSVN như thế đó.

Điểm thứ năm. ĐCSVN là một đảng rất bảo thủ, thủ cựu, muôn năm vẫn nhìn thế giới, nhìn Đất nước và Dân tộc qua cái lăng kính Marx-Lenin quá cũ kỹ và lệch lạc. Chủ nghĩa Marx-Lenin mà loài người đã vứt vào sọt rác hàng mấy chục năm rồi, dân ở các nước vốn là nôi của chủ nghĩa đó đã vĩnh biệt nó từ lâu rồi, thế mà cho đến ngày nay, từ đại hội Đảng kỳ này qua kỳ khác vẫn lặp đi lặp lại mãi “phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nghe quá nhàm tai đến nỗi dân phải kêu lên “mãi mãi cái loa rè”, “già rồi đâm lú”. Buồn cười nhất là dưới thời TBT Đỗ Mười, ông ta vẫn nhai đi nhai lại “hai phe, bốn mâu thuẫn”, cái công thức từ đời xửa đời xưa CS dùng để nhận định tình hình thế giới. Nhóm cầm quyền trong Đảng cứ khư khư ôm cái cũ, không dám, và cũng không đủ trí tuệ, để nhận ra cái mới, cái năng động của mầm non, cái tương lai, để dám đi những bước sáng tạo. Cái thói quen của họ là bắt chước “hai ông anh”, cứ LX, TQ làm gì thì rập khuôn làm theo. Ban lãnh đạo, nhất là BCT, BBT già cả không có sức sống của tuổi trẻ để vươn tới trí tuệ, văn minh và tiến bộ, nên ĐCS mãi mãi lạc hậu, dù họ vênh vang tự cho mình là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Nhìn vào thực tế thì thấy rõ ĐCSVN chống lại văn minh và tiến bộ, chống lại chế độ dân chủ đích thực. Thế mà có ai đề xuất cái mới thì BCT đã vội kêu lên “đổi mới, nhưng không được đổi mầu”. Đã thế, nội bộ ban lãnh đạo chóp bu luôn luôn gầm ghè lục đục nhau, cấu xé nhau, và mỗi người đều lợi dụng chức, quyền để trục lợi và tham nhũng!

Chỉ nêu lên năm điểm như thế thôi cũng đủ để mỗi người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng vì nước vì dân, có tinh thần tự trọng hãy tự mình lựa chọn: ánh sáng hay bóng đêm, đức hạnh hay tội ác, dân chủ hay độc tài, văn minh, tiến bộ hay dã man, lạc hậu, vì Tổ quốc và Dân tộc hay vì một đảng, thậm chí một nhúm độc tài… Mỗi người sẽ tự hỏi và tự quyết định: có nên tiếp tục ở trong cái ĐCS này nữa không hay rời bỏ nó? Cái đảng khủng bố, gây chiến. Cái đảng phạm tội diệt chủng, phạm tội ác với loài người và với Dân tộc. Cái  đảng gian dối, lừa gạt, lật lọng. Cái đảng trong 85 năm qua đã gieo rắc bao đau thương, tang tóc, khổ cực, tủi nhục cho mấy chục triệu con người. Cái đảng đang tham quyền cố vị, bám vào quyền lực để thống trị Dân tộc và Đất nước. Cái đảng đang thuần phục và rước kẻ thù vào nhà.

Ngày nay, ĐCSVN đang là khối u ác tính bám vào cơ thể Dân tộc, cở thể Đất nước. Nếu không dũng cảm làm một cuộc phẫu thuật để vứt bỏ khối u đó đi mà để nó di căn thì Dân tộc và Đất nước chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Cộng đầy tham vọng bành trướng. Lẽ nào người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng yêu nước thương dân, có tinh thần tự trọng mà không dám rời bỏ cái đảng tội ác đã phản lại cuộc cách mạng ĐCS từng rêu rao và hứa hẹn?

Chính lúc này là lúc phải quyết định! Rời bỏ cái đảng mang tội ác với dân, với nước này sớm được ngày nào càng tốt ngày đó. Đừng có hy vọng là những kiến nghị hay ho, những đề nghị sáng suốt, những yêu cầu thiết tha của các trí thức, các cán bộ, đảng viên, các lão thành cách mạng, cũng như của nhân dân có thể chuyển hóa được được những cái đầu đã bê-tông hóa của đám cầm quyền vì cái đít của chúng quen ngồi ghế cao bao giờ cũng thích leo cao hơn nữa và bám chắc hơn nữa vào cái ghế của chúng. Đừng có hy vọng đại hội Đảng kỳ tới sẽ có thay đổi gì tốt đâu. Câu nói dân gian khi xem tuồng chèo: “Vô ra vẫn thằng cha lúc nãy!” Đại hội Đảng cũng chỉ là một lớp tuồng chèo, “vô ra vẫn thằng cha lúc nãy” thôi.

Chúng tôi rất thông cảm có nhiều bạn đang phân vân, ngập ngừng, do dự. Đó là điều rất tự nhiên trước một quyết định quan trọng. Nhưng khi đã dám quyết định bước ra khỏi cái đảng độc tài, dối trá, tham nhũng này rồi, thì các bạn sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhõm, thoải mái lạ thường. “Vòng kim cô” trên đầu bạn sẽ biến mất lúc nào không hay. Việc đó sẽ mở ra một chân trời mới để bạn có thể cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho những công việc có ích cho Tổ quốc và Dân tộc. Tin chắc rằng những người dũng cảm, như các anh Nguyễn Chí Đức, Phạm Đình Trọng và nhiều người khác… đã ra khỏi ĐCSVN cảm thấy thấy nhẹ nhàng, rất thoải mái, vì bây giờ các anh đã thực sự là những con người tự do.

6.2.2015
Nguyễn Minh Cần
__._,_.___

Posted by: irene2007us irene2007us 

Wednesday, May 20, 2015

Chuyện về cái lý lịch



 
 
Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 18.5.2015 

Chuyện về cái lý lịch

Ở VN bạn muốn làm gì, muốn thi cử vào đâu, muốn hành nghề gì đều phải khai lý lịch, thậm chí theo quy định của nhà nước cứ đến 80 tuổi là người dân được hưởng trợ cấp mỗi tháng khoảng hơn hai trăm ngàn tiền VN, vậy mà trong bản khai cũng có mục lý lịch, năm nào ở đâu, làm gì…

Từ 40 năm nay, chủ nghĩa lý lịch vẫn còn tồn tại. Chẳng nhìn ở đâu xa, bạn hãy cứ nhìn những anh em thương phế binh VNCH sống lay lắt vất vưởng ra sao giữa những thôn xóm hoặc ngay giữa đường phố Sài Gòn. Họ chẳng được hưởng bất cứ một quyền lợi nào của người thương binh. Thậm chí có người đã phải tự thiêu vì quá nghèo, không muốn làm khổ con cháu.

Anh Nguyễn Văn Báu, thương binh VNCH khi còn sống cụt hai chân.
Anh đã tự thiêu đêm 27 tháng 7 năm 2008.

Thê thảm hơn nữa người tự thiêu ở nhà thuê, sợ cháy nhà con cháu phải bồi thường nên bò ra bãi đất trống, đổ xăng lên người rồi tự thiêu. Chuyện này tôi đã tường thuật cùng bạn đọc ngày 3 tháng 8 năm 2008. Bạn có thể xem toàn văn qua bài viết "Câu chuyện thương tâm của một anh thương phế binh VNCH " . Trong khi thương binh của miền Bắc đều được hưởng phụ cấp và nhiều thứ ưu tiên khác.

Thẻ quân nhân QL/VNCH vẫn theo anh cho đến ngày anh tự thiêu.

Chỉ cần nhìn thế thôi bạn đã thấy rõ cái “chủ nghĩa lý lịch” nặng nề biết chừng nào! Kêu gọi “hòa hợp hòa giải dân tộc”, muốn phát triển và muốn kén chọn nhân tài về phục vụ đất nước thì trước hết phải làm cho tuyệt nọc cái thứ chủ nghĩa phân biệt đối xử này.

Nhân ở đây, tôi xin chân thành hoan nghênh một số hội đoàn và nhiều vị nhân sĩ trí thức ở Mỹ đang có chương trình vận động chính phủ Hoa Kỳ cho phép mở lại chương trình HO để các anh em thương phế binh VNCH được đi định cư tại Mỹ.

Đó là một sự công bằng cần thiết dành cho người thương binh Việt Nam Cộng Hoà, một thời chiến đấu hy sinh một phần thân thể cho tự do dân chủ.

Anh Châu Kim Hàng, cấp bậc Hạ sĩ nhất, trên đường phố Saigon không biết làm gì để sống

Tôi tin rằng sẽ được cộng đồng người Việt ở khắp nơi hưởng ứng yểm trợ cho chương trình tốt đẹp này. Dù kết quả có thế nào thì anh em cũng cảm thấy được an ủi, bớt tủi thân trong cuộc sống đấy khổ cực cay đắng này. Tuy nhiên tôi vẫn hy vọng cuộc vận động sẽ thành công bởi lẽ phải và mọi sự thật được phơi bày sẽ làm rung động những tấm lòng nhân ái.

Còn cái Nghĩa trang Quân Đội VNCH cũng biến mất, bức tượng Tiếc Thương bị lật đổ chổng vó lên trời để phô bày cái hình ảnh “chiến thắng” của phe thắng cuộc. Mãi sau đó bị dư luận chê trách mới chuyển thành nghĩa trang dân sự, bỏ mặc cho cỏ lau dày đặc và các nấm mồ liệt sĩ lâu dần trờ thành hoang phế. Sau này một số thân nhân liệt sĩ mới được xin phép vào tu sửa.

Hãy nhìn ra các nước, sau những cuộc nội chiến, chiến binh tử sĩ hai bên đều nằm chung trong một nghĩa trang được chăm sóc quy mô, trang trọng. Bởi cả hai bên đều là những chiến sĩ hy sinh thân mình để bảo vệ hạnh phúc của người dân.
Còn phân biệt đối xử cả với người chết thì chính sách nhân đạo ở đâu, làm sao hòa hợp hòa giải được?
Bao giờ có một cái nghĩa trang chung cho cả hai bên, lúc đó mới nhìn thấy nhà nước có thiện chí sửa chữa những sai lầm, tiến tới những mục đích khác.

Trở về với chuyện “cái lý lịch”, chuyện mới nhất hiện đang được các nhà gọi là trí thức ở VN đang bàn tán xôn xao trên khắp các trang báo trang mạng ở VN lúc này đó là cuộc thi tuyển, sát hạch công chức ở Hà Nội.

Mọi kiểu thi cử chỉ là hình thức… cho ra vẻ công tâm mà thôi

Mới đây, Sở Nội vụ TP. Hà Nội công bố kết quả kiểm tra, sát hạch công chức thuộc diện đặc cách xét tuyển năm 2015. Trong đó, có 30/63 thí sinh đã không vượt qua được kỳ kiểm tra, sát hạch này. Đáng lưu ý, có 5 người là thạc sĩ loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài, số còn lại đều là thủ khoa xuất sắc trong nước, cử nhân có bằng loại giỏi ở nước ngoài.

Hàng trăm ứng viên chen lấn nhau trong kỳ thi tuyển công chức ở VN

"Tôi làm bài tốt, sao lại trượt?"

Anh Quang bày tỏ: “Ngay lúc nộp hồ sơ, nhà tuyển dụng chỉ nhận bằng và bảng điểm của tôi. Các văn bằng chứng chỉ khác cũng như quá trình làm việc công tác của tôi, nhà tuyển dụng đều không nhận. Như vậy, vô hình trung đã đánh đồng tôi với các ứng viên khác”.

Anh Nam, thạc sĩ tốt nghiệp loại giỏi ở nước ngoài chia sẻ, chuyên ngành anh ứng tuyển chỉ có một mình anh, không phải cạnh tranh với ai. Do đó, chỉ cần đạt 50 điểm là anh sẽ đỗ. Tuy nhiên, kết quả của anh lại không như mong đợi, anh được dưới 50 điểm và trượt công chức.
Anh phân trần: “Tôi thấy kết quả không phản ánh đúng bài thi. Mặc dù có 2 câu hỏi không nằm trong nội dung ôn tập nhưng tôi vẫn làm được, vì tôi đã từng đọc qua trong quá trình công tác. Đặc biệt là ở vòng phỏng vấn, có 3 người trong Hội đồng sát hạch nhưng không có ghi âm, không có giám sát và cũng không biết giám khảo chấm điểm thế nào?
Anh Nam nhận xét: "Câu hỏi trong kỳ thi sát hạch vừa rồi chưa hợp lý, thi như vậy chỉ dành cho người học thuộc lòng. Câu hỏi đưa ra cần phải yêu cầu ứng viên vận dụng kiến thức văn bản pháp luật, kiến thức chuyên ngành đã được học để xử lý tình huống hoặc cho đề bài, soạn thảo đáp án trên máy tính và đứng thuyết trình đáp án đó cho hội đồng sát hạch. Mấy câu hỏi học thuộc lòng vậy làm sao đánh giá được trình độ?"

GS Huỳnh Hữu Tuệ, giảng viên Trường Đại học Laval (Canada) cho biết: Cách thi tuyển công chức của Sở Nội Vụ Hà Nội không phù hợp với kiến thức được đào tạo của các thí sinh có trình độ chuyên môn. Ông Tuệ cũng cho biết, ở nước ngoài thi công đơn giản hơn nhiều. Họ chỉ cần dựa vào bằng cấp và vượt qua vòng phỏng vấn về kiến thức, tâm lý, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm là có thể đỗ công chức.

Bản chất của vấn đề thi cử này là cái lý lịch

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng phải lên tiếng thừa nhận bản chất của những cuộc thi như thế này:

Thứ nhất: “Quan trọng là người đứng đầu có quyết tâm chọn người tài hay không”.
Ý kiến này rất xác đáng, nếu người đứng đầu quyết tâm chọn người tài thì chắc chắn sẽ tìm ra người tài. Còn nếu ngược lại, họ tuyển người vì tiền, vì quan hệ, vì hậu duệ, con cháu, dòng họ, thì họ có đủ mọi mưu chước để đánh rớt người tài, đưa người được sắp xếp từ trước vào (chữ nghĩa bây giờ ở VN gọi là cơ cấu). Mọi kiểu thi cử chỉ là hình thức, chẳng qua thi là “làm phép”.

Tích xưa tuồng cũ đã có nhiều chuyện hay về việc quyết tâm chọn người tài, tìm người tài. Như chuyện “tam cố thảo lư” còn lưu truyền mãi trong dân gian.

Sau khi Từ Thứ đến với Tào Tháo, Lưu Bị tìm đến Long Trung để thỉnh cầu ông ra giúp nhưng hai lần đầu không gặp mãi đến lần thứ ba mới gặp được nên mới có câu "Lưu Bị tam cố thảo lư cầu hiền". Lưu Bị được Lượng nói kế sách định quốc an bang vô cùng kính phục, muốn mời Gia Cát Lượng xuống núi mưu tính đại sự.
Gia Cát Lượng thấy Lưu Bị thật lòng cầu xin nên ông chấp nhận làm quân sư cho Lưu Bị. Năm đó Gia Cát Lượng mới có 27 tuổi chính thức bước vào vũ đài chính trị và làm nên những chiến thắng lẫy lừng như trận Xích Bích và nhiều chiến thắng vang dội khác.

Thứ hai: theo luật sư Trần Quốc Thuận: “Định nghĩa chữ “tài” tùy thuộc vào mỗi nước có quan điểm khác nhau. Tài ở nước ngoài là giỏi về chuyên môn, giỏi về kỹ thuật, giỏi về ngoại ngữ, giỏi về vi tính… còn ở nước mình, tài còn phải kèm theo một thứ: đó là lý lịch”.

Luật sư Trần Quốc Thuận đã rất thẳng thắn khi nói đến hai chữ “lý lịch”. Dù đất nước trong 40 năm qua đã có không ít ý kiến lên tiếng xóa bỏ lằn ranh phân biệt đối xử, nhưng “chủ nghĩa lý lịch” vẫn cứ tồn tại, cản trở sự đóng góp, cống hiến và phát triển của rất nhiều người có năng lực thực sự.

“Tất cả các cuộc thi dù bắt buộc có chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, nhưng đó là cái bề nổi, còn ẩn chứa đằng sau, cuộc sát hạch lý lịch mới là cốt yếu. Đã có một thời, người ta công khai đưa lý lịch ra làm môn thi. Nay tuy không nói ra, nhưng nó vẫn còn chi phối ít nhiều…”.

Một khi người đứng đầu không quyết tâm chọn người tài. Một khi còn “chủ nghĩa lý lịch”, thì mọi kiểu thi cử chỉ là hình thức.

Mọi sự đều đã sắp đặt hết

Khi phóng viên hỏi: Thi công chức, nhiều người cho rằng là kỳ thi tiêu cực nhất hiện nay, nếu không có tiền là không đỗ, ông nghĩ sao?

Ông Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trả lời:
“Việc tiêu cực trong thi tuyển công chức nói từ lâu rồi. Thi gì cũng tiêu cực, tiêu cực từ lộ đề thi trước, đánh dấu trong những bài chấm, thậm chí người thi còn được đưa đề giải trước mang vào phòng thi chỉ việc chép vào bài… việc này cũng nói nhiều rồi.

Cho nên, bộ máy ở trên đã không trong sạch thì làm sao mà có sự trong sạch từ dưới được. Nếu người ở trên  không muốn tuyển dụng người tài và tuyển dụng với lý do lợi ích khác thì sẽ tạo nên lợi ích liền sau khi thi.

PV: Thưa ông, đây có phải là vấn đề nhức nhối trong xã hội mà khó giải quyết không?

Ông Thuận: “Quá nhức nhối đi chứ vì cửa vào hé rất nhỏ. Những người vào là những người đã được chuẩn bị sẵn rồi. Mặc dù thi công khai nhưng còn vấn đề lý lịch nữa.

Cũng về ý công khai như ông nói, nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù thi công chức luôn tổ chức công khai (công khai về chỉ tiêu, tiêu chí, điểm số…) nhưng dưới sự  công khai này là ẩn chứa sự sắp đặt hết”.
Để kết luận cho bài này mời bạn đọc một trong hàng trăm lời phê phán của độc giả ở VN.

-  Bạn Trần Ngọc Hải viết:
Khổ lắm. Biết rồi nói mãi. Thi công chức ở Thủ đô bao nhiêu năm nay số người đỗ đạt vẫn rơi vào đối tượng "biên chế". Phần lớn là con ông cháu cha, người thân quan và có cả chạy chọt nữa. Nếu lôi bài thi ra đọ thật, thì kể cả thủ khoa xuất sắc hay thạc sỹ tốt nghiệp ở nước ngoài cũng chào thua. Họ có kế hoạch, chỉ tiêu và sắp xếp hết cả rồi. Hi..hi vui lắm ! Tôi đã thu lượm được kha khá minh chứng thông tin những vụ chạy chọt thi tuyển công chức buồn cười lắm, chỉ tốn có 2-3 trăm triệu thôi, từ một nhân viên (người quen bạn tôi) không hiểu gì về tin học cơ bản, không soạn thảo được văn bản thông thường, ấy thế mà trúng tuyển một cách ngoạn mục vượt qua cả những thí sinh được đào tạo ở nước ngoài về. Giờ thì đang chễm chệ làm "sếp" ở TP. HCM rồi.”

Như thế thì thi cử chẳng qua là một trò bịp. Anh là dân đen, nhất là có dính dáng tới “phản động, Mỹ Ngụy” thì đừng bao giờ dại dột mất công đèn sách vác giấy bút đi thi vào làm công chức ở bất cứ ngành nào. Hãy tìm đến các công ty kinh doanh tư nhân của nước ngoài, hy vọng bạn sẽ được trọng dụng. Hy vọng thôi bởi ngay ở các doanh nghiệp tư này cũng bị áp lực phải ưu tiên cho con ông, cháu cha mới sống được.
Văn Quang
~~~~~~~~~~~~~~~~~
* Trang bài viết của Nhà văn Văn Quang 
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

Posted by: Nhat Lung

Tuesday, May 19, 2015

YÊU NƯỚC VÀ DÂN TỘC


  Trích Tạp Chí Cách Mạng Số 72 của Đại Việt Cách Mạng Đảng

YÊU NƯỚC VÀ DÂN TỘC
Lạc Việt

Là một nhân tính, lòng yêu nước cũng được nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển. Do những tác động xã hội và thiên nhiên, lòng yêu nước được biểu lộ khác nhau trải qua thời gian và không gian. Việt Nam, một vị trí điạ lý trong khu vực Đông Nam Á đã chứng kiến nhiều mô thức ái quốc lớn trên thế giới, trong đó Trung Hoa và Hoa Kỳ có sự quan hệ đặc biệt.

1/ Giáo điều yêu nuớc của Trung Cộng:
Nho Giáo, nền tảng của văn hoá Hoa Hán, đặt lòng yêu nước vào vị thế cao nhất và đóng khung trong tín điều Trung Quân, Ái Quốc. Trung quân là giềng mối hàng đầu trong Tam Cương gồm Quân, Sư, Phụ. Yêu nước là phải thờ vua, sống và làm theo lệnh của nhà vua, vua bảo chết phải chết. Luân lý và luật pháp của các triều đại quân chủ: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Các quốc gia Á Châu lân cận như TriềuTiên, Nhật Bản, Việt Nam… khi chưa tiếp xúc với Tây Âu, thành phần trí thức chịu ảnh hưởng văn hoá Hoa Hán.
Tầng lớp nho sĩ được giáo dục, nhồi nặn, chấp nhận huấn lệnh Tam Cương một cách thành kính, hãnh diện, vươn lên trong cuộc sống, trở thành giai cấp thống trị bên cạnh quân vương.

Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch, rạng ngày xuất chinh.

Đây là sức mạnh của các triều đại Hoa Hán dùng chinh phục các quốc gia láng giềng từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Họ tự hào là một trung tâm văn minh, đứng trên và đứng giữa các dân tộc hèn kém xung quanh: Tây Nhung, Đông Di, Nam Man, Bắc Địch. Vua Tàu tự xưng thiên tử, có nghĩa là con Ông Trời, thật sự hắn ta là Ông Trời trong cõi nhân gian vùng Đông Á, Đông Nam Á.
Mao Trạch Đông, một Tần Thủy Hoàng tái sinh, thực hiện giấc mơ bá chủ thiên hạ, vỗ về dân chúng Hoa Lục bằng sự giải thích rằng nếu có chiến tranh nguyên tử, nhân loại sẽ bị tiêu diệt, nhưng Trung Quốc với khối dân đông nhất thế giới, chỉ cần vài chục ngàn người sống sót, điạ cầu sẽ phục hồi tràn ngập với con người và văn minh Hán tộc.

Trung Cộng hiện đang tích cực đầu tư phát triển Khổng Giáo từ quốc nội đến hải ngoại nhằm động viên dân chúng tiếp tục dâng hiến cho chính quốc vừa là một chiêu bài phô trương với thế giới bên ngoài về một lý thuyết xã hội đại đồng, trật tự và ổn định.
Chủ nghĩa yêu nuớc của Trung cộng hiện nay bao gồm những điều lệnh:
  • Hoa Hán là giống nòi chủ đạo trong lãnh thổ Trung Hoa.
  • Bất cứ sắc dân nào trong lãnh thổ Trung Quốc đều phải nhìn nhận Bắc Kinh là nhà cầm quyền rộng lượng, nhân từ vì đã giúp họ văn minh hơn.
  • Tây phương là những ác qủi đã và đang áp đặt những giá trị của họ lên Trung Quốc.
  • Trung Quốc chúng ta chưa bao giờ xâm lấn một quốc gia nào và cũng không bao giờ áp đặt ách nô lệ lên bất cứ một dân tộc nào.
  • Mông Cổ và Mãn Châu là những ngoại nhân xâm lược cho nên các vua nhà Nguyên, nhà Thanh không đuợc nhìn nhận là những triều đại chính thống của Trung Hoa.
  • Lãnh thổ do người Mông Cổ và Mãn Châu dâng nạp trong thời gian họ cai trị Trung Hoa gồm Nội Mông, Mãn Châu, Tân Cương, Tây Tạng là phần đất thiêng liêng và bất khả phân ly của Trung Quốc.
  • Trung Hoa đã bị người Tây phương đánh bại và gây tủi nhục, những đền đài cung điện bị đốt cháy, những cổ vật qúi báu linh thiêng bị đánh cắp, chúng ta phải phục hồi tất cả bằng mọi giá.
  • Nhật Bản là kẻ thù truyền kiếp, chúng ta vô cùng thù ghét Nhật và nếu không có Mỹ, Nhật đã bị tiêu diệt. Nhật đã tàn bạo với chúng ta trong Thế Chiến Thứ Hai nên chúng ta cũng sẽ làm tương xứng như thế trong tương lai với Nhật Bản.
  • Đài Loan thuộc về Trung Quốc. Chúng ta không buộc họ sát nhập vào Trung Quốc ngay lúc nầy với điều kiện họ không được trở thành một quốc gia độc lập.
  • Biển Nam Trung Hoa thuộc về Trung Quốc.
  • Các quốc gia lân cận với Trung Quốc trong vùng Đông Á, Đông Nam Á trước đây là phiên thuộc của các triều đại Trung Hoa. Khu vực Đông Nam Á là cửa ngõ chính của một không gian sinh tồn rộng mở đối với Trung Quốc, phải đuợc gìn giữ bằng mọi phương tiện, ngăn chận các quốc gia Tây Phương xâm nhập, liên minh.           
  • Quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là quan hệ tranh đấu sống chết, một mất một còn. Chúng ta phải đánh gục nước Mỹ vì đó là con đường duy nhất bảo đảm chúng ta sẽ làm ra được thời đại của người Hán, một kỷ nguyên đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo thế giới. (Trì Hạo Điền)
2/ Người Mỹ xây dựng lòng yêu nước:
Hoa Kỳ, một quốc gia được thành lập từ những ngươì di dân Âu Châu, đa số là người Anh, không bằng lòng với chế độ hà khắc tại quê nhà. Trong cuộc chiến tranh gian khổ dành độc lập, George Washington đã viết những bản nghiên cứu về sức mạnh của quân đội, nhắc đến lòng yêu nước, lưu ý đến tổ chức và trả công tương xứng. Ralph Waldo, một thi nhân vừa là một nhà bình luận, mô tả Hoa Kỳ là nơi tị nạn của các dân tộc, các giá trị lập quốc của người Mỹ được trình bày trong Tuyên Ngôn Độc Lập, nhấn mạnh đến nhân quyền như là “mọi người sinh ra đều bình đẳng”, “mọi người đều có quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.”

Tuyên Ngôn Độc Lập là thành quả tất yếu từ lòng dũng cảm và hy sinh của các thế hệ di dân thời lập quốc đã tìm thấy nơi quê hương mới vẻ đẹp thơ mộng, hùng vĩ, và một tương lai bất tận. Họ xúc động, yêu thương, gắn bó và quyết tâm gìn giữ truyền lại cho con cháu, là nguyên nhân tạo nên lòng yêu nước của người Mỹ.
Những du khách viếng thăm Bạch Cung khi vào thư phòng bên cánh trái đều nhìn thấy một pho tựợng nhỏ và được giới thiệu đây là Đại úy Hale Nathan (1755-1776). Hale nguyên giáo sư đại học Connecticut, tình nguyện làm công tác tình báo cho tướng George Washington trong trận đánh tháng 9 năm 1776. Ông bị quân Anh bắt và bị án treo cổ về tội gián điệp. Ông bình tỉnh nhận lãnh bản án sau một bài diễn thuyết. Các sử gia ghi chép đầy đủ những lời kết thúc tuyệt vời: “Tôi có một điều ân hận duy nhất là chỉ có một đời sống để mất cho quê hương” (I only regret that I have but one life to lose for my country).

Từ đấy, lòng yêu nuớc của người Mỹ nở hoa trong các lĩnh vực chính trị, văn học, xã hội…
Thomas Jefferson (1743-1826), tác giả Tuyên Ngôn Độc Lập cũng là Tổng Thống thứ ba Hoa Kỳ, được tôn kính vào hàng quốc phụ (founding Father) gieo mầm ái quốc bằng những ý tưởng: “Keo sơn của sự đoàn kết nầy là huyết quản của mỗi người Mỹ” (The cement of this union is the heart-blood of every American). Ông cũng quan tâm đến hạnh phúc lâu dài của dân chúng: “Tôi dự đoán hạnh phúc tương lai của người Mỹ nếu họ có thể ngăn cản được chính quyền làm phí phạm công sức của người dân duới nhản hiệu là chăm sóc cho quần chúng” (I predict future happiness for Americans if they can prevent the government from wasting the labors of people under the pretense of taking care of them).

Campell Thomas (1763-1854), mục sư tin lành kết hợp yêu nước và tự do: “Dòng máu ái quốc là hạt mầm của cây tự do” (The patriot blood is the seed of Freedom’s tree).
Thượng nghị sĩ Daniel Webster (1782-1852) nêu lên một nguyên tắc: “Tự do và Đoàn kết, hôm nay và mãi mãi về sau, chỉ là một, không thể phân chia” (Liberty and union, now and forever, one and inseparable).

Tổng Thống Abraham Lincoln (1809-1865) kêu gọi người dân phải tận tâm, tận lực xây dựng quê hương đất nước: “Tôi muốn nhìn thấy một người hãnh diện về nơi anh ta đang sống. Tôi cũng muốn nhìn thấy một người sống để nơi chốn ấy sẽ hãnh diện về anh ta” (I like to see a man proud of the place in which he lives. I like to see a man live so that his place will be proud of him).
Phó Tổng Thống Mỹ Adlai Stevenson (1835-1826) giải thích bản chất của lòng yêu nước: “Lòng yêu nước không phải là sự xúc động cuồng nhiệt nhất thời mà là sự dâng hiến yên lặng, bền bĩ suốt cả cuộc đời” (Patriotism…is not short, frenzied outburst of emotion, but the tranquil and steady dedication of a life time).

Nhà văn Charles F Browne (1834-1867) cụ thể hoá lòng yêu nước một cách dễ nhớ: “Tất cả chúng ta không thể là những ông Washingtons, nhưng tất cả chúng ta có thể là người yêu nước” (We can’t all be Washingtons, but we can all be patriots).
Woodrow Wilson (1856-1924), Tổng thống thứ 28 có dịp đề cao nước Mỹ: “Hoa Kỳ là quốc gia lý tưởng duy nhất trên thế giới” (American is the only idealistic nation in the world). Nhà văn Mark Twain (1835-1910) phân biệt quê hương và chính quyền: “Luôn luôn trung thành với đất nước. Trung thành với chính quyền khi nó xứng đáng”. (Loyalty to the country always. Loyalty to the government when it deserves it). Ôn hoà hơn, Sinclair Lewis (1885-1951) nhà văn Mỹ đầu tiên lãnh giải Nobel cân nhắc về lòng yêu nước: “Về phương diện trí thức, tôi biết rằng Hoa Kỳ không tốt đẹp hơn bất cứ quốc gia nào khác nhưng về tâm lý xúc động tôi thấy rằng Hoa Kỳ tốt đẹp hơn bất cứ quốc gia nào” (Intellectually I know that American is no better than any other country; emotionally I know she is better than every other country).

Tuổi thanh niên của lớp lão thành hiện nay đều có dịp nhìn thấy hình ảnh Tổng thống Mỹ John F. Kennedy (1917-1963) và ghi nhớ ý tuởng: “Đừng hỏi quốc gia có thể làm điều gì cho các anh mà hãy hỏi các anh có thể làm gì cho quốc gia” (Ask not what country can do for you. Ask what you can do for your country).
Người dân Mỹ với đầu óc thực tế, quả cảm và kinh nghiệm, luôn luôn ngăn chận những mầm mống bất công gây tổn hại đến quyền lợi cá nhân, nhưng lòng yêu nuớc vẫn song hành tồn tại trong mỗi cuộc sống. Sự thăng bằng nầy là nguyên nhân cho sự bền vững và phát triển một nuớc Mỹ dân chủ, tự do và giàu mạnh.

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhóm Hồi giáo cực đoan al-Qaeda cướp phi cơ, liều chết đâm sập toà Tháp Đôi tại Nữu Ước, đánh chệch Ngũ Giác Đài và thất bại mưu toan phá hủy Bạch Cung, làm cả nước Mỹ và thế giới rung động. Cuộc tấn công khủng khiếp nầy mở ra cuộc chiến tranh chống khủng bố, khiến toàn thể dân chúng Mỹ mà đại diện là Quốc Hội vội vàng bày tỏ sự đồng tâm, nhất trí, bắt tay vào việc hình thành Luật USA Patriot Act. Ngày 24 tháng 10 năm 2001 Dự luật thông qua Hạ Viện với số phiếu thuận 357/66 và tại Thượng viện ngày 25/10 với số phiếu 98/1. Tổng thống George W. Bush ký ban hành ngày 26 tháng 10 năm 2001. Nước Mỹ cũng chính thức lấy ngày 11/9 làm ngày Patriot Day để cầu nguyện và tưởng niệm trong toàn quốc.

3/ Truyền thống yêu nước của người Việt.
Khi những người Việt tộc rời bỏ vùng Hoa Nam định cư trên châu thổ sông Hồng, các triều đại vua chúa phương Bắc vẫn tiếp tục đưa quân xâm chiếm. Lòng yêu nước của tổ tiên là sức mạnh đánh trả sự đô hộ, áp bức, gìn giữ cho dân tộc và đất nuớc được trường tồn đến ngày hôm nay.

Vào những năm đầu Công Nguyên (40-43) hai vị anh thư Trưng Trắc, Trưng Nhị đã đứng ra nhận lãnh trách nhiệm “thù nhà, nợ nước”. Tiếp theo (248), Nhụy Kiều tướng quân, trên đầu voi, trước hàng quân, dõng dạc trong câu nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng để làm tỳ thiếp người ta”.
Lý Thường Kiệt (1076) với bài thơ khẳng định vận mạng của đất nước: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” đem lại sự dũng cảm cho quân sĩ Đại Việt chận đứng quân Tống trên sông Như Nguyệt.

Trong ba lần đánh tan những đạo hùng binh Mông cổ, chí khí yêu nước được nêu cao ngất trời qua câu nói đanh thép của Hưng Đạo Vương: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi đi đã” hoặc câu trả lời khẳng khái của Trần bình Trọng trước sự dụ hàng của tướng giặc: “Ta thà làm quỷ nuớc Nam còn hơn làm vương đất Bắc”.

Các triều đại kế tiếp - Nhà Lê và nhà Nguyễn Tây Sơn - đều khởi nghiệp vì nhu cầu đánh đuổi ngoại xâm phương bắc.
Cận đại, trong cuộc ngăn chận quân Pháp xâm lăng và dành độc lập, các nghĩa sĩ trong phong trào Cần Vương, Đông Du, Khởi Nghĩa Yên Báy… sẵn sàng chấp nhận gian khổ và sinh mạng.
Suốt đời cụ Phan bội Châu không bao giờ sao nhãng hai chữ ái quốc: “Nay ta hát một câu ái quốc. Yêu gì hơn, yêu nước nhà ta. Trang nghiêm bốn mặt sơn hà. Ông cha ta để cho ta lọ vàng.” …hoặc: “Ai hữu chí xin từ nay gắn gỏi. Cổi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần. Chẳng thèm ăn, chẳng thèm mặc, chẳng thèm chơi. Đúc gan thép để dời non lấp bể. Xối máu nóng rửa vết dơ nô lệ”

Đảng Trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí khi nghe toà án thực dân Pháp tuyên án tử hình đều mỉm cười ngâm hai câu thơ: “Chết vì Tổ quốc thật vinh quang! Lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Trước khi bước vào máy chém, các liệt sĩ đều hô vang: Việt Nam muôn năm!
Trong cuộc chiến tranh chống cộng sản xâm lăng, các chiến sĩ quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà đều hăng say chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, từ Bến Hải đến Cà Mâu, hàng trăm người trung nghĩa đã tuẫn tiết, từng mỗi cá nhân riêng lẻ, từng tiểu đội, hoặc cả gia đình chồng vợ và các con… vì cảm thấy không làm tròn trách nhiệm với đất nước !

4/ Đạo lý yêu nước của người đảng viên Đại Việt.
 Ngoại trừ những hành vi man rợ của các nhóm Hồi giáo cuồng tín, những biến động chính trị sôi nổi khắp nơi trên thế giới hiện nay đều xuất phát từ quyền lợi thiết yếu của mỗi dân tộc. Các cường quốc Trung Cộng, Ấn Độ, Nhật Bản… thi đua vũ trang, linh hoạt thay đổi chính sách để tìm ưu thế trong cuộc cạnh tranh sinh tồn. Đặc biệt Tổng thống Putin, một cựu nhân viên của mật vụ Liên Sô KGB thẳng thừng nhắc đến “yếu tố người Nga” trong vụ khủng khoảng miền đông Ukraine và không bỏ lỡ cơ hội chiếm đoạt và sát nhập Crimea, một lãnh thổ 27.000 km2 trên bờ Hắc Hải vào nước Nga (18/3/2014).

Năm 1938, một năm trước khi thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đảng Trưởng Trương Tử Anh đã đưa ra phần dẫn nhập lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn, nhấn mạnh đến tinh thần quốc gia, thực thể dân tộc và lòng yêu nước:
“Đọc suốt bộ quốc sử bốn nghìn măm, chúng ta nhận thấy rằng khi nào tinh thần quốc gia yếu thì nước suy, khi nào tinh thần ấy mạnh thì nước ta thịnh. Tinh thần quốc gia là cái nguyên nhân độc nhất bảo tồn dân tộc ta vậy”.
“Có tinh thần quốc gia mới cảm thấy người ta sinh ra ở đời phải mang một nghĩa vụ rất lớn lao đối với đất nước, đối với người chết trước, với kẻ sinh sau. Do đó phát xuất ra những gương hy sinh cho tổ quốc vô cùng mãnh liệt”.
Kể từ đấy một số đảng viên niên trưởng thuộc thế hệ thứ nhất vừa gánh chịu hy sinh chiến đấu chống cộng sản, thực dân, phong kiến, vừa khai triển tư tưởng Dân Tộc Sinh Tồn làm nền tảng đánh bại chủ nghĩa cộng sản bằng lý luận, xây dựng và phát triển Đảng, đề ra những kế hoạch hoạt động cứu quốc và kiến quốc.
Cố đồng chí Trần Việt Sơn hình thành tài liệu Đạo Sống khuyến khích đảng viên chấp nhận lý tưởng Dân Tộc Sinh Tồn như là một lối sống thanh cao, phù hợp với luân lý và đạo làm người.

Cố đồng chí Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy dành thời gian viết nhiều tác phẩm thuộc phạm trù dân tộc, trong đó công trình biên soạn giá trị hàn lâm “Dân Tộc Sinh Tồn, Chủ Nghĩa Quốc Gia Khoa Học” được độc giả khắp nơi thường xuyên tham khảo, nghiên cứu. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cũng là thi sĩ Đằng Phương đã gieo vào tuổi trẻ Việt Nam tâm hồn yêu nước lãng mạn, trong sạch, cao thượng và khí phách:
“Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch” hoặc
“Nhưng máu họ đã len vào mạch đất. Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông. Và anh hồn chung với tấm lòng trung. Đã hoà hợp làm linh hổn giống Việt”. hoặc
“Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên, Mười ba liệt sĩ vào bia người tuẩn quốc”.

Cố đồng chí Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng Hà Thúc Ký cũng lưu lại hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” ghi chép những thử thách vô cùng cam go của những người đi trước để lớp đảng viên thanh niên hiện nay có những kinh nghiệm và hiểu biết về Đảng. “Sống Còn với Dân Tộc” là cách bày tỏ chân thực của môt kiếp người với lý tưởng Dân Tộc Sinh Tồn.
Đồng chí Nguyễn Long Vân, nguyên bí thư Đại Việt Cách Mạng Đảng tỉnh Lâm Đồng, một tín hữu Công giáo tốt nghiệp Đại chủng viện đồng thời với linh mục Lương Kim Định, tập trung nghiên cứu và bình giải lý thuyết Dân Tộc Sinh Tồn dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Đồng chí mở đầu Lời Tựa: “Kiếp sống của con người có hai nghĩa vụ chính và quan trọng nhất: nghĩa vụ đối với Trời Đất (Thiên Chúa), nghĩa vụ đối với tổ quốc, đồng bào”. Được vặn hỏi nghĩa vụ nào quan trọng hơn, đồng chí trả lời: “hai nghĩa vụ giá trị bằng nhau”. Thật cảm phục!

Sau tháng 4/1975, từ Quảng Trị đến Cà Mâu, các chiến sĩ Đại Việt vẫn tiếp tục chiến đấu. Nổi bật nhất là biến cố năm Mậu Ngọ (1978) xảy ra tại Thừa Thiên, Huế ghi thêm một trang sử chống cộng oai hùng của dân tộc. Công an cộng sản điạ phương đã bắt bớ, giam cầm hàng trăm chiến sĩ tụ nghĩa. Cộng sản Huế đã tuyên án tử hình và hành quyết các liệt sĩ Đại Việt Cách Mạng Đảng: Phan Ngọc Lương, Trần Ngọc Quờn, Phạm Lự, Tống Châu Khang, Huỳnh Lai, Nguyễn Con, Phan Thanh Linh; riêng nữ đồng chí Bùi thị Cặn tự sát để bảo tồn bí mật cơ sở.
Yêu Nước là tâm nguyện suốt đời của mỗi đảng viên Đại Việt.
o0o
Yêu Nước Chủ Nghĩa và Dân Tộc Chủ Nghĩa là hai từ ngữ có chung một nền tảng lý thuyết nhưng sự giải thích và áp dụng biến thiên theo mức độ. Yêu nước là sức mạnh tinh thần cũng là ngôi sao chỉ đường, vì vậy một đảng viên Đại Việt bất cứ hệ phái nào, hoặc nói rộng ra một người Việt Nam đạo đức, lương hão là người không xao lãng ý chí bảo tồn dân tộc. Trong cuộc sống, mỗi người thường xuyên bị lôi kéo vào nhiều lĩnh vực (dục vọng cá nhân, hạnh phúc gia đình, thờ phượng tôn giáo…) nhưng xin lưu ý dành cho dân tộc một phạm vi tương xứng để nhân cách được thăng bằng, không bị khô khan, lệch lạc.

Tình hình thế giới luôn luôn biến động và thời cơ của dân tộc Việt Nam sẽ xuất hiện.

Là những chiến sĩ thừa hưởng sự dũng cãm của những người yêu nước đã nằm xuống vì lý tưởng Dân Tộc, chúng ta tự hứa làm việc với tất cả thành tâm, thiện chí để xây dựng lực lượng những người yêu nước hải ngoại, quốc nội ngày càng vững mạnh và phát triển. Kế hoạch bắt đầu từ Đại Việt Cách Mạng Đảng, kết hợp với các hệ phái Đại Việt tiêu biểu, liên lạc chặc chẽ với các đảng phái quốc gia, đoàn thể chống cộng thật sự, các tổ chức tôn giáo minh chính, các nhà hoạt động dân chủ tại quốc nội, các tổ chức nhân quyền quốc tế... 

Tất cả đều bắt tay vào một mục tiêu chung xoay chuyển thế cuộc, tạo thời cơ, nắm bắt kịp thời khi cơ hội vụt đến. Như vậy, toàn khối dân tộc mới có đủ sức mạnh giải quyết bọn Việt cộng bán nước, ngăn chận đế quốc Trung cộng cướp nước, xây dựng Việt Nam thành một quốc gia tự do, dân chủ, văn minh, giàu mạnh và trường tồn giữa một thế giới ngày càng khôn ngoan và cạnh tranh mãnh liệt.

Lạc Việt










__._,_.___

Posted by: irene2007us irene2007us 

Cô gái Hàn Quốc và cuộc chạy trốn từ địa ngục trần gian Bắc Hàn


Cô gái Hàn Quốc và cuộc chạy trốn từ địa ngục trần gian Bắc Hàn 


Nhìn thằng mập ủn ỉn rồi nhìn hình cô gái này đũ biết cs tàn hại như thế nào  

Cô gái Hàn Quốc và cuộc chạy trốn từ địa ngục Bắc Hàn
image
Vào hồi đầu tháng 3 vừa qua, một nhà xuất bản tại Pháp đã cho ra mắt cuốn hồi ký của một cô gái Bắc Hàn, kể về cuộc trốn chạy kéo dài gần 10 năm của gia đình cô khỏi Bắc Hàn.


Cuốn hồi ký ngay lập tức đã thu hút được sự chú ý của độc giả khắp nơi bởi những gian truân, khổ cực tưởng như đến tột cùng mà cô và gia đình đã phải chịu đựng để có thể thoát khỏi nơi mà cô gọi là ‘địa ngục’. Trong trang tạp chí phụ nữ tuần này, Việt Hà xin gửi tới quý vị những lời tâm sự của tác giả cuốn hồi ký, cô Eunsun Kim.

Lập di chúc khi 12 tuổi

image
Cuốn hồi ký có tựa ‘Bắc Hàn, 9 năm trốn chạy khỏi địa ngục’ được bắt đầu với bản di chúc của Eunsun Kim, lúc đó mới 12 tuổi. Cô viết di chúc bởi cô nghĩ mình sắp chết. Eunsun Kim nhớ lại:
“Tôi đã viết di chúc khi mẹ và chị gái tôi đi kiếm thức ăn xa. Họ đến khu Najin-Sunbong để kiếm thức ăn cho gia đình và họ đi đã 4 ngày mà vẫn chưa thấy trở về. Trong suốt 4 ngày đó tôi chỉ có thể mua được một miếng đậu phụ nhỏ để ăn và sau đó thì không còn gì để ăn được nữa. Tôi đói khủng khiếp và tôi đã nghĩ là tôi sẽ chết.”

image
Cô Eunsun Kim, ảnh chụp tháng 03 năm 2012
Sau 4 ngày, mẹ và chị của Eunsun Kim trở về hoàn toàn tay trắng. Họ đói và vô vọng.
Cũng từ đó, Eunsun Kim cùng gia đình bắt đầu cuộc hành trình đi tìm sự sống kéo dài gần 10 năm của mình, trốn chạy khỏi quê hương, nơi mà cô gọi là địa ngục.

image
Hình minh họa
Đầu tiên, gia đình Eunsun Kim không có ý định trốn khỏi Bắc Hàn. Họ chỉ muốn tìm đến một nơi mà họ có thể kiếm được cái ăn để sống. Gia đình Eunsun Kim quyết định rời bỏ thị trấn của mình là Euduck để đến Najin-Sunbong bởi đó là khu kinh tế mở với Trung Quốc và gần biển, do vậy việc kiếm cái ăn có thể dễ dàng hơn.

Nhưng ngay cả khi đã đến thành phố mới, nơi cái ăn tưởng chừng như dễ kiếm hơn, Eunsun Kim và gia đình cũng phải chật vật sống. Họ phải ăn xin, và thậm chí ăn trộm.

image
“Chúng tôi không có tiền để sống và vì thế chúng tôi bắt đầu bằng cách xin ăn. Chúng tôi đến từng nhà để xin ăn. Việc xin ăn đó đã kéo dài suốt một năm. Có những lúc chúng tôi phải ăn trộm thực phẩm và bán lại cho các chợ để sống. Những lúc khác chúng tôi phải đốn củi để bán kiếm sống qua ngày.”

Những điều khủng khiếp

Eunsun Kim nói gia đình cô đã tìm mọi cách để kiếm cái ăn qua ngày nhưng đến một lúc họ không thể kiếm nổi và họ phải tìm cách ra đi. Họ ra đi để thoát khỏi cái đói mà không biết chính xác mình sẽ đến đâu.

image
Cô Eunsun Kim và nhà báo Sebastien Falletti, phóng viên báo Le Figaro của Pháp, ảnh chụp trước đây tại  Paris .
Cuốn hồi ký của Eunsun Kim kể về những lần trốn chạy của gia đình cô khỏi Bắc Hàn. Họ đã tìm cách trốn khỏi Bắc Hàn 3 lần trước khi thành công cập bến Nam Hàn.
Ngay trước khi gia đình cô tìm cách trốn khỏi Bắc Hàn, cha của Eunsun Kim đã qua đời vì suy dĩnh dưỡng, và không được điều trị. Mẹ của Eunsun Kim đã phải vay gạo để làm đám tang cho chồng. Đến tận bây giờ, cô cũng không thể quên được những gì cô chứng kiến trong đám tang của cha. Cái đói đã khiến ngay cả người đi dự đám tang cũng phải ăn cắp.

“Trong đám tang của cha tôi, người bạn thân nhất của ông đến để dự đám tang tại nhà tôi. Khi chúng tôi chuẩn bị đám tang, chúng tôi có làm một chút đồ ăn và ông ấy giúp chúng tôi đưa đồ ăn cho mọi người. Nhưng ông ấy quá đói, ông ấy đã lấy cắp đồ ăn. Tôi hiểu vì sao ông ấy làm thế, đó là vì đất nước tôi không còn gì để ăn. Đất nước Bắc Hàn khốn cùng đã khiến cha tôi phải chết.”

image
Năm 1999, Eunsun Kim cùng mẹ và chị gái đã vượt sông Tumen để sang Trung Cộng. Họ chọn mùa đông lạnh giá để vượt biên vì vào mùa này, nước sông đóng băng, họ có thể qua được sông dễ dàng.
Sang đến Trung Cộng, mẹ của Eunsun Kim bị bán gả cho một người đàn ông Trung Cộng và họ sống trong cảnh khổ cực ở một vùng hẻo lánh của Trung Cộng trong suốt 3 năm:
“Chúng tôi sống ở Trung Quốc, nhà của chúng tôi ở nông thôn. Cuộc sống nông thôn rất khó khăn bởi xe buýt không đến được đó. Chúng tôi tự trồng rau để sống và chúng tôi rất nghèo. Mẹ tôi lấy một người đàn ông Trung Cộng và sinh một người con cho ông ta.”

image
Hình minh họa
Sau ba năm, gia đình cô bị bắt và trao trả lại cho Bắc Hàn. Trở lại Bắc Hàn, gia đình cô bị bắt vào trại cưỡng bức lao động. Họ bị trừng phạt vì đã tìm cách trốn khỏi quê hương. Cuộc sống cực nhọc trong trại cưỡng bức lao động đã khiến mẹ của Eunsun Kim quỵ xuống.
“Chúng tôi vào trại lao động cưỡng bức ở Bắc Hàn. Mẹ tôi bị bắt phải lao động hết sức vất vả, và điều này thật quá sức mẹ vì bà vừa sinh em bé. Bà không thể ăn được gì vì ốm đau. Không ai quan tâm chăm sóc đến bà khi bà đau đớn. Cảnh sát ở trại cứ bắt mẹ phải làm nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Và cuối cùng thì mẹ tôi gục xuống khi đang lao động trong trại. Bà phải vào khu chăm sóc đặc biệt.”

Luôn nghĩ về Bắc Hàn

Sau khi ở trong trại 2 tháng, Eusun Kim cùng mẹ và chị gái lại trốn khỏi Bắc Hàn lần nữa và sang Trung Cộng. Để trốn khỏi cảnh sát an ninh ở Trung Cộng, luôn lùng tìm những người Bắc Hàn tị nạn, gia đình Eunsun Kim đã phải chia nhỏ, mỗi người đi một hướng để kiếm ăn. Họ phải sống trong nỗi lo thường trực sẽ bị bắt và đưa trở lại Bắc Hàn bất cứ lúc nào.

image
Gia đình Eusun Kim sau đó đã được một người môi giới giúp đỡ, rời Trung Cộng, họ sang Mông cổ, vượt qua sa mạc  Gobi  và cuối cùng vào được Nam Hàn. Cuộc hành trình của họ cuối cùng đã kết thúc sau 9 năm gian khó.

Bây giờ, Eunsun Kim đã là cô gái 26 tuổi và đang theo học tại trường đại học Sogang ở  Seoul . Cô học chuyên về tiếng Trung Hoa và tâm lý học. Cuốn hồi ký của cô được viết với sự giúp đỡ của nhà báo Sebastien Falletti, phóng viên báo Le Figaro của Pháp. Khi được hỏi tại sao cô lại quyết định viết cuốn hồi ký vào lúc này, Eunsun Kim cho biết:

“Lúc đầu tiên mới đến đây tôi cũng không có nhiều hoạt động gì liên quan đến Bắc Hàn bởi tôi còn đang học trung học ở Nam Hàn. Tôi không có cơ hội gặp những người bạn Bắc Hàn nhiều như bây giờ. Khi tôi theo học đại học, tôi có nhiều cơ hội gặp gỡ những người Bắc Hàn trốn chạy giống tôi và họ làm tôi nghĩ về những người Bắc Hàn đã và đang trốn chạy khác. Và tôi nhớ lại cuộc sống khủng khiếp của mình tại Bắc Hàn. Vì thế tôi quyết định viết câu chuyện của mình. Tôi chỉ muốn có nhiều người biết được những điều khủng khiếp đang xảy ra tại Bắc Hàn.”

image
Cô quyết định đặt tên cuốn hồi ký của mình là 9 năm trốn chạy khỏi địa ngục bởi cô cho rằng cuộc sống ở đó không khác gì địa ngục và cô hy vọng với tựa như vậy, cuốn sách sẽ thu hút được sự chú ý đúng mức từ những người có quan tâm.

image
Giờ đây là một cô gái xinh đẹp và hạnh phúc, được sống tại một đất nước tự do, Eunsun Kim nói rằng cô muốn làm được một điều gì đó cho những người dân Bắc Hàn tị nạn. Cô muốn giúp họ thực hiện được những ước mơ của mình. Cũng chính vì vậy mà cô đã chọn theo học ngành tâm lý học. Cô có dự định sẽ trở thành một bác sĩ tâm lý cho trẻ em trong tương lai.

Việt Hà    

__._,_.___


Posted by: <vneagle_1

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link