----- Forwarded Message ----- From: Nhon Nguyen <> To: Nhon Nguyen <>
Sent: Friday, December 4, 2015 9:49 PM Subject: Dân oan 3 miền Bắc - Trung - Nam tiếp tục biểu tình đòi quyền
tư hữu đất đai
Kính chuyển
Nguyễn Nhơn
ĐẢ ĐẢO CỌNG SẢN
Sáng nay 4/12/2015, đồng bào dân oan ba Miền
Tụ họp nhau giữa lòng Hà Nội, trương cao biểu ngữ:
“Đảng cộng sản còn, chế độ công an trị còn,
dân ta còn mất hết quyền làm người”
Cùng hô vang: “ Đả đảo cộng sản “
Đả đảo là “ Đánh đổ “
Đánh đổ bọn cáo hồ bán nước, buôn dân
Đánh đổ chế độ toàn trị việt cọng bất nhân
70 năm sống kiếp nô lệ lầm than
Càng nhịn nhục, bọn hung tàn càng lấn tới
Tức nước phải vở bờ, thời cơ đã tới
“ Hởi những người nô lệ thế gian
Những ai đói khổ bần hàn hãy liên hiệp lại “
Này công nhân bị áp bức, bốc lột
Này tuổi trẻ bế tắt tương lai
Tất cả hãy vùng lên đánh trận cuối cùng
Giành lại quyền sống, quyền làm người
Quyền Dân tộc tự quyết – Tự do – No ấm
Muốn sống đời Tự do
Phải tranh đấu mới có
Tự do không cho không, biếu không
Hãy can trường dũng mãnh đứng lên!
Nguyễn Nhơn
Dân oan 3 miền Bắc - Trung - Nam tiếp tục biểu tình đòi quyền tư
hữu đất đai
Trần Quang Thành (Danlambao) - Sáng nay 4/12/2015, nhiều tốp dân oan 3 miền
Bắc - Trung - Nam đã vượt qua thời tiết giá lạnh, tiếp tục biểu tình trước trụ
sở tiếp dân của Đảng và Nha nước ở 1 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông, Hà Nội đòi
giới cầm quyền cộng sản Việt Nam trả lại quyền tư hữu đất đai cho người dân.
Nhiều biểu ngữ đã bị công an tước đoạt khi đi diễu hành đòi công
lý ở tượng đài Lý Thái Tổ và quanh hồ Hoàn Kiếm hôm trước 3/12/2015, hôm nay
lại xuất hiện những biểu ngữ mới tố cáo quan chức cộng sản tham nhũng, làm giàu
bằng cách tước đoạt đất đai, tài sản của dân. Nổi bật vẫn là biểu ngữ “Đảng
cộng sản còn, chế độ công an trị còn, dân ta còn mất hết quyền làm người”
và bà con đã hô vang “Đả đảo đảng cộng sản”, “Trả quyền tư hữu đât
đai cho dân”.
Sau đây là một số hình ảnh cuộc biểu tình sáng nay 4/12/2015 do
chị Trương Thanh Quang, dân oan tỉnh Tiền Giang ghi lại.
Đợt thi tuyển công
chức trực tuyến đầu tiên do Bộ Nội Vụ tổ chức hồi tháng 1 năm 2013.
Courtesy TPO
Theo một khảo sát khoảng 90% cử nhân Việt Nam sau khi tốt nghiệp họ
đều tìm cách để vào làm trong các bộ máy của cơ quan nhà nước. Tại sao lại có
thực trạng đó?
Phần lớn các cử nhân sau khi tốt nghiệp họ đều tìm mọi cách để
được vào làm trong các cơ quan nhà nước, nhất là đối với giáo viên, tuy nhiên sau
khi không được vào làm trong các cơ quan nhà nước thì họ mới chuyển hướng để
xin vào làm trong các cơ quan ngoài nhà nước.
Lý do
Theo các công chức đang làm trong các cơ quan nhà nước cho biết
thì khi họ đã được các cơ quan nhà nước nhận rồi, thì phần lớn họ đã được vào
biên chế nên họ không sợ bị nhà nước đuổi mà công việc lại nhàn hạ, không bị áp
lực về thời gian và công việc mà lương tháng lại được nhận đầy đủ, mà sau này
về già họ lại có lương hưu để có thể tự cung cấp cho mình mà không bị lệ thuộc
vào con cái.
Đa số đến 80% dân VN thì người ta luôn có 1 suy nghĩ là vào biên
chế nhà nước để mà khi về già người ta có sổ riêng hưu của chế độ hưu chí, và
có sổ lương và công việc thì nghĩ rằng là ổn định, cái đó là suy nghĩ mặc định
gần như là đa số là người dân VN . Đặc biệt là người Miền Trung và người Miền
Bắc.
-Cô Nguyễn Thị Lan
Chị Nguyễn Thị Lan một giáo viên đang dạy tại một trường cấp 2 ở
tỉnh Hà Tĩnh chia sẻ những lý do mà chị chọn dạy tại trường nhà nước mà không
chọn dạy ở trương tư nhân dù trường tư nhân lương cao hơn trường nhà nước:
“Đa
số đến 80% dân VN thì người ta luôn có 1 suy nghĩ là vào biên chế nhà nước để
mà khi về già người ta có sổ riêng hưu của chế độ hưu chí, và có sổ lương và
công việc thì nghĩ rằng là ổn định, cái đó là suy nghĩ mặc định gần như
là đa số là người dân VN . Đặc biệt là người Miền Trung và người Miền Bắc.”
Bên cạnh đó với tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” nên không
chỉ gia đình mà còn họ hàng của người đó cũng được nhờ khi một người thân của
họ được làm công chức.
Một cán bộ xin được giấu tên đang làm tại Hà Nội chia sẻ:
“Hiện
nay, thì nhiều người muốn vào làm công chức để làm cán bộ, khi làm cán bộ được
rồi khi đó mình sẽ có được tiếng nói và có thể giúp cho gia đình mình cũng như
người thân của mình bằng cách này hay cách khác.”
Đối với quan chức Việt Nam thì họ chỉ là người đại diện cho dân và
là đầy tớ của dân nhưng chị Nhật Trung một cán bộ ở Đà Nẵng cho biết được vào
biên chế làm công chức nhà nước thì họ lại có tiếng và có quyền lực.
Chị Nhật Trung tiếp lời:
“Có
tiếng, công việc ổn định và nhàn hạ.”
Chị Nguyễn Thị Thêu một giáo viên sau khi tốt nghiệp đại học xong không
đủ tiền để chạy vào biên chế công chức nhà nước nên đành dạy tại một trường tư
ở Nghệ An, nhưng chị vẫn muốn được làm trong bộ máy nhà nước vì theo chị làm
trong bộ máy nhà nước thì công việc ít, lại có nhiều thời gian.
Chị Thêu tiếp lời:
“Giả
như mình làm ở nhà nước, làm ở nhà nước thì khỏe hơn, thời gian không bị gò
bó.”
Công chức làm việc trong một cơ quan hành chính công ở Đà Nẵng,
ảnh minh họa chụp trước đây. Courtesy LĐ.
Việc nhiều người muốn vào làm công chức nhà nước như một thực tế
chỉ ra rằng họ chỉ thích làm thầy mà không thích làm thợ và với mục đích là thỏa
mãn nhu cầu cá nhân của mình rồi mới phục vụ xã hội. Và khi làm trong công chức
nhà nước họ không sợ bị mất việc trong khi làm trong tư nhân họ vừa làm vừa nơp
nớm bị mất việc.
Một cán bộ ở Sài Gòn xin được giấu tên chia sẻ:
“Tình
trạng thất nghiệp Việt Nam rất nhiều nên nhiều người muốn đổ xô vào làm công
chức nhà nước.”
Vào công chức khó hay dễ
Với lý do trên nên nhiều cử nhân sau khi tốt nghiệp đã ôn thi để
tìm cách cho vào được công chức nhà nước, để được nhận vào làm công chức thì họ
phải trải qua 1 kỳ thi, nhưng theo nhiều người cho biết đó chỉ là cuộc thi trá
hình.
Với hệ thống quan hệ, tiền tệ và trí tuệ nên nhiều người dù có học
giỏi thế nào muốn cống hiến cho đất nước nhưng họ lại không được nhận vì gia
đình họ nghèo, họ không quen biết nên không thể vào được công chức. Nhưng có
nhiều người dù học kém không có bằng cấp vẫn được nhận và có thể làm được chức
cao.
Cô giáo Nguyễn Thị Lan chia sẻ:
“Nói
thẳng ra là chỉ có tiền, chỉ có bằng con đương là người ta chạy biên chế, chạy
biên chế chứ không phải thi biên chế nữa, Thực tế bây giờ vào biên chế là khó
vì đối với người nghèo, đối với người kinh tế thu nhập thấp mà để người ta có
đủ tiền để chạy vào biên chế thì rất là khó.”
Chị Nhật Trung cho biết thêm:
“Khi
có kết quả lại trái ngược với sự mong đợi, mấy người học giỏi thì lại rớt, mấy
người học tèm tèm thì lại đậu”
Giảm năng suất lao động?
Hiện nay, thì nhiều người muốn vào làm công chức để làm cán bộ,
khi làm cán bộ được rồi khi đó mình sẽ có được tiếng nói và có thể giúp cho gia
đình mình cũng như người thân của mình bằng cách này hay cách khác.
-Một cán bộ
Việc sử dụng nhiều cán bộ công chức vừa làm cho bộ máy nhà nước
cồng kềnh và dân phải nai lương ra nuôi bộ máy đó.
Dẫn lời của Thạc sỹ Trương Khắc Trà cho biết thì việc sử dụng
nhiều công chức nhà nước đang làm cho năng suất lao động của Việt Nam giảm một cách
đáng kể và thấp nhất thế giới.
Tuy nhiên cô giáo Lan lại chia sẻ:
“Chính
những người ta vào với mục đích thì để người ta tiến thân lên con đường quyền
lực giống như hình thức tham nhũng, quan liêu trong nhà nước từ cấp nhỏ đến cấp
lớn chính những người đó đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến nền phát triển của nền
kinh tế. Còn về hậu quả công việc thì cũng có mặt đúng là khi mà nhiều người
vào như vậy thì công việc nhàn hơn, có một đường lối đúng đắn thì hiệu quả làm
việc sẽ tốt hơn, khi mà người thì làm quá nhiều công việc người thì khi mà ít
người thì mỗi một người sẽ làm nhiều công việc thì hiệu quả làm việc chưa chắc đã
tốt bằng cái nhiều người. Nhiều người mà nhàn thì người ta có thể đầu tư
trao đổi kiến thức về đường hướng, xu hướng để người ta có cách tốt nhất để
giải quyết công việc ổn thỏa.”
Ông phó chủ nhiệm tư pháp Nguyễn Đình Quyền đã chia sẻ bên lề
phiên họp quốc hội cho biết, nếu ông có toàn quyền ông sẽ sa thải 40% công chức
hiện có và chỉ giữ lại 60% công chức vì theo ông 40% công chức đó không làm được việc lại làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh và dân lại
bỏ ra 1 số lượng tiền thuế để phải nuôi những người “ăn không ngồi rồi”.
Việt Nam có hơn 90 triệu dân với diện tích 330 ngàn cây số vuông
nhưng có đến 2,8 triệu công chức, trong khi Mỹ chỉ có 1,8 triệu và vương quốc
Anh có 700.000 công chức.
Trên báo Vietnam.net cho biết thủ tướng vừa ký phê duyệt 270 ngàn
biên chế trong năm 2016.
Ngân hàng Thế giới vừa đưa ra nhận định là Việt Nam cần phải cải
cách toàn diện và quyết liệt khi thực hiện những cam kết của Hiệp định Đối tác
Kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP. Đây là những khuyến cáo rõ rệt nhất từ trước tới nay, được các
chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đưa vào bản báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam
công bố ngày 2/12/2015 tại Hà Nội.
Muốn hưởng lợi phải cải cách
Thời báo kinh tế Sài Gòn Online nằm trong số ít, nếu không nói là
báo mạng duy nhất, đề cập tới những vấn đề nhạy cảm mà Ngân hàng Thế giới nhấn
mạnh trong bản báo cáo. Với tính cách một định chế quốc tế tầm cỡ, Ngân hàng
Thế giới sử dụng ngôn từ chuẩn mực khi nói rằng việc thực thi các cam kết với
TPP mà Việt Nam là thành viên, sẽ ảnh hưởng tới vấn đề quản lý doanh nghiệp nhà
nước, tăng cường minh bạch cho các chương trình mua sắm của nhà nước, nâng cao
chất lượng thực thi luật pháp, chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn lao động và
môi trường, an toàn thực phẩm, tự do hóa thương mại và dịch vụ, kể cả dịch vụ
tài chính và viễn thông.
Cho dù không có Luật về Hội nhà nước Việt Nam vẫn phải thực thi
định chế công đoàn độc lập; chỉ có điều là suốt bao nhiêu năm cho tới nay chưa
từng có một tổ chức cơ sở công đoàn độc lập ở Việt Nam, chưa từng có một nghiệp
đoàn tự do cho người lao động.
-TS Phạm Chí Dũng
Nhìn vào thể chế kinh tế chính trị hiện tại của Việt Nam và thời
sự diễn ra hàng ngày, những ai theo dõi tin tức sẽ ngay lập tức nhận thấy là,
Việt Nam nếu muốn hưởng những lợi ích đầy hứa hẹn của TPP thì chắc chắn phải
cải cách quyết liệt và toàn diện.
Một trong những vấn đề lớn nhất mà Ngân hàng Thế giới đề cập tới,
là những cam kết về vấn đề lao động. Sài Gòn Times Online trích báo cáo Ngân
hàng Thế giới nhắc lại, TPP bao gồm một cam kết chung của các nước về tôn trọng
quyền của người lao động được ghi trong Tuyên ngôn về Nguyên tắc và Quyền lợi
cơ bản tại nơi làm việc của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Việt Nam còn cam
kết cụ thể hơn trong một hiệp ước phụ, Kế hoạch Tăng cường Quan hệ Công đoàn và
Công nhân Hoa Kỳ - Việt Nam.
Theo Sài Gòn Times Online, trong báo cáo ngày 2/12/2015 Ngân hàng
Thế giới cho rằng, nếu thực hiện đầy đủ các cam kết này sẽ đánh dấu một sự chuyển
hướng mạnh trong cơ cấu công đoàn hiện nay, cho phép tự do liên kết thay vì
toàn bộ các công đoàn đều nằm dưới sự quản lý của Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam.
Điều khoản chính qui định như sau: Việt Nam sẽ đảm bảo rằng luật
pháp và qui định cho phép người lao động do doanh nghiệp tuyển dụng được thành
lập tổ chức người lao động của riêng mình mà không cần sự cho phép từ trước.
Một tổ chức của người lao động đã đăng ký với với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền sẽ được quyền tự bầu ra đại diện của mình, xây dựng qui chế và
qui tắc của mình, tổ chức quản lý, kể cả quản lý tài chính và tài sản của mình,
đàm phán tập thể, tổ chức và lãnh đạo đình công và các hành động tập thể khác
liên quan đến quyền lợi nghề nghiệp, kinh tế-xã hội của người lao động trong
doanh nghiệp.
Ngân hàng Thế giới cho biết, theo cam kết thì Việt Nam phải công
nhận hiệu lực của điều khoản vừa nêu trước ngày TPP có hiệu lực. Ngoài ra Việt
Nam cũng đã cam kết cho phép tổ chức cơ sở của người lao động được thành lập
các tổ chức lớn hơn giữa các doanh nghiệp trong vòng 5 năm kể từ ngày TPP có
hiệu lực.
12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái
Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015.
Nhận định về vấn đề tự do nghiệp đoàn mà các nhà hoạt động xã hội
dân sự quen gọi là công đoàn độc lập, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng chủ tịch Hội Nhà
báo Độc lập, một tổ chức không được cấp phép, từ Sài Gòn phát biểu:
“Công
đoàn độc lập là một định chế một thành phần bắt buộc trong Hiệp định TPP liên
quan tới người lao động và quyền lợi của họ cũng như quyền tự do lập hội của
người lao động Việt Nam. Cho dù không có Luật về Hội nhà nước Việt Nam vẫn phải
thực thi định chế công đoàn độc lập; chỉ có điều là suốt bao nhiêu năm cho tới
nay chưa từng có một tổ chức cơ sở công đoàn độc lập ở Việt Nam, chưa từng có
một nghiệp đoàn tự do cho người lao động. Tất cả vẫn bó buộc ở trong cơ chế của
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Bởi vậy tôi cho rằng có thể phải mất thời
gian 5-6 năm để gầy dựng nên nền tảng của công đoàn độc lập ở Việt Nam, riêng ở
các cơ sở thôi chưa nói đến tầm mức quốc gia. Đó là tuyên truyền về kiến thức,
về ý thức, về kinh nghiệm đấu tranh cho người lao động, thì họ mới có thể gầy
dựng được một công đoàn độc lập theo đúng nghĩa của nó.”
Dự đoán sớm nhất đến 2018 TPP mới có hiệu lực thi hành, cộng
thêm lộ trình 5 năm đối với việc Việt Nam cho phép tự do nghiệp đoàn ở tầm mức lớn
hơn và tự do liên kết ngang dọc giữa các nghiệp đoàn. Ngoài ra người lao
động Việt Nam có thể có thể chưa nhận thức đúng mức về quyền tự do nghiệp đoàn
của mình. Phải chăng tương lai tự do nghiệp đoàn ở Việt Nam vẫn quá xa vời.
Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng cho rằng, vẫn có lối mở vì
thời gian 7 năm đó chính là thời gian mà nhà nước Việt Nam có thể thực hiện một
số tiểu phần của công đoàn độc lập. Hiện chưa công bố một lộ trình cụ thể,
nhưng chỉ biết là sau 3 năm thì phía Hoa Kỳ và các nước trong TPP sẽ họp lại và
đánh giá nhà nước Việt Nam đã thực hiện định chế công đoàn độc lập tới đâu. Các
nghiệp đoàn ở cơ sở có được liên kết hoặc được nhận sự hỗ trợ kể cả hỗ trợ về tài
chính của những tổ chức phi chính phủ về lao động quốc tế hay không. TS Phạm
Chí Dũng nhấn mạnh:
“Nếu
nhà nước Việt Nam không bảo đảm được những điều đó, cũng như không bảo đảm được
khung luật sửa đồi về luật lao động, kể cả luật công đoàn thì như vậy không bảo
đảm hoạt động của nghiệp đoàn tự do trong TPP, vi phạm TPP và sẽ bị chế tài.
Nếu mà không cẩn thận thì hiệp định TPP đối với nhà nước Việt Nam chắc chắn sẽ
là con dao hai lưỡi. Tôi cho rằng nói gì thì nói, mọi thứ cũng đang dần mở ra,
chỉ có điều đây là một cuộc đấu tranh từng góc phố từng ngôi nhà để tiến trình
dân chủ hóa Việt Nam có thể nhích dần lên từng bước chứ mọi thứ sẽ không thể
đến nhanh được.”
Lo ngại về cải cách thể chế chính trị
Trở lại khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới là Việt Nam cần cải cách
toàn diện và quyết liệt để thực hiện các cam kết TPP. Ngân hàng Thế giới nhận
định rằng, đây là thách thức lớn đối với nhà nước Việt Nam, vì Việt Nam lựa
chọn cải cách từ từ đối với những tồn tại lâu đời, đó là khu vực doanh nghiệp
nhà nước quá lớn, thể chế thị trường không hoàn chỉnh.
Các chuyên gia nói rằng cải cách thúc đẩy tiến bộ, đem lại ích lợi
cho người dân. Nhưng ngược lại cải cách cũng sẽ tạo ra đau đớn như việc giải
phẫu cắt bỏ những khối ung thư. Đối sự lo ngại về cải cách thể chế chính trị,
đụng chạm tới Hiến pháp và quá nhiều luật lệ chưa thích hợp, thậm chí cản trở
kinh tế thị trường. Trong dịp trao đổi với chúng tôi Luật sư Trần Quốc Thuận
nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận định:
Việt Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở
rộng, tất cả mọi thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi,
phải sửa đổi rất nhiều luật cho phù hợp. Nếu không sửa đổi luật cho phù hợp thì
làm sao Việt Nam là thành viên của TPP được.
-LS Trần Quốc Thuận
“Việt
Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở rộng, tất cả mọi
thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi, phải sửa đổi rất
nhiều luật cho phù hợp. Nếu không sửa đổi luật cho phù hợp thì làm sao Việt Nam
là thành viên của TPP được. Cho nên vấn đề đó, theo lộ trình thì TPP có thể
phải hai năm nữa mới có hiệu lực thi hành thì có lẽ trong thời gian đó, Việt
Nam cái gì chứ cái món mà người ta bảo ‘nước cao quá gối cũng nhảy’ thì Việt
Nam có khi cũng phải nhảy.”
Bên cạnh vấn đề cải cách pháp luật, tôn trọng sở hữu trí tuệ, quản
trị minh bạch doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, cải cách tiêu chuẩn lao động
và môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, tự do hóa thương mại và dịch vụ. Qui
tắc xuất xứ sản phẩm dệt may trong TPP được Ngân hàng Thế giới mô tả như một
nhược điểm khiến Việt Nam không tận dụng được tối đa cơ hội do TPP mang lại.
Điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan khi Việt Nam xuất hàng dệt may vào
Hoa Kỳ và các nước khác trong TPP đó là nguyên tắc tính từ sợi, sản phẩm dệt
may phải được sản xuất từ sợi dệt nội khối TPP. Thực tế hiện nay, báo cáo của
Ngân hàng Thế giới ghi nhận các nhà sản xuất dệt may sử dụng hầu hết xơ
sợi nhập khẩu từ các nước ngoài TPP. Theo đó khoảng 60% tới 90% mặt hàng vải để sản xuất hàng may mặc
được nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc và Đài Loan.
Hiện nay có một làn sóng đầu tư nước ngoài vào các dự án kéo sợi, dệt,
nhuộm hoàn tất, nhưng Việt Nam sẽ rất khó đáp ứng nhu cầu sợi dệt nội khối,
chưa kể không có đủ nhà máy dệt vải, nhuộm và hoàn tất khi đã có sợi dệt nội
khối. Do vậy có thể thấy trước là dù có lộ trình để áp dụng danh mục thiếu hụt
tạm thời, việc đáp ứng nguyên tắc sợi dệt nội khối ở tỷ lệ như thế nào và hưởng
lợi tới mức nào vẫn còn là ẩn số.
Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan TP.HCM từng
nhận định:
“Rõ
ràng đây là một bài toán về mặt vĩ mô, cân đối giữa năng lực của kéo sợi, năng
lực dệt vải và năng lực nhuộm, khá hóc búa cho các nhà điều hành ở tầm vĩ mô
của ngành dệt may Việt Nam.”
Dù chưa có TPP, kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2014 của Việt
Nam rất lớn trị giá 24,5 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ đạt 9,8
tỷ USD. Tuy vậy sản xuất dệt may xuất khẩu của Việt Nam hầu hết là gia công với
nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc và Đài Loan, nên phần lợi nhuận thực thụ
của người Việt Nam chỉ là một phần nhỏ. Dù vậy lợi ích của xuất khẩu dệt may Việt Nam là thu dụng lực
lượng lao động hàng triệu người.
Ngân hàng Thế giới dự kiến xuất khẩu hàng dệt may và phụ kiện của Việt
Nam sẽ tăng khoảng 60% vào năm 2035 so với hiện nay, trong đó Hoa Kỳ là đích
đến chủ yếu trong khối TPP. Ngành dệt may Việt Nam tiếp tục là nguồn tạo việc
làm quan trọng, nhờ đặc thù ngành nghề sử dụng nhiều lao động và chính sách chú
trọng xuất khẩu của nhà nước.
Vẫn theo Sài Gòn Times Online, Hiệp hội dệt may Việt Nam ước tính,
cứ tăng thêm 1 tỷ đô la Mỹ xuất khẩu, thì sẽ tạo thêm được 150.000 nghìn tới
200.000 việc làm.
Tuy vậy Báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 2/12/2015 cảnh
báo, qui tắc xuất xứ có thể sẽ hạn chế đáng kể những tác động tích cực vừa nêu.
Ngân hàng Thế giới ước tính TPP có thể bổ sung thêm 8% Tổng sản
phẩm nội địa GDP của Việt Nam, 17% giá trị xuất khẩu thực tế và 12% lượng tích
lũy tài sản trong vòng 20 năm tới.
Tất nhiên đó là những tính toán theo sách vở và trong điều kiện
Việt Nam thực hiện một chương trình cải cách toàn diện và quyết liệt để thực thi
các cam kết của TPP.
Từ cửa sổ một nhà tù ở
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương hôm 30/8/20123, ảnh minh họa.
AFP photo
Kẻ tham nhũng tự nguyện nộp từ 75% tiền tham nhũng trở lên sẽ được
miễn án tử hình và cậu bé Nguyễn Mai Trung Tuấn phải chịu bốn năm rưỡi tù vì đã
bức xúc, đã đấu tranh vì quyền lợi gia đình. Hai câu chuyện này nghe có vẻ
không có điểm liên quan nào. Nhưng trên thực tế, nói gần thì nó cho thấy một
điểm chung là pháp luật Việt Nam không những lỏng lẻo mà còn là trò hề, nói sâu
xa một chút, khi mà huy hiệu đảng Cộng sản còn treo trên tòa án thay thế cho vị
trí của nữ thần tự do hay cán cân công lý, mọi phiên tòa ở Việt Nam chỉ mang
tính chất là một sân khấu kịch của chế độ mà ở đó mọi thể loại kịch đều có thể
được trình diễn.
Vì sao nói vấn đề khai nộp 75% tiền tham nhũng và bốn năm rưỡi tù
của cậu bé 15 tuổi có liên quan với nhau? Và vì sao nói rằng tòa án ở Việt Nam
là một loại sân khấu kịch của chế độ? Và cả hai câu hỏi này cho ra đáp án gì?
Ở vấn đề thứ nhất, nộp 75% tiền tham nhũng trở lên sẽ được miễn án
tử hình. Vấn đề này lại phát sinh hai vấn đề mới, đó là khả năng thật thà của
kẻ tham nhũng và sự vẽ đường cho hươu chạy, mối nguy tham nhũng tràn lan. Hay
nói cách khác là sự thiếu thông minh của lập pháp Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ
dẫn đến những hệ lụy khó lường sau này.
Bởi lẽ, một khi kẻ tham nhũng còn một chút thật thà, họ đã không
tham nhũng, nếu có đủ lương tri và lòng tự trọng, chắc chắn người ta đã không
tham nhũng. Và nói sâu xa hơn, nếu hệ thống cầm quyền Việt Nam còn một chút
lương tri cũng như lòng tự trọng thì người ta đã không tự biến mình thành một
tập thể sâu mọt và đất nước này cũng không đến nỗi bị đục khoét, hỏng hóc như
hiện tại.
Chính vì không có lương tri, không được đào tạo trở thành một
con người trước khi trở thành một quan chức nên người ta không cần bận tâm gì
đến đồng loại hay xã hội. Người ta đã bất chấp trên mọi thứ, miễn sao là đạt
được mục tiêu vinh thân phì gia. Và hầu hết giới quan chức Việt Nam đã đạt được
mục tiêu vinh thân phì gia một cách mỹ mãn. Để trả giá cho mục tiêu này của họ,
người dân càng này càng trở nên khốn đốn bởi giá điện, giá nước, giá xăng tăng
một cách khủng khiếp, mọi thứ vật giá cũng leo thang, đồng tiền Việt Nam trở
nên nhỏ nhoi, mất giá trị trong khi người lao động kiếm ra nó một cách vất vả.
Và khi phải đối diện với tòa án, đứng trước vành móng ngựa, liệu
kẻ tham nhũng có đủ thật thà để khai ra số tiền mà y đã tham nhũng? Bởi những
con số tham nhũng bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với con số mà cơ quan chức
năng nắm bắt. Vì qui trình điều tra của cơ quan an ninh kinh tế Việt Nam căn cứ
vào các mối quan hệ kinh tế cũng như các văn bản liên quan đến đối tượng điều
tra để làm bằng chứng. Trong khi đó, tiền tham nhũng là một loại tiền khắc tinh
của văn bản và bằng chứng. Chính vì điều này mà nạn tham nhũng tràn lan nhưng
những con sâu tham nhũng chỉ bị bắt khi mà sự việc đã xì ra cho cả thiên hạ
nhìn thấy. Và kẻ tham nhũng bị bắt ở Việt Nam chỉ đóng vai trò là con dê tế
thần để chịu trận thay cho rất nhiều tội lỗi giấu mặt phía sau nó.
Với kiểu quản lý cà rịch cà tàng và với đà tham nhũng tàn bạo như đang
thấy, chắc chắn kẻ tham nhũng nếu có chịu nộp 100% tiền tham nhũng thì y vẫn dư
được một khoản rất lớn nằm ở các ngân hàng nước ngoài, các tài khoản đứng tên
ảo mà y chỉ cần nắm mật mã. Và đương nhiên y phải bằng mọi giá giữ mạng sống để
còn cơ hội dùng đến những mật mã tài khoản khi có đủ điều kiện.
Theo hướng này, việc mở ra cơ hội sống nếu chịu nộp 75% tiền tham nhũng
là một biểu hiện cho thấy khả năng quản lý kinh tế quá kém của nhà nước và sự
bất lực của ngành an ninh kinh tế. Kẻ tham nhũng đã đạt được thế thượng phong
mặc dù sắp đối mặt với cái chết. Bởi nếu y chết, số tiền tham nhũng của y sẽ
không còn ở Việt Nam. Trong khi đó, nếu để cho y sống, cơ hội vớt vát những
đồng tiền tham nhũng đã nằm rải rác ở khắp các ngân hàng thế giới sẽ giúp cho
ngân sách nhà nước bớt trống rỗng.
Và điều này cũng cho thấy sự thất bại của chế độ Cộng sản xã hội
chủ nghĩa. Một chế độ tồn tại và hoạt động được nhờ vào vay nợ, bán tài nguyên
rẻ mạt, bán sức lao động rẻ mạt và thu thuế trên bất cứ thứ gì thông qua thuế
giá trị gia tăng. Mọi hoạt động này lại được duy trì và phát huy trên nền cảm
hứng tham nhũng của giới quan chức. Và mục tiêu cuối cùng của đồng tiền vay nợ,
bán sức lao động, thậm chí bán lương tri để vay nợ lại là tài khoản ở ngân hàng
các nước tư bản. Nếu bắn bỏ kẻ tham nhũng, một lượng lớn tư bản sẽ nằm lại vĩnh
viễn trong tài khoản của các nước tư bản.
Và phiên tòa xét xử kẻ tham nhũng, đến đây, nó giống như một sân
khấu hề để trình diễn vở kịch mà đảng Cộng sản đã dàn dựng nhằm che đậy sự hỏng
hóc nội bộ, che đậy cái xấu của hệ thống cũng như trút tội vào một con dê tế
thần đang đứng trước vành móng ngựa nhằm xoa dịu dư luận. Một vở kịch không hơn
không kém, nó cho thấy hệ thống pháp luật Việt Nam là những khung kịch bản của
chế độ, mỗi luật sư, công tố viên, cơ quan điều tra, chánh án, bồi thẩm đoàn,
thẩm phán… Đều là những con rối trong vở kịch của đảng Cộng sản.
Cũng chính vì nguyên nhân, lý do này mà mặc dù Việt Nam là nước
phê chuẩn sớm nhất trong công ước về quyền trẻ em nhưng là là quốc gia vi phạm
quyền trẻ em nặng nề nhất. Sự bất công đối với trẻ em diễn ra khắp mọi nơi, từ
công viên đến quán nhậu, đường phố, nhà trường, bệnh viện… Nơi nào cũng có thể
bắt gặp những trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em bán sức lao động, làm việc cật
lực để kiếm cái ăn, bị giới chủ hất hủi, trù dập, đánh đập, bị đối xử bất công…
Và nặng nề nhất là trẻ em dân oan.
Từ những em bé dân oan chưa đầy mười tuổi phải theo cha mẹ ăn
nắng ngủ sương ở công viên Lý Tự Trọng, vườn hoa Mai Xuân Thưởng và khắp các vỉa
hè Hà Nội, phải đi lượm ve chai kiếm sống và không được đến trường cho đến em
Nguyễn Mai Trung Tuấn, cậu bé 15 tuổi vừa bị tòa án kết tội bốn năm rưỡi tù
trong tuần này tại Việt Nam. Trong khi độ tuổi của Nguyễn Mai Trung Tuấn, xét
theo Công ước về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết thì đây là độ tuổi
vị thành niên, không có bất kỳ tòa án nào được kết án em. Phải đợi đến khi em
đủ tuổi thành niên thì phiên tòa xét xử em mới hợp pháp.
Nhưng ở đây, vì đảng Cộng sản sợ hãi, họ thật sự sợ hãi khi mà sự phản
đối, phản kháng từ nhân dân càng lúc càng tăng cao. Phải nói rằng mức độ phản
kháng trong nhân dân tăng cao tỉ lệ với sự phình ra của túi tiền tham nhũng
trong giới quan chức. Chính vì sợ hãi, họ buộc phải diễn một phiên tòa nhằm
đánh vỗ mặt, nhằm chặn đứng sự phản kháng của giới trẻ và trẻ em nói riêng và nhân
dân nói chung.
Rất tiếc là phiên tòa đánh vỗ mặt này không những không làm cho
giới trẻ và trẻ em dân oan sợ hãi mà còn làm lộ bản chất láo khoét của chế độ.
Với trẻ em, không có gì đáng khinh bằng sự không thành thật. Một khi Nguyễn Mai
Trung Tuấn bị nhốt tù, bị kết án, thì có bằng bất cứ thủ pháp gì để mị dân vẫn
không thể qua mặt được giới trẻ và trẻ em. Bởi với giới trẻ và trẻ em, chỉ có
sự thật và lòng cao thượng mới thuyết phục được họ. Đảng Cộng sản Việt nam đã
sai lầm khi chọn đấu pháp đánh vỗ mặt bằng một vở kịch tồi mà nội dung của nó
là bản án bốn năm rưỡi tù giam đối với một em bé chưa đầy mười lăm tuổi.
Điều này vô tình làm lộ ra một gương mặt thật của đảng Cộng sản
trong mắt giới trẻ và trẻ em, đó là hệ thống pháp luật Việt Nam chỉ là những đạo
cụ trong vở diễn của đảng nắm quyền và càng ngày, đảng nắm quyền càng diễn
những vở kịch tồi, để lộ bản chất thiểu năng trí tuệ cũng như tính phi nhân của
họ.
Và 75% tiền tham nhũng nộp để giữ mạng sống hay bốn năm rưỡi tù
giam của một em bé vị thành niên sẽ không còn là chuyện ngạc nhiên đối với người
Việt Nam nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung khi mà tất cả đã nhận rõ bản
chất láo xược, phi nhân tính của hệ thống cầm quyền. Tất cả như một vở kịch tồi
trước lúc hạ màn vĩnh viễn. Bởi không ai muốn xem hoài kịch thiểu năng.
Ngay cả những kẻ diễn kịch, họ cũng sẽ thấy chán và xấu hổ khi
phải thủ mãi vai tồi trong một vở kịch tồi hết lần này lại sang lần khác. Cái giá
phải trả của diễn kịch tồi sẽ là đạo diễn tự loại mình ra khỏi sân khấu bởi
diễn viên thì chán bỏ công việc mà khán giả ngày càng bụm mũi, quay mặt. Lấy gì
để sống khi mà diễn viên bỏ việc, khán giả không màng xem kịch, thưa các đạo
diễn Cộng sản đáng kính?!
*Nội
dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.