Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Wednesday, April 20, 2016

Những quy định lạ đời và sai lầm thế kỷ


 
   Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 18.4.2016 


                             Những quy định lạ đời và sai lầm thế kỷ

Nói đến những quyết định và quy định lạ đời ở VN thì quá nhiều. Những quyết định người dân cho là ngớ ngẩn, cười ra nước mắt hay gay gắt hơn có người còn gọi quyết định… ngu ngốc khiến người dân cười không được khóc không xong.
Những chuyện đó tưởng rằng qua lâu rồi nhưng sự thật thì nó vẫn còn đó và đến nay lại nguy hại hơn rất nhiều. Đó là công trình làm thủy điện Thủy điện An Khê - Ka Nak tại Gia Lai.

Ngày 1/4 vừa qua, phát biểu trước Quốc hội, ông Huỳnh Thành, ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, Thủy điện An Khê - Ka Nak là “công trình sai lầm thế kỷ”, hủy hoại môi trường; gây hạn hán và ngập lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hàng triệu người ở hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên. Tôi sẽ tường thuật ở phần sau.

Trước hết tôi điểm lại một vài quyết định lạ đời đã từng được dư luận đả kích kịch liệt, còn gọi là sản phẩm của những anh ngồi bàn giấy vẽ hươu vẽ vượn cho có việc làm.
Gọi là ngu ngốc thì hơi quá đáng nhưng không hẳn là không đúng với những bộ óc ngắn, chức vụ lại cao nhờ “nhất thân nhì thế”, nhờ chạy cửa trước, luồn cửa sau, đồng bạc đâm toạc tờ giấy, cứ có tiền là chạy chức gì cũng xong.

Tôi nghĩ chính những quyết định ngớ ngẩn này đã dẫn đến tình trạng “sai lầm thế kỷ” như hiện nay. Vì thế tôi điểm lại những quyết định đó trước. Chắc một số bạn đọc còn có thể nhớ đến những chuyện khôi hài này.

Yêu cầu nhân viên trạm thu phí…khâu túi quần áo

Đầu tháng 4-2006, các nhân viên của Trạm thu phí trên đường Bắc Thăng Long - Nội Bài hết sức ngạc nhiên khi ông trạm trưởng đột ngột thông báo: Để ngăn chặn tiêu cực xảy ra, từ ngày 15-4-2006 toàn bộ cán bộ, nhân viên của trạm phải khâu túi quần, túi áo lại khi đi làm. Lúc đầu các nhân viên đều nghĩ ông trạm trưởng... đùa.

                                                       
                                                    Quyết định nhân viên phải khâu túi áo túi quần

Một số người gọi điện thoại đến các trạm thu phí khác của Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 234 (Cục Đường bộ) thì nhận được thông tin "sếp" bên đó cũng yêu cầu nhân viên phải khâu túi quần, túi áo khi đi làm!
Thắc mắc lên lãnh đạo Công ty 234 thì giám đốc cho biết: "Tất cả các trạm thu phí của công ty, nhân viên phải khâu túi quần, túi áo lại khi đi làm". Chả biết quy định này có hiệu quả như thế nào trong việc ngăn chặn tiêu cực nhưng mới thực hiện được mấy ngày, nó đã khiến người ta phải cười ra nước mắt!

Trước quy định của cấp trên, anh T.M.T không biết phải "báo cáo" với cô vợ mới cưới như thế nào, nhờ mẹ thì lại càng dở. Tính toán mãi, đến đêm hôm trước ngày quy định có hiệu lực, T. phải tự làm lấy.
Nửa đêm chờ vợ ngủ, T. mới lọ mọ dậy tìm kim chỉ tự khâu túi quần, túi áo của mình. Chiếc túi quần mới khâu được một nửa, cô vợ thức giấc. T. giải thích thế nào vợ anh cũng không tin, cho rằng T. bị mộng du.

Đúng là một quyết định lạ nhất thế giới chỉ có thể xảy ra ở VN trong thời đại này thôi. Xin kể thêm một “luật mới” cũng quái đản không kém:

Ngực lép không được lái xe

Thông tư này thực chất tồn tại từ năm 2001 – 2008.
Thông tư quy định việc cấp bằng lái xe: Giấy phép lái xe chỉ được cấp cho người có cân nặng trên 40kg, vòng ngực từ 72cm trở lên…

                                    
                                 Quy định ngực lép không được lái xe trên 50cm3 một thời gây bão dư luận

Câu chuyện về tiêu chí sức khỏe bỗng chuyển thành luận bàn về vòng 1 của phụ nữ, không ít người còn bày tỏ sự cảm thông với những chị em ngực bé! Nhiều cô hỏi nhau không biết cảnh sát giao thông có cầm thước dây đi đo vòng 1 của chị em ta không?​

                                    
                                 Các bà, các cô rủ nhau đi nâng cấp vòng 1 cho đạt tiêu chuẩn của quy định

Nhưng sau đó “dự thảo mới nhất của Thông tư liên tịch” quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe đã bỏ quy định “ngực lép”, song thêm vào đó là các quy định gù, vẹo, ưỡn cột sống... không được lái xe.

Đúng là lắm thầy thối ma “càng sửa, càng sai; càng sai lại càng sửa”. Cứ như thế dân bị quay tít mù chẳng biết đâu mà mò. Thôi thì ngực to hay bé, ngực gù hay vẹo cũng cứ lái xe rồi tới đâu thì tới.
Các anh Cảnh Sát Giao Thông (CSGT) có quyền “kiểm tra” mới phạt được. Mấy bà mấy cô đành “sẵn sàng cởi áo” thôi chứ phản đối là “chống lại người thi hành công vụ”, có mà đi tù như chơi!

Còn một quy định khác ảnh hưởng tới số đông người thành phố:

Quy định cấm bán bia vỉa hè

Ngay khi dự thảo nghị định trên được công bố để lấy ý kiến người dân, dư luận đã phản ứng khá gay gắt với những điều khoản được cho là “trên mây”. Trong đó, gây tranh luận, phản ứng và chỉ trích nhiều nhất là các điều khoản quy định cấm bán bia trên vỉa hè; quy định này ghi rõ: cấm bán bia cho người có biểu hiện say bia, say rượu và cấm bán bia cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

                                    
                                                               Bán bia trên vỉa hè tràn ngập khắp nơi

Một người dân bình thường còn thấy ngay sự ngớ ngẩn, đặc biệt là không thể thực hiện được các điều khoản vậy mà các nhà soạn thảo thảo vẫn cứ thản nhiên đưa vào.

Gần đây nhất cũng có một số quy định vừa đưa ra bị phản đối rồi phải bỏ. Như quy định Phạt người đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn; xử phạt xe hơi dưới 9 chỗ không có bình cứu hỏa; cấm quay phim, chụp ảnh CSGT; Cục kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp) vào cuộc kiểm tra và kết luận văn bản này có nhiều điểm không đúng quy định của pháp luật và vượt quá thẩm quyền. Bị Bộ Tư Pháp "tuýt còi", Cục Cảnh sát Giao thông đường bộ - đường sắt đã huỷ quy định này.

Vậy mà luật pháp vẫn liên tục cho ra đời những quy định phi thực tế, bất khả thi.
Ví dụ:

- Nghị định số 45/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế có quy định hành vi hút thuốc lá nơi công cộng bị phạt từ 50.000 đến 100.000 đồng.

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP về chống bạo lực gia đình quy định chồng chửi vợ hoặc vợ chửi chồng có thể bị phạt đến 1 triệu đồng; đối xử tồi tệ với thành viên gia đình, bắt ăn đói mặc rách... có thể bị phạt tới 2 triệu đồng.

Đã nhiều năm áp dụng, chưa ai hút thuốc nơi công cộng hay mắng vợ chửi chồng bị phạt cả! Và gây tranh cãi là điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015 (có hiệu lực thi hành từ tháng 7-2016) đề nghị truy tố người ngoại tình. Theo hầu hết các luật sư, đây là điều luật “vui là chính”! Và còn hàng loạt quy định được ra đời từ phòng máy lạnh như thế đang nằm im ỉm trong các tủ sách pháp luật.

Đó chỉ là vài cái quyết định lẩm cẩm tưởng rằng qua đi rồi thôi. Nhưng thực ra đó chính là những mầm mống phát sinh ra những quyết định sai lầm lớn hơn, tai hại hơn. Thế nên mới có chuyện cho ông Huỳnh Thành, Đại biểu QH tỉnh Gia Lai cho rằng, Thủy điện An Khê - Ka Nak là “công trình sai lầm thế kỷ”.

Công trình thủy điện lạ lùng nhất trên thế giới

Kể từ lúc Nhà máy Thủy điện An Khê - Kanak đi vào hoạt động, hàng trăm gia đình dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định rơi vào cảnh khốn đốn vì mất đất vào mùa mưa, thiếu nước tưới vào mùa khô. Có quá nhiều dư luận về sự thiệt hại khổng lồ này, tôi chỉ nêu những thiệt hại đáng kể nhất.

                                    
                                            Sông Ba từ một dòng sông lớn, giờ đây đã trở thành... đồng cỏ                                    
                                                       
Không chỉ làm cuộc sống hàng chục vạn gia đình dân hạ lưu sông Ba thuộc 2 tỉnh Gia Lai, Phú Yên bị đảo lộn, từ nhiều năm qua, việc lấy nước sông Ba trả về sông Côn của Nhà máy Thủy điện An Khê - Kanak còn khiến nhiều người dân Bình Định điêu đứng.

Thủy điện “nuốt” đất

Năm năm trước, dọc 2 bên bờ suối Cát (đoạn chảy qua thôn Thượng Giang 1, xã Tây Giang và thôn Trung Sơn, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) là những ruộng bắp, đậu xum xuê thì nay bị bỏ hoang, khô cằn. Hai bờ suối bị xâm thực, khoét sâu, tạo thành những bức tường dựng đứng, cao 4-5 m.

                                     
                                                                   Nhiều cánh đồng nứt nẻ do hạn hán

Theo người dân địa phương, trước đây, lòng suối Cát chỉ khoảng 15-20 m. Thế nhưng, từ năm 2011, khi Nhà máy Thủy điện An Khê - Kanak bắt đầu xả nước, suối Cát cứ thế “ngoạm” dần vào đất hoa màu, nhiều đoạn bị phá rộng đến 100 m.

                                    
                                         Nhiều khu vực đồi núi thuộc tỉnh Gia Lai trọc lóc, không có cỏ cây

Nhà máy Thủy điện An Khê - Kanak xả nước với lưu lượng lớn vào suối Cát nhưng không làm kè chắn đã gây sạt lở nghiêm trọng, làm người dân mất đất sản xuất.

Ông Ngô Tốt, Chủ tịch UBND xã Tây Giang, xác nhận chính việc Mùa khô năm nay, trong lúc người dân khổ sở vì nước cạn kiệt thì nhà máy cắt nước khiến suối Cát trơ đáy. Hậu quả, gần 150 ha lúa vụ đông xuân của hàng trăm gia đình dân huyện Tây Sơn đang trong giai đoạn làm đòng, trổ bông có nguy cơ mất trắng.

                                    
                                            Những cánh đồng nứt nẻ, lúa khô héo để bò ăn ở Tây Nguyên

Còn tại thị xã Ayun Pa (Gia Lai) đến rơm rạ cũng không có để cho bò ăn. Người dân phải tìm mua để cứu đàn bò khi hết cỏ. Chị Rơ Chăm Huyên cho biết cứ hơn một tuần phải mua một xe rơm giá gần 2,5 triệu đồng cho 7 con bò.

Từng bị lũ “chôn sống”

Công trình “sai lầm thế kỷ” đã gây ra nhiều hệ lụy, thậm chí là thảm họa cho người dân.
Điển hình, ngày 15-11-2013, nước từ trên núi An Khê đổ xuống, cuốn trôi đất cát đổ ập xuống Nhà máy Thủy điện An Khê. Bùn cát theo nước lũ đổ tràn từ bên ngoài vào trong nhà máy gây ngập cả 2 tổ máy đặt dưới tầng 1. Tai nạn này khiến nhà máy ngưng vận hành trong hơn 1 tháng, “chia nước” xuống sông Côn với lưu lượng lớn tràn ra sông Ba, làm ngập, sập nhiều nhà dân và hàng trăm hecta hoa màu, “chôn sống” nhiều nhà dân.
Lần đầu tiên trong lịch sử, thị xã An Khê phải hứng chịu một trận lũ lịch sử.
Điển hình, vào ngày 25/5/2011, Nhà máy thủy điện An Khê- Kanak đã bất ngờ xả nước khiến 50 ha hoa màu của người dân bị ngập úng, 10 con bò bị nước cuốn trôi, 62 máy nổ, máy bơm nước của các gia đình dân ở huyện Kbang bị cuốn trôi… Thiệt hại khoảng 10 tỷ đồng nhưng các gia đình dân chỉ được đền bù 4,5 tỷ đồng.

Chủ tịch “Công trình sai lầm thế kỷ” được nguyên Chủ tịch tỉnh “lén” ký đồng ý

Theo báo Dân Trí, dẫn lời ông Huỳnh Thành, ĐBQH tỉnh Gia Lai tố cáo: “Trước đây, khi xây dựng nhà máy đã xin ý kiến Thường vụ tỉnh ủy nhưng không được thường vụ nhất trí, lúc đó đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh nói các nhà khoa học nói hợp lý nên đồng chí ấy đã ký đồng ý cho xây dựng nhà máy. Và sau này mới biết đồng chí ấy đã ký và đồng chí ấy đã nói như vậy. Và mặc dù có nhiều ý kiến phản đối của các cơ quan ban ngành tỉnh, nhưng người ta vẫn xây nhà máy vì có văn bản ký đồng ý của Chủ tịch nhưng không thông qua Thường vụ”.

Nói rõ hơn là ông chủ tịch tỉnh đã lén lút ký cho phép xây nhà máy thủy điện này. Tại sao ông chủ tịch tỉnh phải lén lút ký vội vàng như thế mà không nghe bất kỳ sự đánh giá nào của các nhà khoa học cũng như của những “đồng chí” cùng làm việc với mình? Tất nhiên phải có một sự bất minh nào ở đây.
Không cần nói rõ mọi người đều thừa biết rằng sự sai lầm thế kỷ này nó được xây dựng chỉ vì cái túi  tiền của anh nhà thầu to quá. Điều này vẫn chưa được làm sáng tỏ trong khi sự phẫn nộ của người dân VN ở khắp nơi đang lên án mạnh mẽ.

Như ông đại biểu Thành đã nói trước Quốc Hội: “Việc xây dựng Thủy điện An Khê – Ka Nak đã chuyển hướng một dòng sông lớn đang nuôi sống hàng triệu dân như vậy trên thế giới không bao giờ có”.

Vậy là quan đầu tỉnh VN hơn hẳn thế giới về cái sự mờ mắt làm hại cả một vùng dân cư rộng lớn này. Bán cả cái văn phòng tỉnh ấy đi cũng không đủ tiền đền bù cho dân. Kết quả là anh dân đen đành chịu cho quan đầu tỉnh hành hạ chứ không phải vì thiên tai bão lụt.

Cái nạn các quan lớn đã ít học lại nhắm mắt làm liều thành thứ bệnh còn đáng sợ hơn cả thiên tai bão lụt.
Văn Quang
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

                                                                              ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

Posted by: "Nhat Lung" 

THÁNG TƯ ĐEN KHÔNG DỄ GÌ QUÊN





                                                                                                                                                                                                                              Sài Gòn Nh - Thơ Hng Thúy & Phan Ni Tn ph nhc


VĂN NGHỆ


THÁNG TƯ ĐEN KHÔNG DỄ GÌ QUÊN 
                                              Lê Thị Hoài Niệm 

~~~~~~~~~~

Bên này bờ Thái bình dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân được quá nhiều tự do (vẫn có ít điều cần giới hạn) từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “Quốc Hận Tháng Tư Đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó. 
Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm, thì các  tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt, nên hầu hết phải “mướn ca sĩ chuyên nghiệp” ở các trung tâm băng nhạc lớn về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ quân lực VNCH ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài  ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?”  hay “lâu đài tình ái”…. chẳng hạn. Thật hết ý. 
Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về tháng tư đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền Trung, miền cao nguyên, những con đường kinh hoàng như tỉnh lộ 7 ở Hiếu Xương-Phú Yên, xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có mang những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!).. 
Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm nhảy dù, biệt động quân, địa phương quân, nghĩa quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy, lột bỏ quần áo nhà binh và xin thường phục của người dân mặc vào để chạy!!!!. (?)
Người ta còn “sưu tầm” cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe. Có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có …bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng ngài đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào …sát nách, mà có những "ngài lãnh tụ", một đám quan to, tướng lớn lại yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm tự lúc nào. Bao nhiêu năm tháng nắm quá nhiều chức tước, binh quyền mà không làm gì được, để bọn giặc Hồ đem chủ nghĩa cộng sản ngoại lai vào tuyên truyền áp đặt lên người dân miền Bắc bấy lâu nay, giờ đang tràn xuống xâm chiếm miền Nam và cái đám mệnh danh “trí thức miền Nam” cũng theo đóm ăn tàn, nối giáo cho giặc.  Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan dã man hung tợn… Hằng năm và hằng năm tiếp nối chắc không bao giờ kể hết chuyện.
Người ta hát những bài “Nhớ về Sài gòn, Sàigòn niềm nhớ không tên, Sài gòn vĩnh biệt”, nghe cũng buồn ray rứt dù nội dung lời ca thường là những cuộc vui chơi, ca hát ở vũ trường, và dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm  đông như đi chợ (?). Nhưng sao  người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Sài gòn làm gì có trọn…tháng tư đen năm ấy ? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn sau ngày “ mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận)  tuyên bố đầu hàng. 
Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh (nay về bên kia thế giới rồi), đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khởi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mới bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi, hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “Em ra đi nơi này... mất hết!”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn ..lải nhải, tung hê! 
Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là Thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng tư, như Nha trang, thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “Tháng Tư Đen”.  
Ngày đó. 
Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban mê Thuột, Pleiku, từ Phú bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày giữa tháng ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.
Một buổi chiều, vừa từ trường về, người bạn đã chạy ào vào nhà và báo tin: “cháu chị U đã chết cháy rồi!”. Tin thật buồn với sự chết chóc đã đến gần sát. Người vừa ra đi là  một Pilot  Trực thăng, và đơn vị đang hành quân ở BMT. Tàu anh đã trúng đạn phòng không của địch quân, bùng cháy như cột lửa ở trên không. Chạy đến nhà chị U, nhìn chị và bà con trong nhà khóc than,  cả bọn chúng tôi vừa đến cũng chụm đầu lại khóc.
Về nhà lại gặp một người bạn không quân tìm đến thăm (là ba của các con tôi hiện tại), khi biệt đội của anh từ Cần Thơ, biệt phái ra để phụ giúp với các đơn vị bạn. Đáng lẽ ở căn cứ Pleiku, nhưng vì đơn vị trên đó cũng đã di tản, nên các anh lại kéo xuống phi trường Nha trang. Ngồi nghe anh kể những bữa đổ quân khó khăn với quá nhiều phòng không địch, những chuyến hành quân tiếp tế, và đặc biệt là cứu “dân chạy loạn”. Từng đoàn người, đoàn người từ các tỉnh cao nguyên chạy về,  phải đi bằng đường rừng, vì quốc lộ 21 đã bị VC chiếm mất từng đoạn. Họ băng rừng, vượt suối bồng bế gánh gồng mà đi, có người đàn bà đã “sanh rớt” trên đường chạy loạn, may mà Trực thăng đã nhìn thấy nên đáp xuống  chở về nhà thương. Có hôm anh phải bay thật thấp để hướng dẫn đoàn người đi lạc trong rừng sâu có thể đi ra con đường mòn lớn hơn mà về được Khánh Dương (anh Th/tá ĐS Phước-Công binh, là một trong số “người di tản buồn” đã nhận ra tài xế “chiếc trực thăng cứu nạn” trong những ngày gian khổ đó, nên “quí anh nhiều” ở những ngày tháng sau này). 
Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển. 
Một vài ngày cuối tháng ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,
Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền Nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơi giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang vừa đón một lớp người mới đến, có  một số “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ và làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu hải quân cặp bến cảng Cầu Đá??? Chẳng ai dám ra đường thường xuyên nữa, trong số đó có tôi, nếu không có việc gì cần và không có người đàn ông đi chung.
Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà  con gái sẽ  bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi tải đạn. Nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên quốc lộ số một kia đang thấy trên truyền hình. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn,  mặc dù cá nhân tôi đã được người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi đêm cuối cùng của tháng ba khi đơn vị anh trở về căn cứ ở miền Tây..
Buổi sáng ngày một tháng tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham mưu, là một trong những thành viên của  phái đoàn về Nha trang dự họp với tướng Ph. mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi. Cổng đóng, quân cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài. May quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một “ông quan lớn”.
Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, chán nản tột cùng. Vừa về đến nhà, đã thấy người bạn phi công phản lực vừa từ Phan Rang chạy về, anh nói muốn đến...từ giã tôi, anh hỏi tôi có muốn di tản không? vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi đang nói lời chúc Anh trên đường về Sài Gòn được bình yên, thì người chị bà con tên Sương Mai xuất hiện, tôi đẩy chị lên yên sau chiếc xeLambretta cùng đi với anh, và “tặng” chị chiếc khăn quàng Hướng đạo sinh tôi đang đeo trên cổ để chị làm kỷ niệm. Tôi nhìn theo mà mắt cay cay, miệng vẫn lầm thầm cầu nguyện cho hai chị em đến nơi an toàn,  dù gì, chị cũng từng là “chị kết nghĩa” của anh ấy.
Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ “trấn an” ba má và gia đình tôi rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh quốc cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi nghĩ đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để trấn an chứ họ cũng đâu biết gì hơn. (sau này đọc được trong “Cuộc Đời Binh Nghiệp của ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN- Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH do tác giả Đặng Kim Thu viêt có đoạn nói đến chuyện chia đất từ Đèo Cả là có thật. Xin trích:
Ngày 13-3-73, Tướng Trưởng được lệnh vào Saigon họp. Trong phiên họp tại phòng hành quân ở dinh Độc Lập, có sự hiện diện của Thủ Tướng Khiêm, Trung Tướng Quang, và tôi (ông Viên) TT Thiệu lấy cây viết gạch trên bản đồ VN, xóa vùng Cao Nguyên và Vùng I, rồi vạch một đường từ Ban Mê Thuột đến Nha Trang, rồi nói rằng chúng ta sẽ còn giữ phần đất dưới đường này. Từ đèo Cả trở ra Quảng Trị là phần đất dành cho Mặt Trận GPMN. Ông Thiệu nói với ông Trưởng:
- “Đây là chỉ thị của tôi. Phải thi hành, nhưng giữ bí mật. Không được nói lại cho ai!” (có lẽ tin này rò rỉ ra ngoài.)
Xong buổi họp, Tướng Trưởng theo tôi về văn phòng, có ý trình bày thêm về lệnh của ông Thiệu. Ông Trưởng nói:
-”Tôi không thể thi hành lệnh vừa rồi của Tổng Thống, vì tôi đã hứa với đồng bào ở Huế là tôi sẽ giữ Huế. Xin Đại Tướng chỉ thị một tướng khác để làm việc đó.") ngưng trích.
Khi họ đi rồi, ruột gan tôi héo hon quặn thắt, nhất là mỗi khi nghe tiếng máy bay cất cánh rời phi đạo xé nát không gian, hay những tiếng trực thăng xành xạch rồi nhỏ dần về hướng nam…
Cô bạn S. hàng xóm nhà đối diện, xách một túi hành trang chạy sang, rủ tôi cùng xuống bến Cầu Đá, vì “tàu hải quân”, mà anh trai của cô là Hải quân thiếu tá trên đó, sắp rời bến cảng, tôi đành chúc cô thượng lộ bình an, tôi không nỡ bỏ gia đình mà đi được.
Buổi xế chiều đó, một người anh họ mặc đồ Lính đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Tuy Hòa vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị trúng đạn, tìm đường về nhà tôi để buộc lại vết thương. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét lên: “sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!”
Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên ngoài đường: ai có con gái lớn hãy tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó..
Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt chiếc Yamaha của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, hai em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe, sẽ chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có khu vườn  trồng nhiều cây ăn trái, với căn nhà nhỏ.
Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi cũng phóng nhanh qua mấy con đường để ra xa lộ số Một, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài lên Thành với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..…và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường. 
Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, bỗng nghe có tiếng gọi tên mình. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung tâm huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây vì kẹt cây cầu đàng trước.
Chia tay với quí anh trong bịn rịn, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng  đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “rút chạy” mà không biết sẽ ra sao ngày sau???  
  
Mới lách luồn một đoạn ngắn, lại có ai gọi mình, quay lại gặp người anh lính Đại úy làm trong ...Quân sự mấy bên gì đó, con của người cậu ruột cũng trong đoàn người di tản, anh nói “ba đứa lui ra sau, anh...lái xe cho!”, nhưng anh vừa ngồi lên yên, thì cái bánh xe...xẹp lép, thế là anh...leo xuống, chúng tôi chạy tiếp.
Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda đàn ông, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng đoàn người đang ở trên cầu cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gìvà cũng không thể dừng lại khi mà đoàn xe sau cứ lao tới. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? Hóa ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người…đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Và trong đó có cả chính bản thân tôi. Buồn thật!
Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống. Mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Những hạt nước mưa nặng nề rơi xuống như muốn cuốn trôi dùm nỗi uất nghẹn trong tim của những con người bất lực, đang thua chạy mà không biết tại sao mình bị thua? Nhìn ra đường, đoàn người ướt nhẹp vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy. Đoạn đường Suối Dầu này, ngoài những khu vườn trồng cây ăn trái với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng bảy…(?)
Chiều xuống dần, mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên quốc lộ I.Lúc này đoàn người di tản đã đi về phía trước, chỉ còn những xe nhỏ chạy vụt qua. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa, Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng  trên đầu mộ.
Sáng ngày 3 tháng tư, anh lớn tôi vào gọi về vì “quân giải phóng” đã vào chiếm thành phố Nha trang hôm qua. Để hai em tôi ở lại trong vườn vì người đã đem thêm gạo mắm cho các em đủ sống một thời gian, vì về ngoài NT đang lộn xộn lắm. Riêng tôi phải về vì dưới phòng Giáo dục, “chánh quyền mới đã tiếp quản” và cho người đi lùng sục từng nhà kêu gọi các Thầy cô giáo “không di tản” phải ra trình diện gấp. Anh tôi nói có một nhóm người đã ra tận đèo Rù Rì để đón mừng “Cách mạng"(?), và hú hồn vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó.  Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để hãm hiếp (?). Về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường, nhà xí v..v…Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi, cùng lúc, những căn cứ quân sự, những cơ sở chính quyền, nhà dân bị bỏ trống, đã bị nhiều nhóm người khác nhau đến “hôi của” đốt phá. Thành phố đã hỗn loạn giờ thêm cảnh điêu tàn, nhếch nhác..
Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “tháng tư đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố. Những chiếc xe “molotova” kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc trên đường, trên xe chở đầy những bộ đội mặc quần áo màu cứt ngựa và nón cối đội đầu, cả người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn “quân giải phóng” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện  ăn mừng chiến thắng (?).
Giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó truyền đi qua làn sóng đài phát thanh, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình, và phát thanh những bài hát có lời "ca tụng bác Hồ" với giọng the thé đi lên, đi lên chói óc. Những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối mặt ngơ ngơ ngáo ngáo, nhìn xiên nhìn xéo trầm trồ, xuýt xoa, cứ vừa đi vừa nói chuyện với nhau bằng chất giọng lơ lớ như người miền núi mà thở dài ngao ngán và tự hỏi: những người chiến thắng đây sao?. Mặc dù người thành phố đã cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.
Chuỗi ngày tiếp theo thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng tư đen đúng nghĩa. Thành phố trống vắng, hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập, giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe. Đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi sách báo, tài liệu, của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang (nhà tôi đã chôn nguyên một “thùng phuy” sách báo cũ đủ loại ở sân sau nhà, về sau đào lên cho bạn bè...mượn coi, và bị ...mất hết). 
Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom vào mỗi đêm, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ“Mặt trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh, “quân giải phóng” ra rả loan tin “bọn Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Ngụy miền Nam ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “cán bộ xây dựng nông thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi vào Nam, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện sẽ được “khoan hồng”, đã bị “cách mạng dẫn độ” về T.Hoà và bị “chặt đầu” không chút nương tay. Ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để  ráp lại cho nguyên vẹn hình hàihầu mai kia còn... “ăn cúng”. Có người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội” bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương, dù người bị mất cắp “năn nỉ van xin bộ đội khoan hồng đừng xử bắn”. Nhưng những con người vô cảm kia vẫn thi hành mệnh lệnh. Người dân thành phố cảm nhận được nỗi mất mát tột cùng nhưng không biết làm gì hơn. 
Những Thầy Cô giáo như chúng tôi, vào những ngày sau đó, buổi sáng bị bắt buộc phải trở lại trường để “học tập chinh trị”. Nhưng buổi chiều không đến trường, cứ khoảng hai giờ là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, khu nhà ở “cải lộ tuyến” hoặc khu Đại Điền xin ngủ nhờ qua đêm, chọn những gia đình có “hầm trú ẩn”. Vì cha mẹ già sợ bom đạn từ “phe ta” trở về thả bom, tai bay họa gửi chẳng biết đâu mà tránh. 
Dù đã đi khỏi thành phố, nhưng nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng phải chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Ngụy” không còn trở lại thăm viếng tặng bom. 
Hỡi ơi! Khi “rút chạy”, những người “có thẩm quyền” đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, như tài liệu văn phòng, những hồ sơ cần thiết, hay những cây cầu chiến lược để xe giặc khỏi đi qua. Giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến Thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người “tị nạn” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học lớp năm của cô Q hay Y(?), phía bên dãy trường Sư phạm Nha Trang (hồi đó S P N T chỉ có hai lớp học, nên họ dùng mấy phòng của trường Nam, và chúng tôi là những thầy cô giáo dạy và “chấm điểm”cho môn “sư phạm thực hành”), vì quả đạn trúng sập căn phòng . 
Buổi sáng trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn tên T.(có chồng là sĩ quan Hải quân đã không liên lạc được) bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc ròngvì đường vắng tanh đến lạnh người, lại tủi thân, xót phận của người bỗng chốc thành kẻ thua cuộc, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp, thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng….
Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua. Những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của tháng tư đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” luôn đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô giáo phải đến trường, nhưng có lúc mới đi đến giữa đường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi trên làn sóng đài phát thanh chát chúa oang oang: “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của bọn Ngụy tại Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…”thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!”. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng. 
Ôi Tháng Tư Đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai” bắt đầu một chế độ mới. Khi mà nửa đêm về sáng của ngày mồng một tháng 5, người dân thành phố Nha trang đã bị những “cách mạng 30” đến gõ cửa từng nhà, kêu gọi tập trung tại sân vận động để “chào mừng lễ lao động” nhưng thật sự là ăn mừng chiến thắng, khi mà những loa phóng thanh bắt đầu chỉa vào nhà dân lúc 5 giờ sáng, bắt người dân phải nghe những lời ca…chói óc, the thé ca tụng “bác và đảng” (những Thầy Cô giáo về sau cũng phải hát thuộc lòng những bài hát đó ở trong trường để dạy lại cho học trò, nếu còn...đứng lớp). Những bản tin thắng trận, những “tội ác Mỹ Ngụy”…v…v được loan tải từng giờ, nghe mà ớn lạnh. Tiếp theo là những ngày ăn cơm độn với gạo mục, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu đi cửa hàng lương thực chờ chực cả nửa ngày mới mua được vài ký rau muống già….. Người thì bị đi tù mút chỉ không biết ngày ra, quá nhiều gia đình ly tán. Người tuổi trẻ bị bắt vào đội “thanh niên xung phong” lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn, chịu bao nỗi khổ ảỉ đắng cay. Đã vậy thêm lớp người mới mang băng đỏ, chuyên đi lùng sục bắt bớ những người “chưa chịu tuân thủ” lệnh của chính quyền mới, vào nhà vơ vét tài sản của dân lấy cớ tịch thu “sản phẩm đồi trụy của Mỹ Ngụy”...vv..vv,  đã tạo thêm nỗi kinh hoàng cho những người dân ở thành phố vừa bị đổi chủ…, những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….
                                                Lê Thị Hoài Niệm 
                                                 Tháng Tư Đen 2016


~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

Posted by: "Nhat Lung"

Tuesday, April 19, 2016

Viết từ Saigon: Những phát ngôn gây sốc tại Quốc Hội VN


 
 

Viết từ Saigon: Những phát ngôn gây sốc tại Quốc Hội VN

Văn Quang

Viết từ Saigon: Những phát ngôn gây sốc tại Quốc Hội VN
Trong những kỳ họp thường lệ của các Đại biểu Quốc Hội (ĐBQH) kỳ này vào tháng 3 bước sang đầu tháng 4 năm nay, có khá nhiều ông bà Đại biểu phát biểu những ý kiến rất táo bạo, người dân có vẻ khoái chí lắm cho rằng các ông bà ấy đã nói lên được tiếng nói của người dân. Báo chí VN lề phải đều nêu những hàng tít vedette ca ngợi om xòm. Tôi cũng hy vọng thế, nhưng… liệu đây có phải là một kiểu cho gáo nước lạnh làm giảm bớt cái nóng sôi sùng sục như cái nồi súp de muốn nổ tung trong lòng người dân không? Bởi kinh nghiệm cho thấy, các “cụ ông cụ bà” ấy nói gì thì nói, mọi sự “tiêu cực” và xã hội vẫn y nguyên si không thay đổi. Thế là sao? Ai trả lời câu hỏi này? Phẫn nộ của những người dân bị chèn ép, bị địa phương đè đấu cưỡi cổ, bị cướp nhà cướp đất vẫn còn nguyên đó. Có chăng sự giải quyết hay còn gọi là “xử lý” vẫn chỉ là những lời hứa và hứa, chẳng biết bao giờ mới thực hiện. Cái nồi súp de đã nóng càng thêm nóng như mùa này ở Sài Gòn mới sáng sớm đã nóng điên người.
Tôi trích những phát ngôn ấy để bạn đọc dễ nhận định. Trước hết phải kể đến lời phát biểu khá đầy đủ của một bà nữ đại biểu QH thuộc đoàn đại biểu Thành phố Sài Gòn. Phần này tôi tường thuật nguyên văn:
Bảy nỗi lo của người dân Việt
Phát biểu ý kiến về báo cáo tổng kết nhiệm kỳ hoạt động Quốc hội ngày 28-3-2016, đại biểu Võ Thị Dung nói: Trong nhiệm kỳ qua nổi lên 7 nỗi lo và 3 mong ước của nhân dân cả nước.
– Thứ nhất, đó là nỗi lo về ngoại xâm. Trung Quốc đã ngang nhiên xâm chiếm biển đảo của Việt Nam, trước đây là quần đảo Hoàng Sa, nay thêm một số đảo ở quần đảo Trường Sa. Dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng biện pháp hòa bình, nhưng họ ngày càng lấn tới. Đó là nỗi lo lớn về đại sự quốc gia.
– Thứ hai, đó là nỗi lo về nội xâm. Quốc nạn tham nhũng lớn, nhỏ, tham nhũng vặt ngày càng gia tăng, ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều người, việc gì cũng phải lót tay, phải chạy, phải lại quả, việc gì cũng cần phong bì, gây nên một nếp sống nguy hại cho xã hội. Tình trạng lãng phí đó cũng là quốc nạn gắn với tham nhũng, làm cản trở sự phát triển đi lên của đất nước.
– Thứ ba, đó là nỗi lo về suy thoái đạo đức xã hội. Đạo đức giả ngày càng lấn át đạo đức thật, chủ nghĩa thực dụng ngày càng phổ biến trong một bộ phận xã hội và tính tham lam, tính ích kỷ, tệ dối trá, lừa đảo, cướp giật, giết người, mất an toàn trong vệ sinh an toàn thực phẩm và một số tệ nạn xã hội khác đang tạo sự bất an cho nhân dân.
– Thứ tư là nỗi lo về tụt hậu kinh tế. Năng suất lao động thấp, hủy hoại cạn kiệt tài nguyên và các tiềm năng nguồn lực của đất nước do việc đổi mới chưa triệt để, chưa theo kịp sự phát triển của thế giới rất năng động và sáng tạo.
– Thứ năm là nỗi lo về nợ công quá cao, chưa có biện pháp giải quyết căn cơ, ảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế và đời sống nhân dân; lo bội chi ngân sách lớn và triền miên do còn tiêu xài quá đà, lãng phí chưa chịu dừng.
– Thứ sáu là nỗi lo văn hóa dân tộc đang bị mai một, xuống cấp.
– Và cuối cùng là nỗi lo về sự thiếu kỷ luật, kỷ cương trong lãnh đạo quản lý điều hành, dẫn đến tùy tiện, buông lỏng, đại khái, qua loa trong thực hiện, làm giảm hiệu lực chủ trương, chính sách pháp luật, làm trật tự xã hội suy yếu và mất dần động lực phát triển.
Bà Dung kết luận: “Nhân dân cũng mong ước bộ máy của Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp thực sự tinh hoa trí tuệ, thực sự tận tụy, thực sự liêm chính. Xã hội dân chủ, kỷ cương, an bình, văn hóa dân tộc được duy trì và phát triển bền vững, đất nước được thanh bình, thịnh vượng. Đó là mong ước rất chính đáng, vì vậy cần công khai hơn nữa toàn bộ hoạt động của Quốc hội để nhân dân cử tri theo dõi, giám sát”
Mối lo nguy nhất, sâu xa nhất
Bài phát biểu của bà Dung hầu như đã nói lên gần đầy đủ những tệ nạn của cả xã hội hơn 90 triệu dân VN hiện nay. Duy chỉ một điều đáng nói nữa là Quốc Hội VN và các cơ quan công quyền sẽ đưa ra biện pháp nào để chấn chỉnh quốc nạn đó thì chưa thấy đâu.
Mối lo nguy nhất, sâu xa nhất chính là “văn hóa dân tộc đang bị mai một, xuống cấp đạo đức sói mòn, đạo đức giả ngày càng lấn át đạo đức thật” như lời bà Dung nói. Khi đạo đức mỗi ngày một bị bào mòn bởi chính con người thì xã hội phải loạn. Lương tâm loạn nên người dân cũng hại người dân, đầu độc chính bà con anh em đồng bào mình. Cái thời thế nhiễu nhương, nhân quần đảo điên này làm sao mà chấn hưng được. Khi cái gốc gác đã bị xới bật tung thì cái thân phải mục ruỗng. Nó đòi hỏi một thời gian hàng trăm năm mới hy vọng có thể thay đổi. Nếu người ta muốn thay đổi, còn không muốn thay đổi vì chút quyền lợi riêng tư thì chẳng bao giờ thay đổi được đâu. Dân vẫn cứ khổ, trăm bề khổ chứ chẳng phải chỉ có 7 nỗi khổ.
Còn khá nhiều câu phát ngôn đáng chú ý xung quanh cuộc họp Quốc Hội kỳ này. Tôi tóm lược vài nét về những phát ngôn có thể gọi là “gây sốc” đó.
Dân không “chán lắm rồi” mà… ngấy lên tận cổ!
Phát biểu tại phiên thảo luận, đánh giá tổng kết nhiệm kỳ hoạt động khóa XIII, cũng trong ngày 28/3, Đại biểu Lê Nam – Phó trưởng đoàn Quốc hội tỉnh Thanh Hóa nói: “Nhân dân chán lắm rồi những cán bộ chỉn chu và trau chuốt với những ngôn từ “tăng cường”, “đẩy mạnh”, “nâng cao”. Cuối cùng Đại biểu Lê Nam đã nói: “xin được mượn lời của Thủ tướng, xin kính chúc các đại biểu Quốc hội khóa XIII luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và luôn là người tử tế”.
(Ông này thâm thật, hóa ra ĐBQH đôi khi không phải là người tử tế?) Tôi chỉ nêu một bình luận của người dân. Bạn Bùi Hoàng Tám viết trên báo Dân Trí: “Ông Nam đã nói đúng nhưng có lẽ chưa đủ “độ” bởi người dân không chỉ “chán lắm rồi” mà đã “ngấy lên tận cổ”. Người dân “chán ngấy rồi” những ông cán bộ “mũ ni che tai”, “im lặng là vàng”, “ngậm miệng ăn tiền”.
Người dân “chán lắm rồi” những “mỹ từ hùng hồn” như “tăng cường”, “đẩy mạnh”, “nâng cao”. Người dân “chán lắm rồi” những điệp khúc quen thuộc “xử lý nghiêm”, “kiên quyết”, “nghiêm khắc”, “bất cứ người đó là ai”… mà trên thực tế thì giơ cao đánh khẽ.
Người dân “chán lắm rồi” những từ “phê bình nghiêm khắc”, “kiểm điểm rút kinh nghiệm” để rồi kỷ luật bằng cách đá hất lên cao.
Thậm chí, người dân “ngấy lên tận cổ” những vụ án tham nhũng đầu voi, đuôi chuột cuối cùng chủ yếu là xử án treo.
Điều mà nhân dân cần bây giờ là những con người hành động và nói sao làm vậy, không nói một đằng, làm một nẻo”.
Cưỡi ngựa xem hoa
Sáng 23/3, Quốc hội thảo luận tại tổ về 6 báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán Nhà nước. Ông Huỳnh Nghĩa nhận định, giám sát chuyên đề là một điểm sáng về phương thức hoạt động của nhiệm kỳ qua nếu xét về hình thức. Ông nói: “Còn thực chất thì vẫn chưa tới, thậm chí là cưỡi ngựa xem hoa”. Ông nhận xét:
“Ví dụ trong đề cương giám sát nói thành phần rất đông, thường vụ Quốc hội đi nhiều lắm nhưng nhiều khi chỉ một anh Phó chủ nhiệm đi nên không kết luận được. Như giám sát oan sai, là chuyên đề lớn như thế, địa phương cử rất nhiều ban ngành báo cáo. Nhưng rồi trưởng đoàn giám sát không kết luận được để lãnh đạo địa phương phải bức xúc tới mức nói “thôi lần sau tôi không dành thời gian cho các ông nữa”. ông Nghĩa thuật lại. Dẫn các con số về giải quyết thành công các vụ việc đạt tỷ lệ 98,5%, rồi gần 100% từ các báo cáo của tòa án, viện kiểm sát, trưởng đoàn Đà Nẵng bình luận: “Nếu thế thì hồng phúc cho dân nhân, cho đất nước. Nhưng tôi e nghe vậy dân không chịu được đâu, oan sai nhiều lắm, đơn thư nhiều lắm, sao báo cáo lại tròn trĩnh vậy được”.
Ai cũng hiểu câu gần như tục ngữ “làm thì láo báo cáo thì hay” ở VN, nó ăn vào mạch máu rồi. Từ anh phường xã đến tỉnh thành, đến các cơ quan trung ương, anh nào cũng lây cái bệnh này rồi. Bệnh thành tích, cái thứ bệnh không có thuốc chữa. Cứ phóng đại tô màu lên báo cáo cho đẹp như gánh hát dán cái pa-nô lòe loẹt trên tường câu khách bình dân.
Ngạc nhiên với báo cáo về biển Đông
Đánh giá của Chính phủ và các cơ quan về tình hình biển Đông đều cho rằng “đảm bảo được chủ quyền và lợi ích quốc gia”, tuy nhiên đại biểu Lê Văn Lai lại chỉ ra hàng loạt diễn biến “không thể coi là bình thường”.
Là người phát biểu gần cuối, tuổi đã cao và không tái cử nhiệm kỳ sau, đại biểu Lê Văn Lai thẳng thắn phê phán: “Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của chúng ta tần suất 20 năm một lần. Năm 1956 chiếm Đông Hoàng Sa. Năm 1974 lấy tây Hoàng Sa. Năm 1988 lấy đảo Gạc Ma. Năm 2014 kéo giàn khoan vào biển Đông và sau đó tần suất dày hơn để xâm lấn chủ quyền. Trong khi đó chúng ta ngồi đây và yên bình đánh giá là đảm bảo chủ quyền quốc gia. Đánh giá như thế thì chúng ta đưa ra quyết sách, sự phản đối, đối kháng đã đủ chưa, phù hợp không”. Ông kết luận: “”Chống giặc nội xâm là làm sao chống được tham nhũng, chống giặc ngoại xâm là bảo vệ được chủ quyền quốc gia”.
Qua sự thật được ông Lai vạch trần, bạn đã thấy các cơ quan của chính phủ và các cơ quan khác ở VN đều cố tình lập lờ với mối đe dọa từ Trung Quốc. Không thể hiểu nổi thái độ đó là gì? Chỉ có các ông làm ra bản đánh giá ấy biết!
QH02
Chạy chức chạy quyền phải vơ vét mới đủ bù chi phí đã bỏ ra
Đại biểu Đỗ Văn Đương – đại biểu Sài Gòn cho biết dư luận đang râm ran tình trạng chạy chức, chạy quyền. Ông đặt câu hỏi: “Vì sao người ta cứ chạy và vì sao người ta chạy được” là hai câu hỏi lớn mà cử tri cả nước đã hỏi suốt nhiệm kỳ, đến nay chưa có lời giải đáp”.
Theo ông Đương phải đánh giá lại xem có hay không việc chạy chức, chạy quyền vì nó không chỉ tạo ra bất công lớn mà còn đẻ ra tham nhũng; bởi vì họ mua, bán xong phải vơ vét mới đủ bù chi phí đã bỏ ra đó là quy luật thị trường.
Ông cho rằng, một cơ thể nhiều virus xâm hại chính thể như thế phải bắt họ uống thuốc. Tiếc rằng trong Bộ luật hình sự không đưa tội mua, bán chức quyền vào dù ông đã nhiều lần đề nghị. Ông nói thêm: “Việc này dân biết, Đảng biết, Chính phủ và các ban, ngành biết. Nhưng chúng ta thiếu một cơ chế gắn trách nhiệm cho người đứng đầu. Chính vì thế, câu hỏi Chạy ai?, Ai chạy? chúng ta chưa trả lời được”.
Thật ra, không phải các quan không muốn trả lời chứ không phải là chưa trả lời được. Các quan có ngọng đâu, ông nào cũng bằng cấp đầy mình (dù có khi là bằng mua, bằng giả), nhưng khôn lanh thì không ai sánh kịp. Có thế mới được bầu làm đại biểu dân chứ.
Các ông không trả lời vì nếu trả lời thì anh khác nó cũng vạch tội mình hay anh em nhà mình ra, anh nào cũng dính một tí hay nhiều tí vào những trò chạy chọt, đút lót và khi có chức có quyền rồi thì ra sức vơ vét để bù vào khoản chạy và tất nhiên muốn giàu thêm. Đúng là cái chợ mua bán thẳng thừng, buôn thì phải có lời. Xin các cụ thông cảm cho, chẳng phải vì các quan ngọng đâu.
Văn Quang


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Bốn Mươi Mốt Năm Nhìn Lại Những Chặng Đường ĐỔI MỚI Của CSVN?.



--
Kính Chuyển
MG

Bốn Mươi Mốt Năm Nhìn Lại
Những Chặng Đường ĐỔI MỚI Của CSVN
Mường Giang


         Năm 1969 Hồ Chí Minh chết, từ đó Lê Duẩn liên kết với Lê Ðức Thọ lập bè phái từ trung ương đảng tới tận quân đội, công an.. để nắm trọn quyền hành. Tháng 12-1976, Hà Nội họp đại hội đảng lần thứ IV. sau khi chiếm được miền Nam VN. Dịp này Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được bầu làm ủy viên thứ 12 bộ Chính Trị, còn Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) đang làm Thành Ủy TP Sài Gòn, cũng được chọn làm ủy viên dự khuyết với Tố Hửu và Ðổ Mười. Riêng Nguyễn Hửu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình.. trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) năm nào, cũng được giữ những chức vụ ‘ ngồi chơi sơi nước ‘.trong đảng

          Buồn nhất có Trịnh Ðình Thảo, Lâm Văn Tết, Trương Như Tảng.. bị cho về vườn. Còn những thành phần đối lập cũ thời VNCH trong lực lượng thứ ba (LLTB) như Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung,Hồ Ngọc Nhuận, Trần Thúc Linh, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Ba.. được đảng giao cho Vũ Khiêu (bộ ngoại giao) chỉ dạy về cách làm chính trị XHCH, lòng trung thành với “ chủ nghĩa Mác-Lê “ để phục vụ tốt cho Hà Nội. Sau đó các tờ phản tỉnh của thành phần trên, được đảng công bố trên báo Ðại Ðoàn Kết, để làm gương cho thiên hạ về mặt thật của những trí thức “ đối lập “ của Miền Nam trước ngày 30-4-1975.

          Do CSVN vừa chiếm được miền Nam, nên cán bộ đảng từ trên xuống dưới đều tin tưởng vào tính ưu việt “ bách chiến bách thắng “ của chủ nghĩa Marx trước sự suy tàn của tư bản nhất là Hoa Kỳ. Vì vậy đảng “ Duẩn-Thọ “ nhất quyết đưa đất nước và dân tộc VN vào con đường tiên tiến của XHCN, để nắm vững chuyên chính vô sản với mục đích “ kiểm soát toàn bộ người dân cả nước “, từ tư tưởng, văn hóa cho tới kinh tế, xã hội. Tóm lại tất cả đồng bào cả nước (ngụy hay VC), từ đó coi như những con cá nằm trong rọ của bộ máy công an, được thiết lập chằng chịt như mạng nhện, tổ ong, từ trung ương tới tận các tổ dân phố và các công đoàn, đoàn thể phụ nữ, thiếu nhi..

          Cũng từ đó đã phát sinh ra thói kiêu căng phách lối và ngạo mạn của các đỉnh cao trí tuệ tại bắc bộ phủ, mà lố bịch nhất là chuyện “ thủ tướng CSVN Phạm Văn Ðồng “ trong hội nghị thượng đỉnh các quốc gia không liên kết vào tháng 8-1976 tại Tích Lan, đã công khai đe dọa và phỉ báng các nước Á Châu lân cận. Hậu quả trên, khiến chẳng còn ai muốn liên lạc và tiếp xúc với VC. Ðã thế Lê Duẩn còn ký với tổng bí thứ Liên Xô Brezhnev bản thông cáo chung về việc hợp tác và liên minh quân sự giữa hai nước. Ðể theo đuổi cuộc chiến mới, CSVN lai vay nợ của Liên Xô nhiều tỷ Mỹ kim tiền súng đạn, bom , mìn. Sau đó cho hạm đội Nga vào trú đóng tại Ðà Nẳng và Cam Ranh để trừ nợ.

          Trong kế hoạch ngũ niên lần thứ hai (1976-1980), Nguyễn Văn Linh là người đầu tiên được đảng giao nhiệm vụ “ cải tạo’ kinh tế Miền Nam “, để bắt kịp kinh tế tiền tiến XHCN Miền Bắc trước tháng 4-1975. Kế tiếp là Ðổ Mười, Trần Văn Danh, Cao Ðăng Chiếm thay Mười Cúc.. nhưng tất cả đều thất bại vì tiến trình tập thể hoá kinh tế, nông nghiệp không thực hiện được theo chính sách đảng nghị quyết. Do người dân Miền Nam không chịu hợp tác nên lương thực bị thiếu hụt trầm trọng. Nhiều nơi kể cả vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long phải ăn độn hay bị đói vì thiếu lương thực.

          Tại Sài Gòn và các thành phố lớn của Miền Nam, qua hai đợt đánh tu sản mại bản , theo ám số X1-X2 do Ðổ Mười phụ trách, đã biến nền công kỷ nghệ phồn thịnh trước tháng 5/1975 của VNCH tê liệt và sụp đổ hoàn toàn. Ở miền Bắc các cơ sở kỷ nghệ nặng cũng bị thiệt hại trầm trọng qua cuộc chiến biên giới Việt Trung, khiến cả nước lâm vào cảnh thất nghiệp. Ðể cứu đói và ngăn chận cảnh hổn loạn, CSVN xuất cảng lao động tới các nước Ðông Âu và Liên Xô, bắt đầu từ đó. Ðã thế chiến tranh với Tàu và Kampuchia, càng lúc càng thảm khốc và kéo dài, làm cho ngân sách nhà nước trở nên thâm thủng, khiến nền kinh tế quốc doanh vốn đã èo uột, nay như chiếc xe không phanh phăng phăng lao nhanh xuống vực thẳm XHCN.

          Ðất nước điêu tàn, dân chúng lầm than đói rách khổ sở nhưng đảng vẫn không nhận chịu thất bại để sửa đổi, vẫn cứ bè phái tranh dành chức vụ béo bở sau bức màn đỏ , cứ nhắm mắt trung thành với Mac-Lê, với chính sách kinh tế tập trung siêu việt. Rồi lại đổ thừa sự thất bại trên, đều do “ tàn dư Mỹ-Ngụy “ phá hoại, để đảng lại có cớ bắt giam những người chống đói chính sách đảng. Cuối cùng với quyết tâm “ xã hội chủ nghĩa hóa kinh tế theo Nga “ thi hào Tố Hửu “ một thời nổi tiếng với bài thơ ca tụng Stalin, được phong chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế.

          Tháng 3-1982 lại họp đại hội đảng lần thứ V trong cảnh suy sụp toàn diện tại VN. Lần này Võ Văn Kiệt trở thành ủy viên chính thức thứ 10 của bộ Chính Trị, giữ chức vụ chủ nhiệm ủy ban Kê Hoạch Nhà Nước. Trong khi đó Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh .. lại bị loại khỏi bộ Chính Trị. Nổi nhất trong kỳ đại hội này là sự kiện đảng ban hành “ Bản Hiến Pháp Mới “ rập đúng theo khuôn mẫu bản hiến pháp củạ Liên Xô , từ cơ cấu tổ chức cho tới lối hành văn , với câu mở đầu thay vì “ Học tập tư tưởng Mao Trạch Ðông “, nay được đổi thành “ Trung Quốc là kẻ thù đầu đời và nguy hiểm nhất .. “.Ngoài ra đảng còn dựng tượng Lê Nin cao trên 5m tại Hà Nội. Nói chung đại hội đảng năm 1982, CSVN ÐỔI MỚI TƯ DUY “ BỎ TÀU ÐỎ THEO LIÊN XÔ “, tăng cường thêm quyền lực cho Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ và bè nhóm thân Nga, mục đích chính chỉ vậy.

          Trước cảnh khủng hoảng kinh tế cả nước, nhất là tại thành phố Sài Gòn có dân số đông nhất VN. Nên cả Nguyễn Văn Linh lẫn Võ Văn Kiệt, lần lượt trong chức vụ Thành Ủy đã tự cứu mình trước, bằng cách cho một số doanh nhân xé rào “ cơ chế tập trung và qui hoạch của đảng “, lập ra những công ty hợp doanh, làm ăn theo lối kinh tế thị trướng, mở đầu cho con đường Ðổi Mới Chính Thức sau này. Tuy nhiên việc làm ăn “ chui “ này cũng chỉ kéo dài hơn một năm, thì bị bộ Chính Trị gai mắt ứa gan vì cảnh “ trâu cột ghét trâu ăn “, nên đã ban hành nghị quyết số 01/NQ-TW ngày 14-9-1982, chỉ trích và kết tội những thành phần kinh doanh trên là đi trật đường hướng XHCN. Sự thật là thế đó, vậy mà Trần Trọng Thức qua bài viết “ Nhìn lại một chặng đường Ðổi Mới “ đăng trong Kiến Thức Ngày Nay số 314 ngày 1/5/1999 lại cuồng điều rằng “ Nếu không có sự quyết tâm, tích lũy kinh nghiệm của đảng qua nhiều chặng đường thử thách, đúc kết thành cương lỉnh .. “ thì làm gì có đổi mới kinh tế tại VN ?

          Năm 1985 Tố Hửu đặc trách kinh tế lại ra lệnh đổi tiền làm cho tình trạng lạm phát tăng vọt tới 700% vì tiền Hồ mất giá trị, hậu quả đưa tới việc thi hào bị mất chức trong đợt cải tổ chính phủ vào tháng 6/1986.

          Tại Liên Xô, năm 1982 Brezhnev chết báo hiệu sự sụp đổ gần kề của đế quốc Nga qua hai triều đại kế tiếp Andropov và Chernenko.. Tình trạng bi đát càng thêm thảm thê vì không có một biện pháp cải thiện nào được nhắc tới. Tháng 3-1985 Gorbachev lên làm tổng bí thư Liên Bang Sô Viết, trực diện với các nguy cơ kinh tế xã hội. Vì vậy để cứu đảng, cứu thân bắt buộc người lảnh đạo nước Nga phải Ðổi Mới bằng hai chính sách “ Cởi Mở (Glasnov) “ để bài trừ tham nhũng và “ Tái Cấu Trúc (Perestroika) “ để cứu kinh tế quốc doanh đang suy sụp.

          Sau tháng 5-1975, CSVN không còn là chư hầu của Tàu đỏ mà lệ thuộc hẳn vàọ Liên Xô, nên Nga đã cung ứng hầu hết nhu cầu cho Hà Nội lên tới 97%. Về lãnh vực quân sự, Nga viện trợ cho CSVN hơn 1 tỷ rưởi USD hằng năm, kèm theo hàng chục ngàn cố vấn.. Do đó Gorbachev đã thông báo cho Hà Nội phải chuyển hướng để tự cứu và sinh tồn.. vì lúc đó chính Nga cũng đang trên đà sắp vỡ nợ. Nhờ cơ hội này, Nguyễn Văn Linh lại được đảng kêu về Bắc và cho vô lại bộ Chính Trị. Tháng 7/1986 đảng đưa ra nghị quyết chuẩn bị rút quân khỏi Kampuchia. Tháng 8-1986, đảng lại tuyên bố muốn nối lại bang giao với Trung Cộng và Thái Lan nhưng Tàu đỏ không thèm trả lời, lại cứ xua quân đánh chiếm liên tục đất đai của VN tại biên giới hai nước.

          Lê Duẩn chết ngày 10-7-1986 nhưng thế lực của Lê Ðức Thọ vẫn còn nguyên vẹn, tuy nhiên vì thời cuộc diễn ra quá bật ngờ, liên quan tới sống chết giữa ba đảng CS Nga, Tàu và VN. Vì vậy trong cái thế không thể dừng được, nên Trường Chinh (thân Tàu đỏ), bị hạ bệ từ 1956 qua việc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, được Thọ cho làm quyền tổng bí thư thay Duẩn. Tất cả đều là mệnh lệnh của Gorbachev, nhằm làm lợi cho Nga trong chính sách đối ngoại mua chuộc Tàu và làm vừa lòng Mỹ. Rồi Trường Chinh và nhiều cán gộc trong bộ Chính Trị lại phải sang chầu Liên Xô để gặp Gorbachev tại Hải Sâm Uy (Vladivostok) nhận chỉ thị. Từ đó đảng CSVN mới quay sang Ðổi Mới qua khẩu hiệu “ Ðổi Mới Hay Là Chết “.

          Kế tiếp là màn diễn “ bộ ba Tho-Chinh-Ðồng từ chức vì tuổi gia “, để có cớ loại hẳn Võ Nguyên Giáp ra khỏi chính trường, tới chuyện ủng hộ Mười Cúc Nguyễn văn Linh lên làm tổng bí thư trong kỳ đại hội đảng lần thứ VI vào cuối năm 1986. Tóm lại năm 1982, CSVN họp đại hội đảng lần thứ V, kiên quyết bỏ Tàu theo Nga. Bốn năm sau (1986), trong nổi điêu tàn của CS Nga báo hiệu giờ thứ 25 sụp đổ, VN là quốc gia CS chịu nhiều thiệt hại nhất về nhân vật lực, quân đội bị sa lầy tại Kampuchia, ngoại giao bị bao vây và cô lập nên lòng tin về đảng và ý thức hệ Lê-Mark coi như sắp bị lung lay tới gốc.

          Trước nổi lo sợ bị Liên Xô ruồng bỏ sẽ mất đảng, mất mạng như thân phận của VNCH năm nào bị đồng minh Hoa kỳ phản bội bán đứng vì chạy theo Tàu. Tuy nhiên trong giờ thứ 25, người Việt QG Miền Nam hiên ngang chấp nhận số mệnh nên chẳng bao giờ chịu “ cỏng rắn Pháp, Tàu, Nhật.. “, trở lại thay Mỹ để gây thêm cảnh nồi da xáo thịt, tổn hại nhân mạng và đất nước. Trái lại CSVN thì khác, vì chúng có bao giờ yêu nước và dân tộc Việt đâu, nên trong đại hội đảng lân thứ VI (12-1986) được nhóm họp với mục đích đổi mới tư duy “ Bỏ Nga Theo Tàu “ thế thôi. Kỳ này ngoài Linh là tổng bí thư, có Phạm Hùng (thế Ðồng) làm thủ tướng. CònVỏ Chí Công (thay Trường Chinh) chức chủ tịch nước. Riêng Võ Văn Kiệt được thăng phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban KHNN. Năm 1988 Phạm Hùng chết, Kiệt lên thế làm thủ tướng nhưng được vài tháng lại bị đảng lột chức, giao cho Ðổ Mười làm. Kỳ này nhà sư Thích Minh Châu, cố đạo Phan Khắc Từ, vợ Ngô Bá Thành, Nguyễn Xuân Oánh (chồng Thẩm Thuý Hằng) đều đắc cử vào quốc hội.

          Công cuộc Ðổi Mới coi như mở màn từ năm 1987. Lúc đó CSVN chỉ có Nga là đối tượng duy nhất để học hỏi nên hằng hằng lớp lớp cán gộc từ Linh tới Phạm Hùng, Nguyễn Quyết (quân đội) chen chân nhau sang chầu Mạc Tư Khoa. Vì không thể che dấu được sự thật, nên Linh xác nhận thất bại của hệ thống kinh tế quốc doanh và ra lệnh sửa đổi bằng “ kinh tế thị trường “ . Nhưng để không mất ưu quyền độc tôn, đảng gọi đó “ Kinh Tế Thị trường Theo Ðịnh Hứng XHCN “.Tuy Nguyễn Văn Linh ban hành lệnh Ðổi Mới nhưng Võ Văn Kiệt qua cố vấn của các chuyên viên kinh tế thời VNCH giúp, mới là người dám thi hành nhũng cải cách kinh tế táo bạo, mà mục đích chính là để được chia phần lớn lợi nhuận khi đứng làm “ ô dù “.Do sự cởi mở có chừng mực được thi hành, nên bắt đầu từ thập niên 90 nên kinh tế VN mới bắt đầu hồi phục và phát triển. nhất là trong lãnh vực nông nghiệp vì nông dân không còn bị bắt buộc tập thể hóa lao động và bán luá cho nhà nước với giá rẽ mạt.

          Trong khi VN đang dò dẫm từng bước trên chặng đường đổi mới (1987-1989) thì bên ngoài thế giới đã xảy ra không biết bao nhiệu sự kiện lịch sử ‘ bạt vía kinh hồn ‘.Tại LX trong cuộc bầu cử quốc hội 3-1989, có đến 38 bí thư tỉnh ủy và một ủy viên bộ chính trị bị loại. Kết quả trên đã làm cho đảng CSVN lo sợ phận mình rồi cũng sẽ tới phiên mất chức, mất mạng và tiêu tán tài sản đã cướp giựt của dân nước suốt thời gian qua. Do đó VC rất sợ dân chủ và đa đảng .

          Tháng 6-1989, Trung Cộng đã ra lệnh tàn sát dã man hằng ngàn sinh viên trong nước tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh) khi họ đứng dậy đòi tự do dân chủ. Tiếp theo là sự tan rã hoàn toàn của đế quóc LX tại Ðông Âu, Ðông Ðức. Ngày 9/11 tới phiên bức tường ô nhục Bá Linh bị giựt xập , nước Ðức thống nhất. Các lãnh tụ đỏ như Honecker (Ðông Ðức), Husack (Tiệp) bị bắt còn vợ chồng Ceauscescu của Lổ bị dân chúng treo cổ đền tội. Sự kiện trên càng khiến cho CSVN thêm sợ, một mặt thì lại đổ thừa cho đế quốc Mỹ và tư bản phá hoại, mặt khác thì bảo thủ chống lại cuộc chuyển hướng ý thức hệ. Còn Nguyễn Văn Linh mới hôm qua còn hô hào đổi mói, nay quyết tâm trở lại uy quyền của vô sản chuyên chính, qua lời tuyên bố ‘ Chừng nào tư bản còn tồn tại, chừng nào XHCH chưa đạt được thắng lợi cuối cùng trên thế giới. Khi đó chủ nghĩa Mark-Lê vẫn còn là đỉnh cao trí tuệ loài người .. ’ ’ ’

          Trước nguy cơ bị sụp đổ và tan vở như Ðông Ðức, Ðông Âu, Liên Xô.. nên bộ Chính Trị mở phiên họp khẩn cấp ngày 10-4-1990 để tìm lối thoát cứu đảng, cứu thân. Hầu hết các cán gộc có mặt đều đổ thừa cho đế quốc Mỹ, qua âm mưu thâm độc ‘ diễn biến hòa bình . mà TC đã xài sau vụ thảm sát Thiên An Môn) ‘.Sau đó đảng nghị quyết bằng mọi giá, phải nối lại tình đồng chí với TC để bảo vệ CNXH. Đó là lý do phát sinh ra hội nghị Thành Đô. Tóm lại Ðổi Mới tại VN chỉ là sự góp nhặt từ cởi mở, để theo đó mà tái cấu trúc các sự kiện có liên quan tới kinh tế, ngoại giao như là hậu quả tất yếu của thời mở cửa đón nhận con buôn nước ngoài.

          Giữa năm 1991, đảng lại dại hội lần thứ VII (1991-1996). Kỳ này Ðổ Mười làm tổng bí thư, Lê Ðức Anh chủ tịch nhà nước và Võ Văn Kiệt thủ tướng. Ngoài ra Phan Văn Khải, Nông Ðức Mạnh.. đều vào bộ Chính Trị. Trừ Kiệt và Khải tương đối cởi mở, hầu hết số cán gộc còn lại thuộc phe bảo thủ, nắm quyền quân đội và công an. Tuy nhiên vì không còn con đường lựa chọn nào để cứu đảng, trong lúc nguồn tài trợ từ Nga, Ðông Âu đã chấm dứt, nên bộ Chính Trị đành cắn răng ủng hộ ‘ đổi mới ‘.Kỳ này Mười Cúc bị loại ra khỏi trung tâm quyền lực.

          Không ai phủ nhận những thành tích của Võ Văn Kiệt từ khi còn làm Thành Ủy Sài Gòn cho tới lúc giữ chức thủ tướng (1991-1997) qua công cuộc đổi mới. Câu hỏi được đặt ra là thành tích đó, thật sự ai được hưởng ? . Ngoài ra Kiệt chỉ đổi mới về kinh tế để có cơ hội chia chát hưởng lợi nhuận. Nhưng về lãnh vực chính trị, vẫn răm rắp tuân hành theo đường lối nghị quyết của đảng, đã được ghi trong bản hiến pháp mới năm 1992 ‘ VN tiếp tục độc đảng song song với chính sách ‘ kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ‘.Ngoài ra điều 4 của HP trên còn xác nhận thêm ‘ đảng là đai biểu về quyền lợi của giai cấp công nhân, lao động và cả dân tộc theo chủ nghĩa Lê-Mark và tư tưởng HCM (thay Mao Trạch Ðông) ‘.

          Hy vọng giữ chức thủ tướng thêm một nhiệm kỳ vào đại hội đảng kỳ VIII (1996-2000) , Kiệt đã gủi bản cáo chính trị ‘ tối mật ‘ về trung ương vào tháng 8-1995 với lập trường luôn ủng hộ ‘ độc đảng ‘.Nhưng sự nịnh hót trên không được phe bảo thủ để ý tới. Bởi vậy sắp đến kỳ đại hội đảng, Kiệt bị Ðổ Mười và Lê Ðức Anh chỉ trích nặng nề về công cuộc đổi mới và âm mưu diễn biến hòa bình. Nhưng kết quả bộ ba Mười, Anh, Kiệt vẫn được giữ chức cũ, Nông Ðức Mạnh (chủ tịch QH), Phan Văn Khải, Trần Ðức Lương (phó thủ tướng). Riêng Nguyễn tấn Dũng được vào bộ Chính Trị (13) cũng giữ chức phó thủ tướng).

          Tháng 11-1996, Lê Ðức Anh bị sốt xuất huyết nảo, sau đó bị liệt nữa thân. Trước khi về vườn, Anh dựa vào vấn đề tuổi tác kéo theo kẻ thù không đội trời chung của mình là Kiệt cùng từ chức vào tháng 9-1997. Lương được thế chức Anh, còn Khải làm thủ tướng thay Kiệt. Cũng từ đó Võ Văn Kiệt dần dần bị thất thế dù trên danh nghĩa vẫn là cố vấn. Trong khi đó Ðổ Mười và Lê Ðức Anh có nhiều bè phái, nên vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ trong bộ Chính Trị và Ban Thường Vụ kéo dài tới nay. Ðó là lý do khiến Kiệt bất mãn nên đã viết một lá thư phổ biến ra hải ngoại, về vụ Nguyễn Khoa Ðiềm cấm báo chí trong nước, không được phổ biến bài viết của Kiệt nói về cuốn hồi ký của Lý Quý Chung. Chỉ vậy thôi mà báo chí hải ngoại đã bốc Kiệt lên tận mây xanh, còn phong chức là Ðặng Tiểu Bình gì gì đó, thật là hết ý.

          Võ Văn Kiệt nay đã theo hầu ‘ bác hồ ‘ dưới âm ty vào ngày 11-6-2008 tại một bệnh viện sang trọng ở Singapore, nhưng đâu có ai quên Sắc Luật số 31/CP do Kiệt ký ngày 14-4-1997, về quản lý hành chánh nhằm hợp pháp hoá việc bắt giữ trái phép những người dân vô tội thuộc thành phần đối lập bị quy chụp là phản quốc, âm mưu diễn biến hòa bình.. Ngoài ra Kiệt còn ký sắc lệnh số 96/CP nâng cục quân báo C2 thành tổng cục, có quyền hạn hơn công an, có thể bắt bớ bất cứ ai nếu muốn mà không cần phải có lý do. Cuối cùng là những chỉ thị, quyết đinh cũng do Kiệt ký, để đuổi nhà chiếm đất ruộng của dân chúng, để đảng bán lại tư bản nước ngoài xây cất khách sạn, địa điểm du lịch, sân cù và các cơ sở sản xuất..

          Mấy năm trước tại Sài Gòn, đạo diễn Lưu trọng Ninh có thực hiện cuốn phim ‘ nước mắt thời mở cửa’với nội dung ghi lại những bức tranh vân cẩu của xã hội VN trong bối cảnh giao thời.Phim được mở đầu bằng những cặp đùi đủ loại của phụ nử , chen chúc xô đẩy bám theo gót của những doanh nhân nước ngoài. Ðồng lúc khắp hang cùng ngõ hẹp của phố thị, đâu đâu cũng thấy ngựa xe nhà cửa dập dìu như nước, cùng đi bên cạnh cuộc đời là những thân xác gầy gò đói lạnh, những trẻ em rách rưới tồi tàn.. co quắp vất vưởng khắp đầu đường xó chợ..

          Ðổi mới là vậy đó nhưng Trần Bạch Ðằng (Tư Ánh-Trương Gia Triều), một trong những cố vấn của Võ Văn Kiệt, vào cuối năm 1996 đã cuồng điệu khi nhân danh cho đảng CSVN viết gủi thiên hạ ‘ bản thông điệp của thế kỷ XXI ‘ đại ý xác quyết rằng cái lớn nhất của thế kỷ XX tại VN, đó là sự hoán chuyển vị trí từ nước thuộc địa sang độc lập, dân nô lệ sang tự do và quốc gia đoí nghèo sang quốc gia chắc chắn sẽ giàu mạnh ‘.Tiếc thay nay cả Võ Văn Kiệt lẫn Trần Bạch Ðằng đều chết, nên không thấy được sự khủng hoảng về kinh tế lẫn chính trị tại VN từ đầu năm 2008, hậu quả tất yếu của cái gọi là ‘ Ðổi Mới Tư Duy’ với mục đích kinh tài cứu đảng và làm giàu cho tư bản đỏ, mà ai cũng thấy . Ngoài ra dân đói cũng kệ, nước sắp mất về Tàu đỏ.. có sao đâu, miễn đảng ta đời đời độc tôn và bền vững là đủ.

          Nhưng dù có nói như Trần Bạch Ðằng , rằng nhờ Võ Văn Kiệt mở cửa đổi mới nên VN nay đã giải quyết cái ăn cho hơn 90 triệu người hay số người trong nước cũng có thể tính đến 90% biết đọc biết viết. Trong lúc đó thì báo cáo của các cơ quan tài trợ cho VN đứng đầu là IMF, WB thì xếp nước ta vào danh sách 10 quốc gia đói nghèo nhất trên thế giới. Ðiều này cho thấy VN dưới thiên đường xã nghĩa, thời nào cho dù là đóng kín hay cởi mở thì sự giàu sang no ấm nếu có cũng đâu tới phiên tuyệt đại đa số người trong nước. Do đó lúc trước, lúc này và lúc nào ‘ cái ăn cũng vẫn là quan trọng nhất ‘ đối với tầng lớp nghèo đói, ba chìm bảy nổi thuộc giới làm biển, nghề ruộng và đồng bào lao động.

          VN là một quốc gia nông nghiệp truyền thống ngàn đời, lại phải trì trệ bước tiến vì thảm trạng chiến tranh kéo dài hằng trăm năm từ thời Pháp thuộc (1884-1945) cho tới 1975. Tại VNCH nhờ Chính phủ biết áp dụng nền kinh tế thị trường (cho dù có thu hẹp), ít ra cũng tạo được cơm ăn áo mặc cho mọi người. Trái lại ở Miền Bắc (1954-1975),, CS Hà Nội vì nhắm mắt theo đuổi chính sách kinh tế hoạch định, nên ba lần thi hành kế hoạch ngủ niên (1960-1976) đều thất bại Võ Văn Kiệt là một đảng viên trung kiên và lảo thành của chế độ, nên đã lợi dụng sự chấm dứt giúp đỡ của quốc tế vô sản, để bước qua giai đoạn ‘ quá độ ‘ tư bản (đổi mới) rồi tiến về cổng thiên đường cộng sản. Tóm lại mục đích của Kiệt và đảng là sự hoán chuyển vai trò đấu tranh giai cấp của công nhân lao động từ ‘ bạo động cướp chính quyền ‘ sang ‘ làm việc bằng chân tay ‘ . Ðó chính là yêu cầu của tư bản nước ngoài khi chịu bỏ tiền vào VN để sử dụng mồ hôi nước mắt của dân tộc Việt. Những toa tàu xác người này sẽ được kéo bởi các đầu máy mà đảng gọi là ‘ tập thể trí tuệ ‘ không ai khác hơn là Ðồng, Mười, Linh, Kiệt, Khải, Nguyễn tấn Dũng và hiện nay là ekip Trọng, Quang, Phúc, Ngân...

          Và kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mà VN đang theo đuổi từ lúc bắt đầu mở cửa đổi mới, chắc chắn không là mô hình mà Liên Xô, Ðông Ðức, Ðông Ấu lẫn Mao Trạch Ðộng sử dụng suốt bao chục năm tới khi xập tiệm toàn diện vào thập niên 90. Thật sự hành trình đổi mới hiện nay đã tự phát theo hướng tư bản hoá xã hội, chứ không phải là hoạch định có sẳn của đảng hay Kiệt sáng tạo. Một điều mà ai cũng thấy rõ nhưng Linh, Kiệt rồi Khải,Dũng đã lấp liếm, làm như là đã ‘ cả gan ‘ đi ngược lại đường hướng do đảng nghị quyết.

          Vì đã chấp nhận ‘ đổi mới ‘ tức là phải dựa vào tư bản để mà sống còn và nhờ giúp đở. Nhưng đã chọn kinh tế thị trường, tức là chấp nhận kinh tế hàng hóa nhiều thành phần mà hậu quả làm cho đảng dần mòn mất hết quyền quản lý và sự kềm chế bước tiến của xã hội. Kết quả đổi mới tại VN dòm vào cứ tưởng là tạo nên cảnh huống ‘ dân giàu nước mạnh ‘ nhưng thực chất chỉ tạo ra môi trường thuận lợi để các băng nhóm ‘ Mafia đỏ ‘ phát triển và lủng đoạn đất nước. Rốt cục tham nhũng đã theo ‘ vàng, đô la, ngoại tệ ‘ phá nát cái chế độ toàn trị từ trên xuống dưới, tới nay coi như không còn cách nào để đối phó với cái nạn nội xâm này. Lớn ăn theo lớn, nhỏ chia theo nhỏ.. một mặt thì gậm nhấm các ngân khoản tài trợ của thế giới đổ vào. Ðồng thời chia chát nhau tài sản của đất nước qua cái gọi là ‘ Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) hay nôm na là kinh tế quốc doanh. Như thế đảng càng lúc càng giàu thì thử hỏi còn gì cho dân để mà sống ? Tóm lại tiền thuế má thu được của Doanh Nghiệp Tư Nhân (DNTN) sẽ chẳng bao giờ bỏ vào công quỹ nhà nước để làm tăng Tổng Sản Lượng Của Quốc Gia mà chỉ để bao cấp cho các khu vực kinh tế quốc doanh, tức là bỏ vào túi của đảng từ trên xuống dưới.

          Nay thì nguy cơ của cuộc đổi mới tại VN đã thành sự thật từ đầu năm 2016, qua các hiện tượng lạm phát, tiền Hồ mất giá, nợ công cao như núi, chứng khoáng triệt tiêu và nền kinh tế đang đi vào khủng hoảng. Ðây không phải là hiện tượng bất thường vì sự leo thang của giá dầu sụt giảm liên tục và suy sụp của địa ốc.. như đảng nói để biện giải chạy tội. Thật sự ngay từ đầu khi Linh và Kiệt nói là xé rào để đổi mới thì thế giới bên ngoài đã dòm thấy qua những đợt tăng trưởng kinh tế nhảy vọt tại VN một cách không bình thường. Là vì mục đích của tư bản khi bỏ vốn vào đầu tư tại VN, đa số ngắn hạn, để sử dụng nguồn lao động dồi dào và rẽ mạt nhất thế giới. Có vậy thôi và VN cũng chỉ có thế thôi. Nói chung theo lối làm ăn của thực dân mới ngày nay, là chuyển dịch các bộ phận gia công từ chính quốc , đến bất cứ nước nào có nguồn lực lượng lao động lớn và rẽ mạt, thì tư bản đổ vốn vào để khai thác kiếm lời. Ngày nay vật giá leo thang theo đà lạm phát phi mã, dân lao động với lợi tức quá kém cõi không đủ sống, nên bắt buộc phải đòi tăng lương bằng đình công. Tư bản dễ gì chấp nhận vì ngoài VN đâu đâu cũng có sẳn nguồn nhân lực rẽ mạt khác đang chờ.

          Về nông nghiệp như Trần Bạch Ðằng thay cho đảng và Kiệt tuyên bố ‘ gạo không những nuôi đủ dân, mà còn dư để xuất cảng và đứng vào hàng thứ ba trên thế giới ‘ Nhưng đã dư thừa gạo xuất cảng tại sao đảng lại phải nhờ Tổ chức lương nông thế giới cứu đói ? Thật sự gạo VN có dư đê nuôi dân trong nước nhưng vì đảng vay nợ quá nhiều, nên phải dùng gạo để trả tiền lời trên khối vốn dài hạn đã vay của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Á Châu (ADB), Câu Lạc Bộ Paris, Luân Ðôn.. Ðộc ác nhất là chuyện Võ Văn Kiệt vì nhu cầu đòi hỏi của tư bản, muốn có đất để xây dựng các cơ sở sản xuất. Vì vậy ngày 16-8-1996 Kiệt đã ký quyết định, giao toàn quyền cho các tỉnh Miền Trung được đuổi dân đi kinh tế mới, để nhường ruộng đất của mình cho tư bản lập nhà máy. Tất cả đều trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất theo thị trường kinh tế tự do để làm giàu cho tư bản và đảng.

          Như vậy từ ngày Kiệt mở cửa đổi mới, người nông dân VN có thật sự làm chủ ruộng vườn của mình hay không ? Ngày 14-7-1993 luật đất đai đã được quốc hội VC thông qua và ban hành, trong đó có điều (3) cho phép cá nhân được nhà nước giao đất, được chuyển nhượng, cho thuê.. đã tạo cơ hội đầu cơ cho những người sẳn tiền và thế lực. Thế là càng lúc càng có không biết bao nhiêu đất đai ruộng lúa bị phá đi để công nghệ hóa với liên doanh nước ngoài hay xây cất cơ sở kinh doanh, biệt thự, sản xuất gạch ngói..
         
           Cái trơ trẽn nhất của chuyện dài XHCNVN, sau bốn mươi mốt năm nhìn lại, có lẽ là việc Nguyễn Phú Trọng làm cuộc đổi mới trong kỳ đại hội đảng CS lần XII, đuổi êkíp Sang, Hùng, Dũng về vườn sớm hơn luật định vào tháng 7.2016. Sau đó Êkíp mới Trọng, Quang, Phúc, Ngân .. cũng bó tay trước di sản và đống nợ núi của 10 năm Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng để lại, và hứa sẽ làm người " tử tế " khi trở về đời sống của một người dân bình thường..
           

Xóm Cồn Hạ Uy Di
tháng 4-2016
MƯỜNG GIANG

         

         

         

         

         

         



__._,_.___

Posted by: Ho Dinh 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link