Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Monday, April 25, 2016

“Quê hương mình rồi sẽ ra sao?”


“Quê hương mình rồi sẽ ra sao?” (Bài Giảng lễ Công lý – Hòa bình tại Sài Gòn)

25.04.2016
Thái Hà (25.04.2016) – Gửi tới quý vị và các bạn bài giảng của cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn, ngày 24 tháng 4 năm 2016
…………………………………………………….
Chúng ta đang sống trong mùa Phục sinh. Hôm nay, cũng là ngày chúng ta cùng hiện diện để cầu nguyện cho công lý và hòa bình, cách đặc biệt cầu nguyện cho tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc được thực hiện, để mọi thành phần trong xã hội cùng sát cánh bên nhau gây dựng lại giang sơn cơ đồ mà cha ông chúng ta đã để lại.
Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong giảng tại nhà thờ DCCT Kỳ Đồng tối 24/04/2016
Cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong giảng tại nhà thờ DCCT Kỳ Đồng tối 24/04/2016
Chúa phục sinh để cho ai?
Dĩ nhiên, câu trả lời là: không phải để cho Chúa, bởi Ngài là Đấng trường sinh. Việc Ngài đến thế gian, đi vào trong cái chết và hôm nay phục sinh khải hoàn là để khẳng định cho thế gian biết sự tất thắng của sự thiện trên sự ác, của công lý trên bất công, của tình yêu trên hận thù. Phục sinh – như bài Tin mừng hôm nay cho thấy, là sự khải hoàn của Chúa chúng ta. Chính trong sự khải hoàn của Con Thiên Chúa mà nhân loại được giải thoát và được cứu độ. Do đó, phục sinh còn có thể mang một ý nghĩa khác là nhờ sự phục sinh, mọi thực tại cùng được hồi sinh ngay trong chính sự khốn cùng của nó.

Thành ra, có thể nói, Chúa phục sinh là làm cho mọi thực tại được đổi mới, như Thánh Gioan đã được thị kiến trong bài đọc thứ 2, trích sách Khải huyền mà chúng ta vừa nghe công bố. Thánh nhân viết: “Tôi đã thấy trời mới và đất mới. Vì trời cũ và đất cũ đã qua đi, và biển cũng không còn nữa. Và tôi đã thấy thành thánh Giêrusalem mới, từ trời xuống từ nơi Thiên Chúa… Và tôi nghe có tiếng lớn từ ngai vàng phán ra: “Đây là Thiên Chúa ở với loài người, và chính Thiên Chúa sẽ ở với họ. Người sẽ lau khô mọi giọt lệ nơi mắt họ. Sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la, không còn đau khổ nữa, vì các việc cũ đã qua đi” (Kh 21, 1-5).

Như vậy, với những gì chúng ta vừa nói, thì chúng ta phải xác tín mạnh mẽ rằng, Chúa đã Phục sinh cũng có nghĩa là Ngài đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta, để cùng đi với chúng ta vào trong mọi thực tại của cuộc sống và để cùng Ngài và nhờ Ngài, mọi sự được phát triển và hồi sinh. Không có sự thay đổi nào nơi cuộc sống, thì ta chưa sống mầu nhiệm phục sinh. Không có sự dấn thân can đảm để đổi mới cuộc đời, thì ta chưa là người thực sự tin vào mầu nhiệm Chúa đã phục sinh và tin rằng Ngài đang sống và ở giữa chúng ta.
Nhưng, làm thế nào để có thể sống mầu nhiệm phục sinh mang tới sự hồi sinh?

Tối rất thích những suy tư của Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chia sẻ trong Thánh lễ đêm vọng phục sinh 2015. Ngài nói rằng chúng ta không thể sống mầu nhiệm phục sinh nếu chúng ta không tiến thẳng vào trong nấm mồ nơi chôn giấu sự chết – là chính những thực tại đang chi phối cuộc đời chúng ta. Đó có thể là nấm mồ của sự tội, của hận thù, của bất công, của những toan tính nhân loại đang kìm kẹp sự tiến bộ của con người. Và, việc tiến vào mầu nhiệm này buộc chúng ta không được sợ hãi thực tại: ở chỗ chúng ta không được khóa kín bản thân mình. Chúng ta không được tẩu thoát khỏi những gì chúng ta không hiểu được. Chúng ta không được nhắm mắt lại trước những vấn đề hay chối bỏ chúng. Chúng ta không được gạt đi các vấn nạn của chúng ta…
Việc tiến vào mầu nhiệm này đòi chúng ta vượt ra khỏi những gì là thoải mái dễ chịu, ra khỏi những gì là lười biếng, dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm đang kềm giữ chúng ta lại, và phải xông pha đi tìm sự thật, sự mỹ và tình yêu.
Để tiến vào mầu nhiệm này, chúng ta cần phải khiêm nhượng, cần đến những gì thấp hèn hạ cấp chúng ta xuống khỏi cái bệ là cái ‘Tôi‘ quá ư kiêu hãnh, đầy tự phụ. Chúng ta cần đến một sự khiêm tốn không coi mình quá quan trọng, nhìn nhận mình thực sự là ai: là con người yếu đuối đã có những lúc sai lầm, là tội nhân cần được thứ tha.

Như vậy, như Đức Giáo hoàng nói, thì sống mầu nhiệm phục sinh là bước chân mạnh mẽ vào giữa cuộc đời, giữa sóng biển trần gian đầy giông tố, trong ý thức trách nhiệm của một con người mang sứ mạng canh tân và làm sống lại những gì đã bị tội lỗi, sự sai lầm trong những chọn lựa chính trị, sự ác, sự bất công đã chôn vùi từng người chúng ta và rộng hơn là quê hương, đất nước chúng ta.

Quê hương mình rồi sẽ ra sao?
Thực tế, đã có quá nhiều nấm mồ đang chôn vùi tương lai của chúng ta, cũng như của con cái chúng ta mà chúng ta đang phải đối diện. Đó có thể là sự tác trách trong trách nhiệm công dân. Đó có thể là sự dửng dưng đối với vận mệnh đất nước. Đó có thể là lối sống mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa. Đó có thể là những chính sách xã hội sai lầm, không vì dân vì nước, nhưng chỉ vì lợi ích phe nhóm của giới cầm quyền… Tắt một lời, có quá nhiều những thực tại đang đe dọa giống nòi, đang triệt tiêu sức mạnh của cả một dân tộc với 4000 năm lịch sử, mà trong đó có lỗi của mỗi người chúng ta.

Những ngày này của 41 năm trước, đất nước chúng ta bắt đầu bước vào một giai đoạn mới. Chắc chắn, trừ những người trẻ sinh sau năm 1975, những ngày này là những ngày mà có rất nhiều cảm xúc, trong đó có cả sự sợ hãi, đau đớn tiếp tục ùa về trong ký ức mỗi chúng ta.

Đối với bản thân chúng tôi, một người đến từ “bên thắng cuộc”, chúng tôi đã có lúc mừng vui vì cuộc chiến phi nghĩa này. Chúng tôi cũng đã từng được dạy cho phải căm thù, phải ghét bỏ những người bị cho là “ngụy quân ngụy quyền”. Điều bi đát là những người bị cho là “ngụy” thì trong đó có rất nhiều người là người thân, ruột thịt của chính mình. Nhưng, rồi thời gian trôi đi, càng ngày chúng tôi càng nhận thấy rằng chẳng có “bên thắng cuộc” và cũng chẳng có bên gọi là “thua cuộc” mà chỉ có cả dân tộc Việt bị thua trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, huynh đệ tương tàn. Tất cả chúng ta là nạn nhân của những chọn lựa sai lầm trong quá khứ của “bên thắng cuộc”, với những hành xử phi nhân, những chính sách xã hội sai lầm, cùng sự kiêu ngạo của kẻ chiến thắng, nhưng lại chỉ mãi ăn mày quá khứ, khiến đất nước loạn ly, người người ly tán làm suy yếu nội lực cả một dân tộc, biến đất nước chúng ta thành một đất nước lạc hậu và nghèo đói.
Sáng nay, khi ngồi suy nghĩ về thời cuộc về những biến cố đang diễn ra rộng khắp trên quê hương, tôi bắt gặp được bài thơ của một người con Việt Nam, quê hương Miền trung, chứng kiến cảnh cá chết hàng loạt do sự tác trách của con người đã viết những vần thơ đau đáu nước mắt.

Bài thơ có tựa đề “VỚI BIỂN MIỀN TRUNG”:
Ai khóc dùm cho biển một lời không
Ai trả lời đi ! Biển mình sao vậy ???
Ai thấy gì không? Biển đang chết đấy !
Biển oằn mình, vọng mãi tiếng cầu van!
Miền Trung ơi, nắng cháy mưa ngàn
Biển bạc thân thương cho vàn thứ cá
Đánh bắt gần xa, cá về ấm dạ
Giờ chết bạt ngàn. Cá chết bởi vì đâu ???
Dân chết trong lòng, đỏ mắt nhìn nhau
Thuyền đậu, tàu neo, lưới chài đem cất
Cá gom về chôn đầy trong lòng đất
Bến cá thuyền về không í ới chào mua
Biển Miền Trung cá nằm chết, đau chưa!
Oan ức lắm, dân làm chi nên tội
Ai? Ai? Ai?…gây ra bao tội lỗi
Không lẽ trời???… gây nông nỗi… trời ơi!!!
Cõng rắn vô nhà, rước giặc về chơi
Đất đổi, bán mua cho vừa lòng giặc
Ích Tắc làm vua, dân tôi chết chắc
Nhục nhã trăm đường, trăm thứ đều lo
Ai lập đàn trời kêu cúng để cho
Nước sạch lại như thời vua từng lập
Ai sẽ kêu oan, nói lên điều đau nhất
Hay dân mình nói mãi để mình nghe!

Chúng ta không có đủ thời giờ để nói về mọi nấm mồ đang chôn vùi hy vọng, đang làm suy yếu giống nòi và đang đặt đất nước chúng ta vào một hoàn cảnh nguy hiểm với nguy cơ mất nước gần kề. Chúng ta cũng không có giờ để nhắc lại những chính sách lầm lạc, những cách hành xử bất công của bên thắng cuộc gây nên sự loạn ly, sự chia cắt, gây nên cơn hiểm họa diệt vong của đất nước. Nhất là, trong bối cảnh của Thánh lễ cầu nguyện cho công lý hôm nay, ngày chúng ta cầu nguyện cho sự hòa giải hòa hợp dân tộc, việc nhắc lại sẽ lại khoét sâu những vết thương của quá khứ. Điều mà chúng ta hôm nay cần nói với nhau là chẳng lẽ tất cả 90 triệu dân Việt Nam cứ tiếp tục cúi đầu và chỉ dám thốt lên những lời ai oán: “Ai lập đền trời kêu cúng để cho… Ai sẽ kêu oan, nói lên điều đau nhất. Hay dân mình nói mãi để mình nghe!”.

Chúng tôi nghĩ rằng, chúng ta sẽ lại chỉ “nói mãi để mình nghe”, nếu chúng ta tiếp tục vô cảm với vận mệnh đất nước, nếu chúng ta không một lòng, một ý, nếu chúng ta tiếp tục để cho những vết thương của quá khứ chia rẽ dân tộc này.
Tôi rất thích bài hát “Triệu con tim” của nhạc sĩ Trúc Hồ, bằng những ca từ da diết tình cảm quê hương, ông mong mỏi:
“Hãy biết yêu Quê hương Việt Nam,
hãy biết đau nỗi đau người dân
Ải Nam Quan, Hoàng – Trường Sa …
Một ngàn năm giặc phương Bắc
Quê hương mình rồi sẽ ra sao ?
Hãy biết yêu quê hương Việt Nam,
hãy đứng lên cháu con rồng tiên
đừng thờ ơ, đừng làm ngơ
triệu con tim, cùng bước tới …
chúng ta là dòng giống Lạc Hồng.”

Quê hương mình rồi sẽ ra sao? Đó phải là câu hỏi đặt ra cho mỗi người Việt Nam, cách riêng những người Công giáo chúng ta hôm nay.

Đất nước chúng ta cần một sự đổi thay, cần một sự hòa giải, hòa hợp đích thực từ cả hai phía để không còn sự phân biệt vùng Miền, trong nước hay hải ngoại, đảng phái, chính trị, tôn giáo, bên thắng, bên thua. 

Chúng ta cần quên đi quá khứ thương đau, trong ý thức cả dân tộc đang bị thua cuộc, tụt hậu so với các nước lân cận, trong đó có cả những nước yếu như Lào và Campuchia. Chúng ta đang bị giặc ngoại xâm xâm lấn từng ngày đe dọa tới sự tồn vong của dân tộc. Đối với những người vẫn tự cho mình là bên thắng cuộc, những bài hát như: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” cần được đưa vào viện bảo tàng, bởi những bài hát ấy mỗi khi cất lên sẽ lại có “triệu người vui, triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã từng nhận định.

Cần phải khiêm nhường nhìn nhận rằng, không có ai thắng trong cuộc chiến phi nghĩa này, mà chỉ có một dân tộc Việt Nam đang bị thua trong nỗi đau họa mất nước gần kề. Thiết nghĩ đã tới lúc, tất cả mọi người dân Việt Nam, cách đặc biệt những thành phần lãnh đạo đất nước hiện nay, cần phải sám hối lỗi lầm vì đã không làm tròn trách nhiệm của một công dân mang trong mình dòng máu Việt Nam, gây nên thảm cảnh bi đát hiện nay cho đất nước.

Tạm kết
Hôm nay, chúng ta cầu nguyện cho công lý và hòa bình trong khung cảnh cùng với cả Hội Thánh mừng mầu nhiệm phục sinh. Chúa phục sinh là Ngài đang sống và đang đồng hành với tất chúng ta, với dân tộc Việt Nam này. Chúa Phục sinh là để chúng ta dấn bước vào trong các thực tại của cuộc sống để làm cho cuộc sống hồi sinh, để làm cho cuộc đời và xã hội được thay đổi theo kế hoạch nhiệm mầu của Chúa. Và để có được sự thay đổi đó, chúng ta được mời gọi, như Chúa Giêsu nói với các môn đệ, cũng là nói với chúng ta hôm nay, “hãy yêu thương nhau”, bỏ qua mọi khác biệt, mọi hận thù, mọi đau thương của quá khứ để cùng nhau xây dựng một xã hội mới công bình, ấm no. Nhờ đó, nội lực đất nước được tái tạo để có thể đương đầu với các thế lực nội, ngoại xâm.

Xin Đức Giêsu Phục sinh, là Đấng đang sống, đang hiện diện giữa chúng con trên mảnh đất hình chữ S này. Chính Ngài đã nói với các môn đệ xưa, cũng là đang nói với tất cả chúng con hôm nay, lúc này: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. Xin cho mọi người dân Việt, không phân biệt chính kiến, tôn giáo biết bỏ qua hận thù, để cùng nhau chung tay xây dựng quê hương. Amen.
Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.

__._,_.___

Posted by: ly vanxuan <

Nỗi Đau Từ Bốn Mươi Mốt Năm


Parade Day
Thân kính mời:
 Qúy vi hữu - Qúy thân hữu & Qúy bạn. 
Nghe nhạc tưởng niệm -Tháng Tư Đen! 
& Thơ : Nỗi đau từ bốn mươi mốt năm - DQ
Thân ái
DQ
 


Mo Uoc Khong Tron - Duy Quang - Nguyen Huu Tan - Hoa Bien

Nhac pham: " Mo Uoc Khong Tron "...la noi niem khat vong, la su uoc mo cua nguoi linh ve mot que huong...


Nỗi Đau Từ Bốn Mươi Mốt Năm
Vết thương nào trong tim anh rướm máu
Nỗi đau nào ròng rã bốn mươi mốt năm
Ôi trái tim! Những trái tim uất hận
Mang trong lòng bầu nhiệt huyết hờn căm!


Hơn hai mươi năm trên đất dung thân
Tôi tự vỗ về bằng môi cười vị đắng
Nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi buồn chung
Ôi Tháng Tư Đen! Một ngày oan nghiệt.


Tôi đã hiểu manh tâm bạn đồng minh
Do tên gian hùng Kissinger hiến kế
Đi đêm với phe chủ nghĩa Nga -Tàu
Rồi phản bội những điều từng cam kết!


Muối mặt trơ lòng cắt nguồn viện trợ
Cố bỏ tiền đồn chống cộng kề vai
Quyết đem Sài Gòn hiến dâng Cộng sản
Đổi lấy lợi quyền từ các lâng bang!


Ba mươi Tháng Tư! quá đổi ngỡ ngàng
Nghe lệnh cấp trên: Bằng giao buông súng?
Cờ Vàng đổ xuống - Tổ quốc lâm chung
Cộng nô tràn về tha hồ thao túng!


Tướng hùng tuẩn tiết giữ trọn thanh danh
Chiến sĩ oai hùng trở thành tù binh
Thân bị đọa đày lao tù cải tạo.
Từ Nam ra Bắc: Trên chính quê mình!


Bốn mươi mốt năm lòng dân than oán
Chế độ độc tài đảng trị lưu manh
Đỉnh cao dâng Tàu: Núi sông, biển, đảo
Cúi đầu với giặc - Đàn áp dân lành!


Xin mắt môi em nụ hồng rực sáng
Xin đôi tay chị vung lửa đêm thâu
Xin đôi chân anh bước đường hứng khởi
Tất cả đứng lên diệt lũ bạo tàn
Đem hoa Tự Do rải mầm khắp lối
Gieo nền Dân Chủ thắm đẹp trời Nam.
DQ
Parade Day
__._,_.___

Posted by: Quang Nguyen 

Bốn Mươi Mốt Năm VNCH Sụp Đổ, Nhìn lại " Bên Thắng Cuộc " Như Ta Thấy !



--
Kính Chuyển
MG


Bốn Mươi Mốt Năm VNCH Sụp Đổ,
Nhìn lại " Bên Thắng Cuộc " Như Ta Thấy !
Mường Giang


bảy nhăm giặc cộng lên ngôi chúa
cả nước im re đợi chết mòn
trong xóm trình thưa mụ gánh cá
trong tù xanh mặt trước thoi, côn

trong chùa thầy tịnh theo cây kiểng
cha cũng hiền khô đứng lại ngồi
chỉ chíp miệng than cùng thế sự
đâu ngờ việt cộng bạc hơn vôi

trong chợ bán văn buôn chữ nghĩa
vắng hoe ruồi nhặng thưở làm trùm
đâu rồi ký giả ăn xin dõm
chuyên bới quen đào để mánh mung ?

trong trường nắng rọi trên bàn ghế
nam nữ sinh viên bỏ học rồi
kẻ đi nghĩa vụ, người thủy lợi
xanh xao cơm áo lệ tuôn rơi

trong phố Ba Tàu ôm mặt khóc
chết trân đứng ngó giặc vơ, thâu
cửa hàng, vàng đô tiền kiếm đưọc
giờ đây tay trắng đói như nhau

trong lều nước mắm thùng trơ rổng
Đức Thắng, Bình Hưng vắng bóng thuyền
Cồn Cỏ, Cồn Chà dân xóm biển
gạo dầu, hợp tác đói như điên

trong nhà buồn bã ngày tao ngộ
độc lập chồng con vắng bóng người
kẻ chết banh thây nơi chiến địa
người tù buồn tủi chốn xa xôi

trong bến tìm đường đi vượt biển
bảo giông, hải tặc hận miên trường
triệu người bỏ mạng làm mồi cá
bao kẻ còn chờ tận viễn phương

bức tranh mây chó " thời giải phóng "
bốn mươi mốt năm chẳng đổi dời
thương lính Miền Nam thành " giặc ngụy "
rợ Hồ bán nước lại lên ngôi


          Từ sau ngày 1 tháng 5 năm 1975, miền Nam hoàn toàn sụp đổ khi Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng. Ðây cũng là tai kiếp thế kỷ của Dân Tộc Việt do Cộng Sản Quốc Tế mang tới, cho dù Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ cao cấp của Bắc Việt, trong suốt 20 năm lửa máu đoạn trường, luôn chối không có liên quan gì tới cuộc chiến. Nhưng lần đầu tiên ăn mừng ‘ mùa xuân đại thắng ‘ chính Tổng bí thư đảng CS lúc đó là Lê Duẩn, lại lên đài tuyên bố “ không có kẻ thắng, người bại “, chứ không phải Chủ tịch Mặt trận GPMN Nguyễn hữu Thọ, nhân vật mà báo chí trong và ngoài nước luôn nhắc nhở từ tháng 12/1960 cho tới 10 giờ trứa ngày 30-4-1975.

           Ðây là sự thật chứ không phải cảnh giả ngộ và đã xảy ra tại Sài Gòn hôm đó, luôn cả chính phủ lâm thời miền Nam, cũng coi như cùng chết yểu theo chính phủ VNCH, mà mới hôm qua vẫn còn đóng đô trong trại David (Tân sơn Nhất). Hình ảnh còn thấy đưọc sự sống của mặt trận là mấy lá cờ nửa xanh, nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng, được treo lủng lẳng theo đoàn tăng, pháo do Liên Xô chế, nhưng trên xe toàn bộ đội Bắc Việt, từ người lái cho tới Bộ Binh tùng thiết. Ðiều này dễ nhận, nhờ giọng nói, hình vóc ốm yếu nhỏ bé so với người Nam và nhất là hầu hết đều môi thâm, răng hô, má thỏm, có lẽ vì ai nấy đều hít hút quá nhiều thuốc Lào.

           Riêng Mặt trận cũng đã về thủ đô nhưng rồi ai tớ, ai thầy, đã quá rõ ràng trên hàng ghế danh dự nơi khán đài do Phạm Hùng, Trần văn Trà chủ tọa. Màn hài kịch dài mấy chục năm chấm dứt. Người Nam kẻ Bắc từ đó lại ôm nhau chìm trong vũng bùn ô nhục của xã nghĩa thiên đàng. Lừng lẫy nhất trong mặt trận hửu danh vô thực là Nguyễn thị Bình, một trong những người của bốn phe đã đặt bút ký vào trong manh giấy lộn cũng là tờ đoạn mãi VNCH cho CS của cặp Nixon-Kissiger, ngày 27-1-1973 tại Ba Lê.

          Tất cả như đám lục bình nổi trôi theo con nước ròng, nước lớn trên các kênh rạch, sông Hậu, sông Tiền, sau khi Bắc Việt cưởng đoạt được Nam VN. Y thị Bình và đồng bọn trong cái mặt trận ma, bị vứt vào quên lãng như tờ giấy lộn trên với cái thân phận bù nhìn, phất phơ, ngồi trơ mắt ếch. Bốn mươi mốt năm qua rồi, ngày nay các huyền thoại BỊP một thời làm mù mắt cả nước cũng theo chuyện xưa, tích củ, chuyện bán nước buôn dân, tàn theo mùa chinh chiến,cho dù ấy năm trước đây đã có một nhà văn giai VC là Huy Đức, xào nấu trở lại với những hương liệu có tẩm hóa chất độc của hải ngoại, đã làm bừng lên nổi căm hờn của người Việt trong và ngoài nước, trước cảnh “quốc phá, gia vong “ do chính kẻ mạo nhận là “ bên thắng cuộc “ mang đến cho đất nước và dân tộc Việt. Ngoài ra bất cứ ai cũng đừng quên rằng tầm quan trọng lịch sử của một cuộc chiến nhất là cuộc chiến VN, hầu như do các huyền thoại liên hệ quyết định. Nhưng huyền thoại cũng là con dao hai lưỡi, để kết luận sự thành bại của cuộc chiến. Tóm lại qua câu chuyện kể về “ bên thắng cuộc của mình “, Huy Đức và nhóm bưng bợ đã làm bộ “ bỏ quên  thực chất của câu chuyện “Đó là những gì có hôm nay trên đất Việt sau 41 năm “ bên thắng cuộc làm trùm “, mới thực sự đánh giá ai là giặc là nguỵ và ai mới xứng đáng đi vào lịch sử, để mai sau con cháu tôn sùng hay khinh miệt ..

          Ngày nay qua những khai quật của lịch sử trong núi kho tàng dữ liệu, từ Pháp, Mỹ cho tới Tàu đỏ,Việt cộng và VNCH, cho thấy những chiến thắng của Lê Duẩn, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng.. tại miền Nam trong suốt 20 năm đối mặt với QLVNCH, thật ra không có gì là vĩ đại như gần hết báo chí Tây phương viết theo lời đảng tuyên truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão, Bình Giã.. cho tới cuộc đại chiến hồi Tết Mậu Thân 1968, những trận long trời lở đất trên đất Cao Miên (1970), Hạ Lào (1971), rồi Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức,Cồn Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp.. và mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến hồi gần kết cuộc tại PhanThiết, Xuân Lộc,Biên Hòa,Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Sài Gòn.. mọi nơi, khắp chốn, từ trong núi cho tới thị thành, lúc nào VC cũng đánh lén, hồi nào cũng biển người, khi nào cũng có hỏa lực hùng hậu đưọc viện trợ hay mua chịu trả sau từ Nga, Tàu, Ðông Âu, Ðông Ðức.. nhưng đâu có lần nào thây không phơi xác đầy bãi, đánh nhanh, rút vội quay về rừng để bổ sung nhân số ?

          Khi thảm kịch VN chính thức thành hình ngày 27-1-1973, qua cái gọi là hiệp định chấm dứt chiến tranh, sau 4 năm 9 tháng Mỹ và khối CS quốc tế cò kè bán mua cái thân xác nhưọc tiểu VNCH. Rốt cục Mỹ rút bỏ VN bắt đầu từ thập niên 70 qua chương trình VN hoá chiến tranh. Nhưng không có Mỹ chiến đấu bên cạnh, lại không ngờ những năm 1970-1973, QLVNCH qua sự chỉ huy tài ba của những Sĩ quan trung cấp, trong mọi quân binh chủng từ Nhảy Dù, TQLC, LLÐB,BÐQ, Thiết Kỵ,Không Quân, Hải Quân.. cho tới các Sư đoàn bộ binh 1,2,3,5,7,9, 18,21,22,23,25 kể cả các đơn vị Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát Dã Chiến, Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn.. luôn cả Nhân Dân Tự Vệ.. đưọc các nhà quân sử xếp loại Lính thiện chiến nhất thế giới.

           Thật vậy, có là lính chiến đấu ngoài mặt trận, mới cảm nhận được lòng hy sinh vô bờ bến cùng với sự can đãm của QLVNCH trong các mặt trận long trời lở đất tại An Lộc, Kon Tum, Quãng Trị, Bình Ðịnh, Thưọng Ðức, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Xuân Lộc và những ngày hấp hối tại Phan Thiết,Tây Ninh, Củ Chi, Long An, Biên Hoà, Sài Gòn..

          Sự chiến đấu phi thường của những người lính Miền Nam, lãnh một năm lương không bằng một trận cười của các me tây, me Mỷ, gái điếm, nam nữ ca sởi, các văn hào thi bá nhớn bé và mấy đại tri thức, chính khứa khoa bảng.. khã kính lúc đó. Trong đỉnh cao thời thương này, đã có không ít người vừa sống ký sinh gửi mạng cho lính bảo vệ, lại vừa ăn cơm ta, mang lon quân đội, sử dụng công xa chính phủ nhưng thờ ma Hồ.

           Hiệp định Paris 1973 là vết dao trí mạng của Kissinger đâm đúng ngay hồng tim của VNCH, khi Mỹ và CS quốc tế toa rập, hợp thức hoá sự có mặt của bộ đội Bắc Việt trên lãnh thổ miền Nam, cắt và ngưng viện trợ cho QLVNCH như đã từng ký hưá để tháo chạy nhục nhã ngay cả trên nóc nhà. Tồi bại hơn hết là hành động của Mỹ dùng viện trợ bắt ép VNCH ký nhận bản hiệp ước vô lý bất nhân 1973, khiến quân dân miền Nam khởi đầu sự tan rã vì bất bình trước sự kiện miền Nam đang thắng lớn, bổng dưng đầu hàng cái mặt trận MA qua chấp nhận sự hiện diện của cái gọi là chánh phủ lâm thời Ma và quân đội giải phóng MA, mà hầu hết đều là bộ đội miền Bắc. Thêm vào đó là bọn hàng binh phản chiến, bọn trí thức thời thượng khôn nhà dại chợ.. tất cả hiệp đồng đâm sau lưng người chiến sĩ, thì bảo làm sao lính không chết tới bị thương nhưng trời thì cao, đất lại rộng nên đâu có thấu hiểu thân phận cùng mạt của người lính VNCH .

          Về cái huyền thoại chông Pháp, chống Nhật, chống Mỹ cứu nước, thì cũng chẳng có gì vĩ đại như đảng ra rã tuyện truyền, vì chống Pháp là công của toàn dân có cả người anh vĩ đại phương bắc, chỉ huy và lảnh đạo Võ Nguyên Giáp tại mặt trận Ðiện Biên Phủ 1954. Nhật thì đâu có đánh trận nào mà tự ý họ giãi giáp và rút về nước sau khi đầu hàng Ðồng Minh vô điều kiện, Riêng thắng Mỹ thì lại càng phải xét lai, vì với lực lưọng CSVN lúc đó, chỉ mới đưọc xếp loại ba trên thế giới, thắng hay bại đều do quân viện Nga-Hoa, hậu phương trên đất Bắc sau mấy chục năm chiến tranh triền miên khốc liệt, coi như sắp cạn kiệt kể cả người, vậy lấy gì để thắng Mỹ là một nước giàu mạnh trên thế giới, đúng nghĩa vật chất lẫn quân sự.

          Tóm lại người Mỹ chỉ vì theo đuổi chính sách tự trói hay đúng ra theo đuổi một giải pháp chính trị cho Ðông Dương, hơn là dùng bom đạn gây đổ vở chết chóc như CS chủ trương “quyền lực trên đầu súng “ trong suốt mấy chục năm qua.Sự thực ngày nay về sức mạnh Mỹ qua cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991,Nam Tư và mới đây tại A Phú Hản, Irap, coi Nga Tàu kể cả Pháp chuyên rình ăn ké như pha rề. Bao nhiêu đó, cũng đủ chứng minh rằng với 500.000 quân Mỹ có hỏa lực hùng hậu nhất thế giới, hậu phương tiếp liệu vô tận, giàu mạnh và tài giỏi như quan thầy Nga còn tan hàng, bỏ đảng, nếu Mỹ thật tâm đánh giặc thì Bắc Việt sức nào mà đở nổi và chống đưọc bao lâu ?

          Ngay cả trên bàn cờ chính trị, CS đã thắng gì, dù có gây đưọc vài ba phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ, nhưng đây là sản phẩm của bọn đạo tặc truyền thông da trắng, chứ không phải công của VC. Sau này mới biết được, người Mỹ đã dự liệu trước sự vi phạm trắng trợn hiệp định 1973 và bản tuyên cáo của La Cell St. Cloud vào tháng 6/1973 của Bắc Việt, để có lý do và công pháp quốc tế, hủy bỏ lời hứa viện trợ tái thiết cả chục tỷ đô la, đồng thời được quyền pháp định theo Liên Hiệp Quốc, phong tỏa kinh tế và cấm vận VC dài hạn cho tới đầu năm 1990 mới hủy bỏ.

          Nhưng cuộc chiến Ðông Dường lần thứ ba 1955-1975, dù cho có gọi bằng thứ danh từ hoa mỹ hay quỷ quái gì chăng nửa như chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng dân tộc, nội chiến Nam-Bắc.. thì tựu trung cũng là Bắc Việt xâm lăng VNCH. Cái đa dạng và phức tạp từ trong định nghĩa ra tới thực chất, đều thoát thai qua lớp hỏa mù tuyên truyền và đống núi tài liệu tả bánh lù , đối chọi tréo cẳng ngổng làm cho lớp trẻ trong và ngoài nước, cũng như những kẻ bàng quang hôm trước, hôm qua cho tới bây giờ, vẫn không dám chắc đâu là sự thật ?

          Từ đó suy diễn bậy bạ và trút hết mọi thua thiệt, lầm lỗi, tội ác (?) vào “ kẻ thua cuộc  VNCH “, đáng ra phải đưọc vinh danh vì công trạng giữ gìn và bảo vệ nước Việt trước sự xâm lăng nhuộm đỏ của CS quốc tế. Ðây cũng là cơ hội để những người có trách nhiệm, hoặc vô tình hay cố ý, ở ngoài hay thực sự có mặt trong cuộc chiến, đổ hết tội lỗi vào Chính Phủ VNCH, bằng tội danh Tham Nhũng, Bất Tài, Bè Phái, Ðộc Tài, Quân Phiệt.. Trong lúc đó, thật sự những người này cũng có mắt tại hiện trường và cũng có trách nhiệm nhưng đã không làm gì hết. Rồi ba mươi bảy năm sau, chính những người này hay lớp trẻ, lớp mới, gần như không làm được gì để guíp giải quyết tình trạng thảm thê của đồng bào đang sống trong địa ngục đó. Thua me gỡ bài cào, họ lại quay vào chửi bới moi móc VNCH, chà đạp ‘ Lá Cờ Vàng ba Sọc Ðỏ của Quốc Dân VN ‘. Đã thế còn công khai ca tung một cách mù quáng và vô liêm sĩ bọn bồi bút VC, đã và đang múa may quay cuồng làm đảo lộn cuộc sống của người Việt TNCS hải ngoại. để tỏ ra mình là “ thành phần thứ ba đối lập “  đang  nhúng tay vào giải quyết những vấn đề gai gốc trước mặt của đất nước, những chuyện mà không phải ai cũng làm được trứ họ (?) !

          Hơn tám mươi năm tìm đủ trăm phương ngàn kế, tận dụng hết tất cả thủ đoạn, xô lệnh sơn hà, gây cảnh máu sông, xương núi, để làm chủ cho đưọc VN, cuối cùng lúc chính thức thánh “ bên thắng cuộc “, cũng là lúc những huyền thoại thay nhau òa vỡ trong biển hận trời hờn, ngay cái phút đầu tiên đối mặt “ người miền Nam đã bẽ bàng trước cảnh bị lường gạt thâm canh “, vì cái mặt trận MA chỉ là cái công cụ để bộ đội Hồ nhuộm đỏ đất Việt. Như vậy đối với cuộc chiến ‘ lưu manh này’ nếu người Việt Quốc Gia hôm qua, hôm nay vì “ thù nhà nợ nước và sĩ diện của dân tộc Việt “, đã phải tiếp tục sứ mệnh chống lại kẻ thù phản dân hại nước qua mọi phương cách,thì đó cũng là lẽ công bằng của trời đất nên có gì đâu mà nói !

          Rồi thì đổi đời bi thiết ngay trên vùng đất mới vừa đưọc cách mạng giải phóng, các anh hùng rừng núi Trường Sơn, mật khu Hố Bò trung kiên với đảng, ngày thứ nhất về thành đã võ vàng lột xác trước cảnh sang giàu của vùng bị tạm chiếm, mà đảng bảo là đói khổ lầm than. Sự bịp bợm của cấp lãnh đạo làm tan vở huyền thoại về ‘ đạo đức cách mạng’. Thêm một lần nửa người Việt cả nước nhận thực về tình cọng sản, chỉ đẹp khi chưa nắm chính quyền như trước năm 1954 ở miền Bắc và 1975 tại miền Nam.

          Ðất nước xơ xác tiêu điều dưới sự lãnh đạo của tập đoàn đỉnh cao trí tuệ, dân đói mặc bây, chỉ lo triễn lãm tội ác Mỹ Nguỵ, xây kỳ đài khắp quê làng, phố chợ, in sách để quảng bá về vụ Mỹ Lai, Bến Tre nhưng không nói tới thảm cảnh chôn sống giết dân Tết Mậu Thân tại Huế, trên đại lộ kinh hoàng, đường số 7, Bình Ðịnh, An Lộc, phóng đại huyền thoại Củ Chi lại quên là Ðịa đạo đã bị san bằng từ năm nào, kể cả cái R cũng thành bình địa, khiến Nguyễn chí Thanh phải tan xương nát thịt dưới bom Mỹ năm 1967.

           Tóm lại tất cả đều đi ngưọc lại lời Lê Duẩn tuyên bố, VC làm giặc chỉ để có quyền cướp của, giết người, hủy diệt tôn giáo, đình, chùa, nhà thờ, coi trí thức miền nam tệ hơn cục phân như Mao đã phán, kể cả số ít khoa bảng đã góp phần đem vinh quang cho đảng. Nắm súng trong tay,lại bá đạo, tàn độc nên khắp miền Nam (nhất là Huế, Đà Nẳng, Sài Gòn, Phan Thiết) không còn thấy cảnh đem bàn thờ Phật ra đường, ký giả đi ăn mày, cha tố cáo tham nhủng hay trí thức khùng coi đời như bửa tiệc nhân sinh. Ho Trịnh viết nhạc phản chiến hồi trước năm 1975. hết bài này tới bản khác, mà đâu có ai dám bắt bớ hay ngăn cản, vì sợ làm thui chột tài ba âm nhạc của một thiên tài (?)

           Tất cả im re lặng ngắt, thấy cán bộ đầu ngỏ đã khúm núm chắp tay thưa ông, dạ bà cần gì, dù cho những thành phần này trước đó bị họ coi rẽ khinh miệt vì nghèo đói lam lũ lao động, gánh nước mướn, ở đợ, đạp xích lô.. Sự co mình của những kẻ hung hăng nhất của ngày củ, khiến đảng càng kiêu căng phách lối, đốt hết sách vở miền Nam, bỏ tù hằng triệu quân công cán cảnh VNCH trước cảnh sa cơ, cày mộ tử sĩ , đuổi hằng trăm ngàn người Hoa ra khỏi nước để hốt vàng, chiếm nhà, đoạt xí nghiẹp, tài sản.. khiến cả nước ngáp vì bo bo độn gạo mọt. Nay hối hận thì cũng muộn màng, vì ngày trước giao khoán phần chống giặc cho lính, lại còn kết bè ăn có hạ nhục, đâm lén, phủ phàng. Nay lính đã rả ngủ, còn ai để bảo vệ cho dân và bọn ký sinh trùng ?

          Nhưng thê thảm hơn hết vẫn là chính sách trồng người, mà nạn nhân là các thế hệ thanh thiếu niên cả nước, bị nhét vào đầu những trang sử Việt viết bằng ý thức hệ duy vật Mác Xít cọng sản quôc tế, xóa bỏ nhiều anh hùng liệt nử của dân tộc Hồng Lạc, đem tên những cha căng chú kiết, được đảng phong là liệt sĩ, nữ lưu gì gì đó trám đầy, cùng với những bịa đật tuyên truyền, làm hư hỏng cả một thế hệ thanh niên ngày nay. Cũng may, ngày tàn của đảng tới sớm, nên sự thật đã tẩy sạch hết mọi bẩn dơ, kỳ quặc trong số lớn lớp người trên. Hởi ôi, chỉ có 55 ngày đêm đại bại, mà VN phải chịu sống trong cơn ác mộng của xã nghĩa thiên đưòng, chẳng biết bao giờ mới ngóc đầu lên như nhân loại, để thở hít không khí trong lành của xã hội người.

           . Thật sự không một người miền Nam VN nào muốn có chiến tranh, bằng chứng cho thấy trong những ngày máu lửa tháng 4-1975, biết bao nhiêu người có điều kiện và hoàn cảnh để chạy, nhưng vì họ quan niệm hết chiến tranh rồi, thì chính quyền nào cũng vậy, chạy làm chi, sống ở đâu sao bằng sống trên quê hương mình, có mắm tôm, cà pháo, rau muống, giá sống.. ăn ngon hằng ngày. Cũng vì quan niệm sống hòa hợp như vậy, nên tất cả những người ở lại, từ sĩ thứ, quan quân người cả nước nô nức đi học tập theo lệnh chính quyền mới, để sau đó làm người mới, cùng nhau xây dựng lại đất nước như tâm nguyện của mọi người.

          Bởi vậy tất cả đã lọt vào bẫy rập của VC. Nhưng Hà Nội lúc đó không dám công khai tàn sát người Miền Nam như Polpot, nên dùng phương pháp tinh vi hơn bằng cách gạt quân dân VNCH vào tù học tập , để rồi chẳng bao giờ xét xử, hành hạ giết dần mòn những kẻ sa cơ thất thế, cũng vì sự lừa đảo và bán đứng của đồng minh Mỹ và các cấp lãnh đạo. Dân chúng cũng đâu có yên, của cải, vườn ruộng, nhà cửa bị cướp giựt, qua nhiều đợt cải tạo công thương nghiệp, do đảng dựng đứng để cướp của giết người. Nhiều người, trong số này không ít mẹ chiến sĩ, thương gia trí thức thân cộng, mất tiền, hối hận, nên phẫn uất tự tử chết. Hầu hết sau khi đã trắng tay, còn bị đảng tống khứ lên vùng kinh tế mới tận chốn rừng xanh, núi cao, khỉ ho cò gáy, ma thiêng nước độc, để rồi cũng chết dần mòn vì kiệt sức bệnh tật tại các nông trường tập thể.
         
          Riêng những người may mắn hơn, còn bám víu được ở thị thành hay nông thôn, số phận của họ cũng như gia đình và con cái, suốt ba mươi bảy năm qua, vẫn bị phân biệt ‘ ngụy quân - ngụy quyền ‘, làm hủy hoại tương lai của không biết bao nhiêu tài danh của đất nước, cũng chỉ vì sự tàn ác dã man của những “ bên thắng cuộc “, qua lớp son hào nhoáng “ cách mạng giải phóng “, mà mặt thật quá đỗi trân tráo, mỉa mai một cách vô liêm sĩ.

           Bởi sống không nổi trong địa ngục trần gian, nên hầu như cả nước kể luôn cái cột đèn nếu biết đi, cũng hồ hởi vượt biển vượt biên đi tìm tự do, gây nên cơn hồng thủy biển đông, khiến cho hằng triệu người phải chết thảm vì bảo tố và hải tặc Thái Lan. Tóm lại như từ thuở nào, chiến tranh hay hận thù, nguyên nhân đều phát xuất từ VC. Những người dân hiền lành có muốn không hận thù, đừng chống Cộng nhưng đâu có làm được vì hận thù vẫn cứ từ trên trời rớt xuống, tháng lại ngày qua, đè nặng bờ vai cuộc đời, không tìm cách vứt nó xuống, chẳng lẽ để nó đè chết người hay sao. Ðó là lý do người Việt phải bằng đủ mọi cách tiêu diệt chế độ VC, để có cơ hội sống còn.

          Trong dòng Việt Sử, từ ngày Vua Hùng dựng nước cho tới nay, cũng đã có nhiều cuộc tương tàn đổ máu giữa anh em đồng bào, như loạn Thập Nhị Sứ Quân thời Nhà Ngô, Nam Bắc Triều giữa Nhà Mạc và Vua Lê-Chúa Trịnh, rồi Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn phân tranh, cuối cùng là cuộc chiến Quốc Cộng từ 1945- ?. Nhưng chiến tranh nào rồi cũng kết thúc, người Việt hai miền cũng giống như tiền nhân thuở trước, vì tình đồng bào đồng nước, đồng chung máu đỏ da vàng, mà có thể XÓA BỎ HẬN THÙ. Nhưng đối với đảng cọng sản quốc tế đang thống trị VN, thì miên viễn người Việt sẽ không bao giờ hòa hợp, hòa giải khi đất nước vẫn còn nghèo đói khổ đau, bị bất công đối xử, cướp bốc tài sản, hủy hoại tư cách con người.. trong cái gọi là thiên đàng xã hôi chủ nghĩa, từ ấy cho tới nay vẫn không bao giờ thay đổi.

          Mới đây ký giả Nhật tên Yoshigata Yushi, đã tới VN trong ngày đảng ăn mừng chiến thắng 30-41975, để tìm hiểu về số phận của những thương phế binh VNCH tại Nam VN. Thì ra đừng nghe những gì đảng nói như hãy quên quá khứ, đoàn kết lại để xây dựng đất nước, mà hãy về nhìn những người thương phế binh VNCH, sau ba mươi bảy năm ngưng chiến, vẫn là nạn nhân đang bị Hà Nội khinh bỉ, ngược đãi để trả thù :

          Sau đó, người ký giả trên kết luận là Chiến Tranh tại VN thực sự vẫn chưa kết thúc. Do trên người Việt khắp nơi vẫn phải tiếp tục đấu tranh để dành lại quyền sống và quyền làm người, chứ không phải vì chống cộng sắt máu, mà người Việt không chịu xóa bỏ hận thù hay hòa hợp hòa giải với Việt Cộng.

          Bổng thấy thương vô cùng những người lính VNCH, tuy bị đời chửi rủa là đánh giặc mướn cho Mỹ, nhưng suốt thời gian 1955-1975, ngư phủ VN từ Cửa Việt vào tới Hà Tiên, ngày ngày giăng câu thả lưới, bạn với gíó mát trăng thanh, mà không sợ một kẻ thù nào kể cả VC. Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu, từ khi tập đoàn CSVN trở thành “ bên thắng cuộc “, chẳng bao giờ dám công khai giữ nước để chống lại kẻ thù Trung Công, đã và đang chiếm dần đất đai và biển đảo của VN.



Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
tháng tư 2016
MƯỜNG GIANG

__._,_.___

Posted by: Ho Dinh 

Sunday, April 24, 2016

NGÀY NẦY, NĂM 1975.



Làm ân không xong phải bỏ thôi ĐỪNG BAO GIỜ TRÃC HOA KỲ HÃ TRÁCH CHĨNH MÌNH

 
NGÀY NẦY, NĂM 1975.

Tiểu Tử


Năm nay tôi 85 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: ” Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá ! Bây coi: ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua ! Chi vậy hổng biết ? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ ! Trời đất ! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam … “
Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật ! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…
Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ “cái ngày đó” nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…
* * *
…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Singapore vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…
Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi còm-măng Singapore một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Navy Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sàigòn để cập kho Nhà Bè !
Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bày ngày tác chiến của không quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: ” Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút ! “. Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là ” Xếp ” – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói :” Bonjour ! çà va ?” ( Chào ông ! Mạnh hả ?)
Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa !
Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: “Rất tiếc ! Chúng tôi không giúp được ! Thôi ! Chúng tôi về ! “. Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: “Allez vous en ! ” ( Ông hãy đi, đi ! ) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en ! ” (Ông hãy đi, đi ! ) …
Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì ” họ ” dán… đầy đường cái nhãn ” hai bàn tay nắm lấy nhau” để chứng tỏ sự thật tình ” khắn khít “, rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng ” thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình ” !
Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: ” Chánh quyền Mỹ từ chối ! “. Sau đó, tôi đánh điện qua Singapore , cũng chỉ bằng một câu: ” Không có hộ tống “. Họ trả lời ngay: ” OK ! Good Luck ! ” ( Nhận được ! Chúc may mắn ! ) Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xót !
Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: ” Sao về vậy anh ? “. Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc . Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: “Ờ…Khóc đi anh ! Khóc đi ! “
Ngày đó, tháng tư năm 1975…Đúng là ngày nầy !



__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link