Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, May 19, 2012

NÓI VỚI VIỆT-KIỀU

 

 

NÓI VỚI VIỆT-KIỀU

Tác giả Chung Mốc hiện đang cư trú tại Thủ Đức, Việt Nam, gửi bài qua một thân hữu chuyển đến. Trước 1975, tại miền Nam, ông là một nhà giáo, một huynh trưởng hướng đạo sáng giá.

Bài viết của ông, như tựa đề, viết theo cách nhìn của bà con quê nhà nhìn những Việt kiều Mỹ khi họ về thăm lại quê quán.

Tháng Năm, nóng toé khói.

Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần, để thấy những cái tưởng mất đi vĩnh viễn nay lại tìm gặp, cái xưa tầm thường nay trở nên quí giá.

Tôi may mắn thường có dịp đón tiếp thân nhân cùng bạn bè về thăm nhà, nhận thấy song song với nỗi vui mừng khi tái ngộ, còn có vài điều tưởng giữa chúng ta, TA và TÂY tự điều chỉnh, để ngày sum họp niềm vui thêm trọn vẹn.

Tôi nhận thấy có mấy dạng Việt Kiều:

Người giàu (Có lẽ là giàu thật) quan niệm đi 5 về 10, xênh xang áo gấm về làng, họ hàng cũng được thơm lây.

Hàng xóm có lòng đố kỵ cho là nổ : Hồi xưa nghèo không có đôi dép mà đi, giờ tha đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, vô nhà ai cũng không dám uống nước dù là nước trà; nước giếng, nước mưa thì chê hôi.

Họ đâu còn nhớ tới những ngày kinh tế mới, những ngày đi đào kinh thuỷ lợi nghiêng nón múc một ít nước đục ngầu mà uống.

Bây giờ cứ đòi vào nhà hàng máy lạnh sang thiệt là sang để ăn uống cho an toàn khỏi sợ đau bụng, nhưng nếu họ chịu quá bộ ra chỗ đang rửa chén tô, nơi nhà bếp đang lặt rau, làm cá băm thịt, thì tưởng chưa có nơi nào mất vệ sinh hơn thế nữa !.

Tôi lấy làm ngạc nhiên và hãnh diện khi người mình mới qua tới xứ người, người lâu thì vài ba chục năm, người mới thì chỉ năm hay mười năm mà nay ai cũng là bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng chủ tiệm, tiếng Tây tiếng Mỹ phun phèo phèo, mà hình như không có ai làm thợ hết cả (?).

Nếu quả thực như thế thì Mỹ trắng Mỹ đen quá kém, nay họ lại phải xin đi làm công cho người mình nhiều quá, chứ như ở VN mà mấy anh Campuchia qua đây lập nghiệp, không chịu làm cu ly khuân vác từ đời cha tới đời con thì cũng còn khuya mới ngóc đầu lên nổi.

Có người qua Mỹ đã lâu nhưng còn e ngại vì tài chánh eo hẹp chưa muốn về thăm quê, vì ngoài tiền vé máy bay ra, còn tiền quà cáp, xe cộ tiêu xài. Nhưng họ đâu biết rằng có tiền cho thân nhân đã quí, nhưng gặp lại người thân sau bao nhiêu năm xa cách còn quí hơn nhiều lắm.

Vẫn biết rằng trong đám thân nhân "yêu vấu" kia thế nào cũng có người nói xấu sau lưng: "Việt Kiều về quê mà Trùm Sò thế thì về làm quái gì". Cũng may số người này không nhiều.

 Người nghèo (Có thể là nghèo giả) than van quá trời vì sợ người nhà vòi tiền, mà có người vòi tiền thật, mè nheo đủ thứ.

Họ không chờ cho đến khi gặp mặt mà thư, điện tới tấp khiến mẹ cha, anh em con cái phát chán, vì người ta biết tiền gửi về sẽ bị tiêu pha một cách lãng nhách bởi những người chuyên vô công rỗi nghề, từ sáng tới tối xách xe chạy vòng vòng.

Thái độ và cử chỉ bên TÂY thì lịch sự nhã nhặn, cưng chiều vợ con hết mức (theo kiểu nịnh nghề bà lắm nạc) khiến phe TA ở quê nhà xốn con mắt lắm. Nhưng khốn nỗi TA lại cộc cằn thô lỗ, gia trưởng y như xưa, y như cách đây hàng thế kỷ. Hôm nay nhà có cơm khách, khách hỏi:

- Còn các cháu đâu, không ra dùng cơm luôn thể?

- Các bác cứ xơi tự nhiên, các cháu đã có rồi.

Các bác đang xơi, các cháu thập thò ở cửa, Bố quát:

- Xuống bếp ăn với mẹ!

Đứa con giơ tay lên trời:

- Xin thề là dưới bếp hết cả nước lẫn cái rồi bố ạ!!!

*

Bên TÂY gặp nhau ôm hôn chùn chụt, bên TA mà làm thế có ngày chả còn răng ăn cháo. Hôm anh tôi về, thấy mấy trự Việt Kiều gặp người đi đón ở phi trường, lợi dụng cơ hội ôm hôn tùm lum, ảnh nói có nhiều người làm trò khỉ quá.

Rồi sau đó ít hôm ảnh lại nói sao Việt Kiều về cứ phải chứng tỏ mình là Việt Kiều cho oai, lúc nào cũng thấy đeo cái túi mề gà trước bụng, đàn ông lại còn mang quần có dây đeo vai cứ như mấy anh bồi nhà hàng.

Họ nói chuyện với nhau hay với con cái cứ xổ tiếng Mỹ làm người nhà phải nghệt mặt ra. Mà làm như thế nghĩ cũng chả ích lợi gì, chỉ tổ cho nhà hàng chém thẳng tay.

 

Việt Kiều thường phê bình người trong nước đổ đốn, không chịu làm gì cả chỉ ăn nhậu. Nói của đáng tội, cái đó cũng có nhưng vì họ chưa có cơ hội tiếp xúc với những Giám Đốc trẻ không rượu bia thuốc lá; có trách nhiệm, năng lực và lòng tự trọng; những người thợ quần quật với công việc nặng nề; những nông dân chân lấm tay bùn đã làm nên những thay đổi và ấm no hơn những ngày cũ.

*

Việt kiều lớn đã thế còn Việt Kiều con, tụi nhỏ về đây gặp khí hậu, thời tiết khác lạ, ăn ngủ trái múi giờ dễ sinh ra dị ứng ốm đau, làm ông bà cha mẹ lo sốt vó.

Thái độ tụi nó cũng kỳ dị lắm, hình như nó không thích được nâng niu âu yếm, đụng vào người là nó co rúm lại, mà người mình có thương thì mới rờ rẫm bóp mông, bóp đít khen nó mập, trắng hồng coi dễ thương hết sức.

Ban đầu tôi tưởng tụi nó chê mình ở bẩn, nhưng sau này mới biết là làm vậy không nên, nếu là ở Mỹ có thể bị kết tội child abuse gì đó.

Tụi nhỏ nói tiếng Việt không rành, nó ú ớ bảo là đau bụng, đưa thuốc cho uống cả tiếng sau mới nói là nó "wrong", nó bị đau cổ họng cơ.

Có nhiều đứa lý sự và phá trời thần, trẻ con VN mà nói tay đôi với người lớn thế thì có mà nát đít, còn trẻ Việt Kiều nó được tự do tranh luận nếu nó nhận thấy người lớn nói sai.

Về VN mà nó làm cứ như ở nhà nó, cái máy quay phim, dàn máy hát ở quê nhà quí lắm, dành dụm biết bao lâu mới mua được, nhưng con cháu Việt Kiều về xài rồi nó quăng vất tứ tung, chọc ghẹo nhau chạy tới chạy lui làm đổ dàn am-pli, cả nhà thấy xót quá mà không ai dám nói gì!

Nói sang cái ăn mới ngộ, đãi Việt Kiều ở nhà hàng, TA ép TÂY ăn thịt.

TÂY than thở: "Tại sao lại ép chúng tôi những thứ mà hàng ngày phải ăn mấy chục năm nay?". Không lẽ kêu măng luộc, rau đay cua rốc, cà pháo mắm tôm, rau muống xào đập tỏi v.v...Những thứ đó quê tôi có đầy ra, bước ra đàng sau vườn loáng một cái có cả rổ, bây giờ thường để cho heo ăn mà thôi, ai nỡ lòng nào đem ra đãi Việt Kiều.

Việt Kiều con thì khác hẳn, vào bàn nó ngồi im như tượng, mặt buồn như Đức Mẹ Sầu Bi ngồi dưới chân thánh giá, hỏi ăn gì thì chỉ lắc đầu. Thấy mấy ông kêu đồ nhậu rắn rùa, chim chuột ... đặc sản, nó chỉ con thạch sùng (thằn lằn) trên tường mà hỏi: "Con đó có ăn không ?"

Người lớn thích ăn tiết canh, mua con heo, con vịt về cắt tiết hay thọc huyết, nhìn thấy cảnh đó nó kinh hãi ôm nhau khóc thét lên.

Còn về thịt cầy, nó dặn là đừng bao giờ đánh lừa nó ăn một miếng, bởi vì ăn thịt chó, tim sẽ đau đớn như phạm tội vậy.

Về tới SG thả tụi nó vào khu siêu thị thì như cá gặp nước, tụi nó hoạt bát hẳn lên, nói líu lo vì trong đó có bán đồ ăn khoái khẩu của nó.

Ở quê tôi còn có một thứ mà mỗi nhà có Việt Kiều về thăm thì phải lo trước, đó là cái bàn cầu ngồi theo lối Mỹ, nhà cầu kiểu cũ trẻ con ngồi không quen cứ ngã bổ chửng ra.

Nhớ hồi cách đây hơn 10 năm, cầu cá dồ chưa bị cấm, có ông Việt Kiều đang ngồi thì bị cầu sập, ông đứng giữa đìa khóc ầm lên kêu Trời kêu Phật, kêu cả thánh quan thầy.

Một cái đáng sợ nữa cho Việt Kiều là muỗi. Xưa kia muỗi chỉ có mùa, bây giờ nhờ kinh tế thị trường nên có quanh năm, nó lại theo trào lưu khủng bố của thế giới nên không kêu vo ve nữa mà chuyên âm thầm đánh du kích, cắn xong một phát là chỗ đó ngứa không chịu nổi.

Đối với người trong nước không hiểu vì đã chịu muỗi chích hoài nên cơ thể quen nọc ngứa, hay là tại vì thịt Việt Kiều thơm (tắm bằng xà bông Dove), hay tại muỗi vẫn còn thù dai đối với Đế Quốc, mà cho dù là ban ngày sáng sủa đàn muỗi không cắn ai, lại cứ xà quần bên Việt Kiều như đàn trực thăng sắp đổ quân vậy.

Đi với Việt Kiều nhí thì thật là thê thảm, cho dù bôi thuốc chống muỗi rồi đó, nhưng dính mũi nào là làm độc mũi đó, có khi mưng mủ sưng to như trái chùm ruột.

Tôi có đứa cháu kiên nhẫn ngồi đếm được 108 mụn trên một cái chân nhỏ bé !!!

Còn trục trặc ngôn ngữ Việt giữa người trong và ngoài nước nữa chứ. Có nhiều Việt Kiều nghe không hiểu được những từ ngữ "mới".

Hồi sau 75 tôi có dịp tiếp xúc với cán bộ hay người miền Bắc mới vô, nghe họ nói tôi buồn cười lắm mà không dám cười, sau đó nhái chơi, rồi dần dần nó ngấm vào giọng nói lúc nào không hay, bây giờ có những chữ mà loay hoay mãi không nhớ ra chữ cũ để thay thế.

Thí dụ: Hôm nay tôi tranh thủ đến thăm anh (cố gắng). TV hôm nay bị sự cố kỹ thuật (trục trặc). Nhưng đến câu "Họ có mặt bằng cho thuê" thì tôi đành chịu không tìm ra chữ nào để thay.

Có anh về nước cầm máy chụp hình hay quay phim thì thấy cái gì hơi lạ là bấm máy liên hồi, thấy người ta nói đi xe khách chất lượng cao (high quality); xe tham quan (tourist); cửa hàng chuyên bán ổn áp (survolter) là cười khinh khỉnh, nhưng chúng tôi thấy họ nói pha tiếng Mỹ lại càng kỳ quái hơn:

Đem cái xe tới tiệm để estimate, anh thợ sửa xe dốt nát đâu biết tiếng Tây tiếng U gì đâu, nghe vậy bèn tháo tung chiếc xe ra; bảo tun-ấp thì nghe giống như "ốc" nên lấy đồ nghề ra siết tất cả những con ốc lại.

Đàn bà con gái gì mà nói giữa chốn đông người "Tôi không có khe" (care); "Vẫn còn ở chỗ cũ đây, chứ tôi đâu có mu (move)". Cười, bởi vì khe và mu là những chữ dùng để chỉ cơ quan sinh dục của đàn bà.

Có lần được tháp tùng về thăm quê cũ của mẹ tôi ngoài Bắc, gặp đứa em họ đang phụ trách một đoàn thể trong xứ đạo, nó hỏi xin cái máy kích.

Tôi hỏi cần đẩy hay kéo cái gì, nó giải thích thì ối giời ơi! đó là cái am-pli và cặp loa để phát thanh, ở ngoài Bắc gọi là cái máy kích âm !!!. Bây giờ họ còn hay nói tắt.

Hỏi gia đình thế nào? Trả lời dạo này gia đình chúng em VẤT lắm (vất vả); Món này ăn ngon CỰC (cực kỳ); Thợ xây quát phu hồ: "Lấy cho tao bao Xi (xi măng) !!!

Chữ "bị" ở thế thụ động (passive voice) lại được nói: "Ông ta hơi bị giỏi đấy" ; Món này ăn hơi bị ngon v.v... Ban đầu tôi tưởng chỉ là cách dùng chữ cho khôi hài, không ngờ có những nhà văn lớn dùng trong văn chương nghiêm túc nữa đấy. Thật quái đản !!!

Hôm xem lậu cuốn băng Thuý Nga, thấy ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói xỏ người ở nước ngoài hay nói chữ là, thay vì nói "Rất đẹp" thì lại nói "Rất là đẹp". Tôi thì tiếng Anh dốt nát, đành dịch ra là "Very is beautiful"!.

Ngày xưa còn đi học mà làm luận văn xài chữ: thì, là, mà, bị v.v... lung tung như kiểu này chắc thầy vã cho rách mép.

Ở VN bây giờ từ quan cho tới anh cùng đinh khố rách đều nghiện chữ "Nói chung" cũng như mấy anh Việt Kiều hay dùng chữ "You know" vậy.

Hỏi thăm gia đình khoẻ không thì được trả lời: "Nói chung cũng tốt.

Mẹ tôi còn đang nằm bệnh viện còn vợ tôi thì mới chết tuần rồi". Hãy nghe đài BBC phỏng vấn mấy quan chức, hay đọc trong bản báo cáo của mỗi cơ quan, đoàn thể, mỗi ngành không bao giờ thiếu chữ "Nói chung":

- Tình hình chỗ nào cũng vậy, nói chung là tốt, nhưng trong đó còn có một vài bộ phận yếu kém tồn tại ...

Tôi tới thăm gia đình người bạn mới từ nước ngoài về, bố bảo con gọi mẹ ra đây. Thằng con chạy vào trong hét toáng lên: "Momy, dady muốn momy bây giờ". Hồi lâu sau nó lại chạy ra bảo: "Momy đang rửa he". Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi mới hiểu là má nó đang gội đầu (hair).

Tháng rồi có mấy đứa cháu từ Úc về chơi, tôi dẫn đi ăn nghêu ở Ngã Sáu, trong đĩa nghêu luộc chín há vỏ ra, có con thịt rớt ra ngoài chỉ còn cái vỏ không, đứa bé cầm cái vỏ ngắm nghía một hồi rồi tặc lưỡi: "Không có ai". Ôi ngôn ngữ Việt của Việt Ta và Việt Tây sao mà rắc rối, biến hoá làm vậy!

Ngày vui qua mau rồi cũng đến ngày tiễn đưa người nhà ra phi trường. Người còn ở VN khoái tiễn đưa lắm, lý do là lúc đó người đi rất ngậm ngùi, còn bao nhiêu tiền trong túi cũng móc ra cho hết, thương lắm cơ.

Việt Kiều con ra tới phi trường thì mừng lắm, chúng nhảy cỡn lên múa máy tay chân rồi la to:

- Thoát khỏi Việt Nam rồi! Thoát Việt Nam rồi!

Vậy thì tôi còn mong gì khi chúng to lên, học hành thành tài rồi về giúp đỡ quê hương?

 

 

Giáo hội Công giáo lên tiếng về tình hình Việt Nam hiện nay

Giáo hội Công giáo lên tiếng về tình hình Việt Nam hiện nay

Theo Ủy ban Công lý và Hoà bình, các vụ Tiên Lãng, Hải Phòng và Văn Giang buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề (DR)

Theo Ủy ban Công lý và Hoà bình, các vụ Tiên Lãng, Hải Phòng và Văn Giang buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề (DR)

Thanh Phương

Ngày 15/05/2012 vừa qua, Ủy ban Công lý và Hoà bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố một văn kiện tựa đề « Nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay ». Nhận định chung của Ủy ban là nền kinh tế Việt Nam đang « mất định hướng, thiếu tính bền vững và nhân bản » bởi vì « đổi mới kinh tế không song hành với đổi mới chính trị ».

Vào năm 2008, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã từng công bố «Quan điểm về một số vấn đề trong hoàn cảnh Việt Nam », chủ yếu nêu lên tình trạng khiếu kiện đất đai kéo dài và xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp đất đai giữa Nhà nước với Giáo hội. Lúc đó, Hội động Giám mục chỉ đề nghị sửa đổi Luật đất đai theo hướng công nhận quyền tư hữu của người dân, cũng như yêu cầu báo chí tôn trọng sự thật, không bóp méo hoặc cắt xén thông tin như trường hợp tranh chấp đất đai tại Tòa Khâm sứ cũ.

Lần này, trong bản « Nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay », Ủy ban Công lý và Hoà bình đưa ra một cái nhìn toàn hiện hơn về đất nước, từ kinh tế, xã hội, pháp luật, cho đến chủ quyền quốc gia, môi trường, giáo dục y tế, tôn giáo và vai trò của trí thức.

Về kinh tế, Ủy ban nhận định là « định hướng kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo đã tạo ra độc quyền và lạm quyền, làm méo mó sự vận hành cần có của nền kinh tế thị trường. ». Trong khi đó, Luật đất đai hiện hành, « vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền » và là nguyên nhân của khoảng 80% các khiếu kiện trong nước. Cho nên, Ủy ban Công lý và Hòa bình đề nghị cấp tốc sửa đổi Luật đất đai để người dân được quyền sở hữu đất và hạn chế tối đa quyền thu hồi đất của các cấp chính quyền.

Về xã hội, Ủy ban nhắc lại hai « tật xấu » đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam cảnh báo từ năm 2008, đó là gian dối và bạo lực. Theo Ủy ban, dư luận đang bức xúc vì hiện tượng « lạ lùng » là tại một số nơi, cơ quan công quyền lại sử dụng bạo lực phi pháp để giải quyết các khiếu kiện dân sự. Uỷ ban cho rằng : « Vụ việc ở Tiên Lãng, Hải Phòng, và Văn Giang, Hưng Yên, gây xúc động mạnh mẽ trên tất cả những người Việt Nam có tâm huyết, buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề, mà cốt yếu là sửa đổi Luật đất đai về mặt hạn điền, thời hạn sử dụng đất và giá đền bù…, nếu chưa đi đến chỗ nhìn nhận quyền tư hữu chính đáng của công dân. »

Trong lĩnh vực pháp luật, Uỷ ban đặc biệt đề cập đến việc giam giữ người không qua xét xử được che đậy dưới từ ngữ “đưa vào cơ sở giáo dục” có thời hạn và áp dụng cho những người bày tỏ sự bất đồng chính kiến ( như trường hợp của Bùi Thị Minh Hằng ). Đối với Uỷ ban, đây là một hình thức « vi phạm quyền cơ bản của con người », một biện pháp vốn đã được thực dân Pháp sử dụng ở nước ta.

Bên cạnh đó, Ủy ban chỉ trích việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc. Theo nhận định của Ủy ban, thái độ « lập lờ, thiếu nhất quán » của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông đang gây bất bình trong dư luận.

Cũng theo Uỷ ban Công lý và Hòa bình, vai trò của những trí thức có tài và có tâm huyết chưa được coi trọng. Vai trò của xã hội dân sự cũng chưa được nhìn nhận. Trong lúc Nhà nước kêu gọi « xã hội hóa » giáo dục và y tế , Uỷ ban kêu gọi tạo điều kiện để các tôn giáo trong nước được tham gia trực tiếp vào hai lĩnh vực này.

Vấn đề là theo Ủy ban, quy định pháp luật liên quan đến các tôn giáo « vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nguyện vọng của các tín đồ, cụ thể nhất là về tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo ». Cho nên, câu hỏi mà Uỷ ban đặt ra là « bao giờ các công dân có tôn giáo được đối xử bình đẳng với các công dân khác, theo Hiến pháp và Dân luật, mà không cần đến một Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo nữa? »

Dầu sao, Ủy ban Công lý và Hòa bình nhắc lại rằng Giáo Hội không hề muốn thay thế chính quyền, mà chỉ mong là « trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau, Giáo Hội có thể góp phần mình vào đời sống của đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân ».

Mài Dao Mài Kéo

Mài Dao Mài Kéo
Tiểu Tử

 

Nói đến “mài dao mài kéo”, ở Việt Nam hồi xưa, hồi thời Pháp thuộc, người ta nghĩ ngay đến giới “anh chị”- hạng xâm mình… trên rồng dưới rùa – sửa soạn khí giới để làm “một trận thư hùng” thanh toán nhau hay trả thù nhau. Hồi thời đó, khi đã “nộ khí xung thiên” thì họ đòi “để thẹo” đối thủ hay ít lắm cũng “xin tí huyết”. Cho nên dao/kéo – ngoài lãnh vực bếp núc vá may – còn được sử dụng một cách rất… linh động phiêu hốt trong giới giang hồ. Thời bây giờ, văn minh rồi, dao/kéo đã được trả về vị trí nội trợ. Cho nên, khi muốn “xin tí huyết” của kẻ thù, các băng đảng ngày nay chỉ dùng khí giới “hiện đại” để mà… bùm! Có nhanh, có gọn, nhưng thiếu nét “anh hùng mã thượng”. “Mài dao mài kéo” mà tôi nói ở đây là cái nghề của một ông bạn tôi mới quen, trong thời gian tôi bị kẹt lại ở Việt Nam sau 1975.

Tôi để ý tới anh ta trong lúc tôi đang nhâm nhi ly cà phê ngon của cái quán cóc nằm dưới mái hiên một căn phố nhỏ. Quán này chỉ có hai cái bàn thấp và bảy tám cái ghế thấp, thấp thấp nhỏ nhỏ giống như đồ chơi trẻ con. Cho tới cái ly cà phê cũng nhỏ xíu, hớp chừng hai hớp là cạn! Có lẽ vì vậy mà thấy ai tới đây cũng để thì giờ ngồi nhăm nhi từng ngụm nhỏ cà phê chớ không thấy… uống!
Tôi thường xách cái ghế nhỏ ra ngồi cạnh công-tơ nước cách quán chừng hơn bốn thước. Ởđó có cái thùng xi-măng che công-tơ, thùng vuông vức nắp bằng, chỉ cao hơn cái ghế chừng hai tấc và nằm cạnh một bức tường dài. Tôi thích ngồi ởđó vì được cách biệt với cái xô bồ trong quán và nhứt là có bức tường sau lưng để dựa! Mấy đứa nhỏ trong quán viết nguệch ngoạc bằng than trên tường “Chỗ này của ông Hai nón nỉ” và vẽ một đầu người đội nón, râu lún phún, nét vẽ ngây ngô buồn cười kèm theo một mũi tên chỉ về chữ “ông Hai”!
Tôi rất thích thú với trò trẻ con ngộ nghĩnh đó và nhứt là sự được người trong quán dành riêng cho một chỗ ngồi – một chỗ ngồi không nằm trong phạm vi của quán!
Hôm đó, tôi nghe tiếng rao “mài dao mài kéo” từ đằng xa. Một lúc, thấy anh thợ mài dao ngừng xe đạp trước quán. Anh đem xe lên dựng trên vỉa hè, treo cái nón rơm lên ghi-đong rồi bước vào trong. Xe đạp của anh rất đặc biệt. Đầu tiên là hai cái chống gắn ở đùm bánh sau: khi đạp xuống hai bên, nó giữ xe đạp đứng thẳng một cách vững chắc. Kế đó là thùng đồ nghề phía sau có hai hàng hộc tủ và một ngăn để can nhựa đựng nước.
Gắn trên mặt thùng là hai bàn đá mài tròn một lớn một nhỏ có ma-ni-ven, một viên đá bùn và một cái ê-tô.
Trên vè bánh xe trước có gắn đứng theo chiều dọc một tấm bảng cỡ ba trang giấy học trò, nền vàng với ba hàng chữ đỏ trên mỗi mặt.
Lúc đó, quán đã đông người. Chắc không còn bàn trống nên thấy anh ta một tay cầm ly cà phê một tay xách  cái ghế nhỏ, bước ra khỏi quán ngó quanh tìm chỗ. Tôi vẫy tay gọi:
- Ngồi đây nè.
Hắn mỉm cười gật gật đầu rồi bước lại đặt ly cà phê lên thùng công-tơ:
- Cám ơn! Cám ơn!
Trước khi ngồi xuống, anh ta liếc nhanh hàng chữ trên tường rồi nhìn cái nón nỉ tôi đang đội, cười tủm tỉm.
Sau khi làm một ngụm cà phê, anh ta rút bao thuốc hướng về phía tôi tỏ ý mời. Tôi lắc đầu. Hắn đốt thuốc hút.
Xong để bao thuốc và cái hộp quẹt lên thùng công-tơ, ngã người dựa vào tường, dũi thẳng hai chân, thở khói một cách sảng khoái. Và như vậy, trong im lặng, hắn và tôi nhăm nhi cà phê…
Một lúc sau, thằng nhỏ trong quán mang ra một bình trà:
- Nãy giờ con quên đem trà ra. Đừng phiền nghe ông Hai!
Tôi khoát tay lắc đầu trả lời. Bấy giờ, anh ta mới mở miệng hỏi:
- Chắc anh đến đây thường?
- Ngày nào cỡ giờ này là có tôi ngồi đây. Mặt trời nằm phía sau lưng, nên
chỗ này còn mát. Chừng đứng bóng trở đi là không ngồi được.
- Nhà anh gần đây không?
- Cũng gần. Đi bộ chừng năm phút.
- Hổm rày trời không mưa, cũng không nóng lắm. Thấy dễ chịu há?
- Ờ… Mùa này như vậy cũng hiếm.
Ngừng một chút rồi tôi lại hỏi… đẩy đưa:
- Mài dao mài kéo… Anh kiếm ăn được không?
- Tàm tạm. Nhờ bây giờ ai cũng xài đồ cũ hết nên có đồ mài hoài.
- Thấy anh có nhiều đồ nghề quá há!
- Phải như vậy chớ! Thời bây giờ, cái gì cũng đòi… cao cấp hết. Mình cũng phải phô trương cho thiên hạ tin.
Mà đồ của tôi thì bảo đảm là… cao cấp thứ thiệt!
- Ờ… Mà sao chi nhiều dữ vậy?
Anh ta vừa nói, hai tay vừa ra dấu:
- Nè nghen. Bàn mài lớn để “tề” mấy con dao quá sét. Bàn mài nhỏ, mịn hơn để “đi” hai mép của lưỡi dao.
Mình quây ma-ni-ven, bàn mài chạy o o, tốc độ gấp năm gấp sáu lần hơn. Dao để tới đâu là nó “ăn” tới đó, lẹ lắm! Còn viên đá bùn là để làm láng và để chỉnh lại mấy chỗ chưa đều. Còn cái ê-tô là để kẹp mấy con dao mà mình muốn sửa lại cho nó ngay, nó thẳng. Như vậy mới là… cao cấp, anh thấy không?
Tôi gật đầu thán phục. Rót trà vào ly, tôi mời:
- Uống miếng trà đi, anh.
Hắn cầm ly ực một cái rồi lấy mu bàn tay quẹt miệng. Xong, hắn đứng lên cất gói thuốc và hộp quẹt vào túi:
- Thôi. Chào nghen…
Anh ta đội nón, dẫn xe xuống đường, vừa đạp chậm chậm vừa rao kéo dài: “Mài dao mài kéo…”.
Hôm sau, anh ta lại ghé quán, cũng vào giờ như hôm qua. Tôi đã ngồi ở công-tơ nước với ly cà phê, và thật ra cũng có ý đợi. Lần này anh ta dựng xe cạnh đó, vừa dựng vừa nói:
- Anh cho phép tôi ngồi ởđây, mình nói chuyện chơi.
Rồi không đợi tôi trả lời, anh đi thẳng vào quán. Một lúc trở ra với ly cà phê, cái ghế và điếu thuốc trên môi phì phà… Anh ngồi xuống, giống tư thế hôm qua. Sau ngụm cà phê, anh hỏi:
- Anh không hút thuốc à?
- Tôi bỏ hút lâu rồi.
- Vậy là anh số một! Tôi bỏ hoài không được. Hồi xưa tôi còn hút bạo hơn nữa chớ không phải như bây giờ
đâu!
Tôi đưa mắt đọc thầm ba hàng chữ đỏ trên bảng nền vàng gắn trên bánh trước của xe đạp:
“Mài kéo mài dao – Mài sao cho bén – Đừng kén tay mài”.
Thấy hay hay, tôi rung đùi đọc lại, đọc thành tiếng. Rồi vỗ tay lên mặt thùng công-tơ, khen:
- Hay! Hay quá! Sâu sắc quá! Anh viết đó hả?
- Dạ. Thì… viết bậy vậy mà.
- Đâu bậy? Bộ anh tưởng ai cũng viết bậy nổi như vậy sao? Phải có trình độ chớ…
Anh ta làm thinh, nhấp cà phê, hút thuốc một lúc mới nói:
- Thời buổi này, “có trình độ” không để làm… khỉ gì hết. Bọn “không trình độ” nó ngồi đầy trên đầu trên cổ thiên hạ, thì người “có trình độ” chỉ còn có… “đi chỗ khác chơi” thôi!
Bây giờ thì tôi đã đoán ra anh ta thuộc về “phe” nào rồi. Tôi hạ giọng:
- Nè! Sao tôi thấy tấm bảng của anh giống lá cờ của mình quá. Phải không?
Anh ta nhìn tôi, mắt sáng rực. Anh đưa tay bắt tay tôi, giọng sung sướng:
- Anh tinh ý lắm. Bao nhiêu năm nay chưa ai thấy được điều đó hết!
Vậy rồi giữa anh ta và tôi bỗng thấy như thật gần. Anh hỏi tôi:
- Hồi đó anh làm gì?
- Làm “Chef de réseau” của một hãng ngoại quốc (tôi nói chen tiếng Pháp).
- Còn bây giờ?
- Ở không, vợ con ở ngoại quốc gởi tiền về nuôi.
- Ủa? Sao vậy?
- Hồi di tản, tôi bị rớt lại. Còn anh? Hồi trước làm gì?
- Làm báo. Làm hai ba tờ. Chuyên về phiếm, xã luận, truyện ngắn.
- Sao bây giờ đi… mài dao vậy?
- Chớ anh biểu bây giờ tôi viết cái gì? Suốt đời sống trong nghề viết, tự do vung vít quen rồi, đã thành một
lập trường, một đường lối. Biểu tôi bẻ cong ngòi bút để… “bợ” chế độ, tôi làm không được! Vả lại, làm báo theo kiểu “phô-tô-cọp-pi” như họ, thiệt tình, không phải là nghề của tôi. Cho nên tôi đã “rửa tay gác bút”.
Nói xong câu đó anh ta cười khà khà có vẻ thích thú với hình ảnh ‘’ rửa tay gác kiếm ‘’ của mấy võ lâm cao thủ trong truyện chưởng Hồng kông! Ngừng một chút, hít vài hơi thuốc, uống ngụm cà phê cuối cùng rồi tiếp:
- Bây giờ đi mài dao… cũng thú! Mình cứ tưởng tượng là mình mài “gươm thiêng” để đợi thời cơ phục hận!
Lần này, anh ta cười lên ha hả, sảng khoái. Rồi lại tiếp:
- Coi vậy chớ lâu lâu tôi thèm viết vô cùng. Nhứt là bây giờ, nó lố lăng bỉ ổi, nó chụp giựt bao che gấp mấy chục lần hồi trước… làm mình “ngứa nghề” muốn chết! Cách đây mấy năm, vào dịp Tết, tôi nhận được thơ của một thằng bạn đã đi chui kể lại cuộc hành trình và đời sống trên đảo tỵ nạn Pulau Bidong ở Mã Lai… làm tôi nổi hứng. Tôi lén viết một “lá sớ Táo Quân” cho mùa xuân năm đó, để nhớ hồi xưa mỗi Tết tôi đều có viết sớ để “móc lò móc chảo” chuyện Nhà Nước chuyện thiên hạ. Sáng mai tôi sao cho anh một bản, đọc cười chơi. Thôi! Bây giờ đi “kiếm cơm” cái đã!
Anh ta đứng lên bắt tay tôi rồi dẫn xe xuống đường đạp đi. Hôm sau, anh ta đến. Vừa ngồi xuống, anh trao ngay cho tôi “lá sớ”. Tôi định mở ra xem thì anh đưa tay ngăn. Vừa đảo mắt nhìn quanh, anh vừa thấp giọng:
- Đừng! Đừng coi ở đây! Cất đi. Về nhà hãy đọc. Đọc rồi nhớ đốt nó đi, kẻo mang họa rồi nói tại tôi.
Uống hớp lớn cà phê, đốt điếu thuốc, xong anh cười cười:
- Đốt cho lá sớ… lên trời, cho Ngọc Hoàng đọc với chớ!
Tôi phì cười:
- Anh tiếu thật! Không chừa ai hết!
- Đó là… nghề của tôi hồi xưa mà. Thấy trái tai gay mắt, thấy “đi trật đường rầy” là tôi múa bút đâm ngay. Tự do ngôn luận là như vậy đó. Chớ không phải như bây giờ. Nhìn một lũ hề độc quyền sân khấu, giễu dở lại giễu dai, giễu rồi tự vỗ tay khen lấy, còn bắt… nhân dân khán giả vỗ tay theo… v.v… mà chẳng thấy một “nhân dân” nào dám… thò tay viết trên báo một lời phê bình chỉ trích! Cho nên tôi thấy “ngứa mắt ngứa tay” lắm.
Uống hết ly cà phê, anh ta đứng lên gật đầu chào:
- Bữa nay tôi phải mài lố dao của nhà hàng T.T., không cò cưa ở đây lâu với anh được. Tôi đi nghen!
Bước được mấy bước, anh dừng chân một chút, đầu hơi cúi xuống dường như để suy nghĩ rồi mới quay lại nhìn tôi, nét mặt thật nghiêm trang, đưa ngón tay trỏ lên gõ gõ vào đầu :
- Mỗi ngày tôi mài dao là mỗi ngày tôi mài cái chí khí cho nó luôn luôn sắc bén, khỏi bị cùn lụt. Anh biết
không?
Nói xong, anh để bàn tay mặt xéo xéo một bên trán gặc nhẹ một cái trông giống như chào theo kiểu nhà binh, rồi phóng lên đạp xe đi, giọng rao kéo dài: “Mài dao mài kéo”…
Hôm sau, tôi đến quán hơi sớm, định vừa gặp anh là nói ngay rằng tôi khoái lá sớ của ảnh lắm, móc họng chế độ rất đau mà vẫn giữ được nét trào phúng nhẹ nhàng.Và cũng để nói cho ảnh yên tâm rằng tôi đã đốt lá sớ như ảnh đã dặn. Nhưng rồi, anh ta không đến, mặc dù tôi đã cố tình ngồi đợi tới trưa….
Những ngày sau, rồi những ngày sau nữa, tôi không gặp lại anh ta. Tôi vẫn đều đặn ngồi uống cà phê chỗ công-tơ, ngồi một mình. Cà phê quán này làm như không còn ngon như trước…

Lịch sử Không thể ngụy tạo bằng sự dối trá

Lịch sử  Không thể ngụy tạo bằng sự dối trá

 

Trần Việt

 

“Lịch sử bị bóp méo cũng nguy hiểm chẳng khác chi tội giết người bởi nó    giết chết sự thật, giết chết cả niềm tin của cả một thế hệ.” (GS Hà văn Thịnh Tản Mạn Mùa Hè Tuesday, 15 May 2012 14:17  Calitoday.com)

 

                                                        ***

                                 

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường nghe nói:”Để lịch sử phán xét”. Nhưng lịch sử có thật thường là sự thật không?

Câu trả lời, giá trị sự thật của lịch sử phải dựa vào sự can trường của những chứng nhân. Lịch sử thường được thuật lại bằng chữ viết, bằng lời kể, đôi khi cũng có sự góp mặt của âm nhạc (hò, vè...) và hội họa (tranh v ẽ), và luôn cả loại ngôn ngữ bình dân như cao dao, tực ngữ…. Tùy vào hoàn cảnh xã hội  do những nhà ái quốc lãnh đạo hay kẻ gian ác cầm quyền thao túng mà lịch sử có khi bị sửa đổi, hay đàng hoàng, hiên ngang trên từng trang giấy, hoặc phải truyền khẩu đợi khi có điều kiện thì những sự kiện ngay thẳng lại được trở về trên những trang giấy.

            Thí dụ như khi Gia Long lên ngôi vua thì những lần thất trận, vua tôi Nguyễn Ánh thua liển xiển, chạy trối chết, lưu lạc tha phương phải quỵ lụy cầu cạnh ngoại nhân. Nhưng đến khi vua Quang Trung băng hà, người kế vị còn  non kém thì đại đế Quang Trung liền bị triều đình nhà Nguyễn miệt thị, bị xem là “giặc”. Nhà Nguyễn cố tìm cách phủ nhận những giá trị thật của vua Quang Trung. Nếu họa hoằn phải ghi, thì sử gia triều Nguyễn cũng thiếu trung thực, không đầy đủ và dùng những từ ngữ biếm nhẻ, miệt thị. Hay thời thực dân Pháp, những nhà cách mạng Việt Nam như lãnh tụ Nguyễn Thái Học đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, cùng 12 đồng chí liệt sĩ hiên ngang đền nợ nước tại pháp trường Yên bái, thì bọn xâm lược Pháp ghi là thuộc thành phần bất hảo. Hoặc như dưới triều đại Ngô đình Diệm, những nhà ái quốc chống Pháp, chống cộng sản nhưng bị nghi ngờ hoặc tài giỏi hơn, hoặc không biểu lộ sự thuần hóa đều đã bị gia đình ông Ngô đình Diệm hoặc dùng tòa án với bản án định sẳn để giết chết, hay thủ tiêu, hoặc giam cầm tù tội.

Nhưng cuối cùng, dù dưới những bàn tay sắt vấy máu của thời phong kiến triều Nguyễn, thời xâm lăng của thực dân Pháp, thời giáo dân Thiên Chúa vì quyền lợi mà phản quốc đồng lõa với thực dân Pháp cướp nước, thời mà sử gia linh mục Thiên Chúa giáo La mã Trần Tam Tỉnh gọi là thời “ Thập Giá Và Lưỡi Gươm”, hay khi người dân thoát khỏi bàn tay đẫm máu của mật vụ Ngô triều thì sự thật phải được trả lại cho lịch sử,

Cũng như thế, trong tương lai gần, khi chề độ tàn bạo được tạo dựng bằng lưu manh dã  man, trang sử Việt nam phải ghi rõ ràng và rành mạch tội ác của cộng sản.

Theo tôi, lịch sử là những sự kiện được ghi lại đầy đủ và trung thực không phải vì mục đích duy nhất là đòi hỏi một sự trả thù theo kiểu “răng đền răng, mắt đền mắt”, mà để những thế hệ về sau lấy đó làm kinh nghiệm, làm bài học, tránh gây khổ nạn cho dân tộc, làm mất đi đạo lý và tiềm năng giữ nước, đó là tình nghĩa đồng bào, là hồn  thiêng sông núi.

            Thế nhưng, hiện nay có nhóm người, muốn ngụy tạo lịch sử để thỏa mãn nhu cầu tâm lý tội lỗi. Họ sợ bị lịch sử đưa ra đứng trước vành móng ngựa về tội đã vì quyền lợi của gia đình, của tổ chức, của tôn giáo mà họ hoặc lớp tiền bối họ từng là thủ hạ nhúng tay vào tội ác ủng hộ cho một triều đại tham tàn. Muốn tẩy đi vết nhơ mà phe đảng của họ hay của lớp cha anh họ đã di hằn máu lệ oan nghiệt trên dòng sống lịch sử, họ phải ngụy tạo, đánh tráo lịch sử hầu đổi thay diện mạo. Họ không ngần ngại nhẫn tâm phao vu, biến nạn nhân thành tội nhân, cũng  không ngần ngại tô son trát phấn, ngụy tạo để tôn vinh tên bạo chúa, kẻ tội đồ vốn từng là thủ lãnh, là ân nhân của họ thành bậc anh hùng. Bất cứ ai không cùng đường đi với họ, muốn nói lên sự thật thì sớm muộn kẻ đó cũng sẽ trở thành nạn nhân của họ, và họ sẽ dùng loại ngôn ngữ dơ dáy nhất, hạ tiện nhất, kể luôn cả văng thề chưởi tục để triệt hạ. Hành động vu khống mạ lị tục tằn đã nói lên nhân thân của họ cũng như kẻ mà họ tôn sùng.

            Thoạt đầu, chúng tôi nghĩ nhóm người nầy cũng chỉ là những tên vô lại, tập họp  dưới gậy chỉ huy của dư đảng Cần lao hồi sinh qua các diễn đàn: Ba cây trúc, Nói thật, nói thẳng; hay “trùng hợp” kế sách của cộng sản như các nhóm: Giao điểm,  Hồn Nước (của Việt Thường), hay từ cá nhân của những kẻ ưa sử dụng loại ngôn ngữ của phường “đá cá lăn dưa” như Phạm trọng Luật tức Joseph Phạm tức chính khí Việt, TS Hồng Lĩnh, csqg<phudacuy, Tuấn Phan, tieudietcs, Kim âu Hà văn Sơn, Tôn thất Sơn, Mathew Trần, Hàn gian Trần lệ Tuyên, Đặng Phúc, Trần tâm Trực, Bửu Nguyễn, Tâm Cao Nguyễn đăng Trình, mới  tăng viện thêm Trần trung Chính, Trần văn Ngà và dĩ nhiên không thể thiếu Đặng văn Nhâm, Nguyễn Cần tức Lữ Giang tức Tú Gàn kẻ vinh dự được ông Đỗ Thái Nhiên đặt cho mạo hiệu tuy dài nhưng đầy đủ bản sắc:”Đặc Công Truyền Thông” . Đứng mũi chịu sào cho nhóm nầy là Liên Thành, tên được thuê chưởi mướn. Hai con bài úp là cựu tướng Nguyễn Khắc Bình và cựu Đại tá CSQG Trần Minh Công vì lượng giá sai, cùng với Liên Thành xông ra và bị cháy tên ngay trong đợt pháo tấn công Phật giáo đầu tiên.

            Cương lĩnh của nhóm nầy là phải hóa thân cho  ông Ngô đình Diệm thành vị thánh, hóa phép thay đổi Ngô triều từ chế độ khủng bố, độc tài tàn ác, kỳ thị thành chế độ thuộc loại “Nghiêu Thuấn” bên Tàu . Muốn thay đổi diện mạo như thế, tất nhiên họ phải kết án nạn nhân! Nạn nhân không những “đáng tội chết” mà còn phải chịu trách nhiệm về tội về một tội lớn hơn là đã dám tìm cách… thoát chết! khôi hài hơn, họ kê thêm  tội vì nạn nhân thoát chết mà Miền Nam phải mất vào tay cộng sản.

            Vậy nạn nhân của họ là ai ?,Họ là ai?

            Xin thưa, Phật giáo Việt Nam là nạn nhân!  Và” Họ” là những kẻ hoặc hậu duệ những kẻ đã từng đầy quyền lực trong chế độ Ngô triều, những kẻ dã tâm đồng hóa Tổ Quốc với Ngô Triều theo kiểu “Yêu Nước là Yêu Ngô Tổng Thống.!” Họ là những kẻ thọ hưởng ơn phước của Ngô triều. Họ là những kẻ mang tham vọng xóa sổ Phật giáo để tôn giáo họ trở thành tôn giáo duy nhất, bằng bạo lực với phương kế hung hãn và lưu manh nhất cố gắng kết thúc chương trình “Thập giá và lưỡi gươm” đã có từ tổ phụ của họ.

           Như đã kính thưa, thoạt đầu  chúng tôi nghĩ đó chỉ là bọn người bất lương. Dĩ nhiên, sự bất lương đó cũng có lúc làm dơ bánh xe lịch sử. Nhưng bất ngờ hơn, khi tôi được một người bạn tặng tập: “Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân” số 125 tháng 4/2012. Tôi là loại độc giả “đụng”, nghĩa là thấy thì đọc, chứ không thường xuyên. Không phải riêng Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân mà hầu như các loại báo magazine. Trước đây, tôi có lần tôi ghé tòa soạn để mua mấy quyển sách, được hầu chuyện với ông Trần phong Vũ chủ bút của tập san nầy, ông ngỏ ý muốn tặng tôi quyển sách mà ông là tác giả, dường như là quyển ”Vị Giáo Hoàng Của Tôi”. Tôi không dám có ý kiến về vị Giáo Hoàng nỗi tiếng nầy, Bởi tác phẩm lấy tên “VỊ GIÁO HOANG CỦA TÔI”, nhưng tôi  thấy niềm tôn kính về ngài chưa tròn đầy, nên tôi không nhận Ngài là “Giáo Hoàng của Tôi” nên tôi không  nhận. Qua buổi hội ngộ đó và về sau, tôi nghe ông nói chuyện  trong các diễn đàn hội luận, tôi có đọc vài bài viết của ông, ông có mặt trong diễn đàn “Nữ Vương và Công Lý”. Tôi thấy vui vì tôi nghĩ ông Trần phong Vũ thuộc vào loại “Trí Thức Thiên Chúa Giáo” với ý nghĩa tốt đẹp. Tôi hy vọng ông sẽ nhận định được trách nhiệm trí thức Thiên Chúa Giáo chọn con đường phục vụ Dân Tộc, để từ đó xóa đi những vấn đề mà “Thập Giá và Lưỡi Gươm” đã để lại những sự kiện lịch sử chưa được hài hòa giữa những giáo dân Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Nếu biết sử dụng cơ hội lịch sử hôm nay, thì những tín đồ Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo đều là  nạn nhân cộng sản đang có nhiều cơ hội bỏ những “bất hòa” vào bóng đen dĩ vãng. Nhưng sự kỳ vọng ấy vut tắt sau khi tôi đọc bài viết “Xuất Hiện Bất Ngờ Cuốn DVD Đầu Tiên Về TT Ngô Đình Diệm của ông Minh Võ tại các trang 61 và 89. Riêng tập Nguyệt san nầy bằng hình thức rất trang trọng, dành nguyên trang 60 để giới thiệu . Toàn trang nầy ghi: Phim Tài Liệu Lịch Sử - (chú  thích : dấu – có nghĩa là xuống hàng) 3000 DVD về cố TT Ngô Đình Diệm – Của tác giả Trần Quang và nhà sản xuất LIVIDO - Ấn Bản Đặc Biệt Toàn Bộ (Tập 1&2) – Nhân dịp Quốc Hận 30 tháng 4 (phần nầy chiếm khoảng 1/3 trang). 1/3 trang chính giữa gồm dải màu máu đỏ bị cắt khoảng giữa bởi vòng tròn lớn có in chân dung ông Ngô đình Diệm, đối diện chân dung là bản đồ VIETNAM với ba lân quốc LAOS, THAILAND và CAMBODIA kèm tên những địa phương. Nối hai mảnh, phía bên dưới ghi TỔNG THỐNG – NGÔ ĐÌNH DIỆM. Gần sát cùng ghi: TRI ÂN LIVIDO & TÁC GIẢ - Các tài Liệu Đã Trích dẫn . dưới hành nầy có gạch ngang và ghi tiếp: Thân Tặng Độc Giả & Người Việt Quốc gia.

Phần chủ yếu quan trọng  mục đích sản xuất DVD nầy được cẩn thận ghi bằng chữ đen đậm, rất rõ như sau:

·                    “Nén Hương Lòng Kính dâng lên Cố TT Ngô Đình Diệm cùng những Anh Linh Tử Sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa dân Tộc…”

·                    “…Mong ước và hy vọng rằng sẽ có nhiều bạn trẻ, qua cuốn DVD nầy, có thể nhìn ra thực tế lịch sử để góp sức vào việc giải oan và vinh danh một vị Tổng Thống…”

·                    “Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày TT Diệm bị thảm sát, nước ta vẫn chưa có một nhà lãnh đạo nào xứng đáng hơn ông>”

                        Tác giả Trần Quang

·        “Thật là quá sức tưởng tượng của tôi..”

                     Nhà biên khảo Minh Võ

·        Phim nầy được hoàn thành bởi một Phật Tử, một người tàn tật

                    Livido

 

            

 

                   (Xin xem chi tiết nơi trang 61) – hết trang

 

         Trang 61 ông Minh Võ tường thuật những giai đoạn từ lúc có người lạ, chưa hề biết gọi điện thoại kính cẩn xin làm đàn em vì phục lăn tài thổi đu đủ, đánh tráo kiểu bài ba lá của đàn anh Minh Võ.

        Căn cứ vào trang viết tường thuật  của Minh Võ về DVD nầy, chúng tôi có chút ý kiến thô thiển:

         1/ Minh Võ ghi:“Tấm hình gia đình cựu đại thần Ngô đình Khả chụp sau khi cụ bị cách chức về quê làm ruộng,. Trong hình có ba người con dưới 10 tuổi  đi chân đất, ăn mặc như con nhà nông nghèo”. Minh Võ “hờn dỗi” viết – “chắc chắn những người nào nghĩ gia đình vị đại thần nầy là tay sai của thực dân đàn áp bóc lột dân lành không thích nhìn thấy tấm hình nầy”.

            */ Ý kiến riêng:

           a/ Giả thử ông Ngô đình Khả thanh liêm, khi bị biếm chức thì người con cả là Ngô đình Khôi nhờ hưởng tập ấm nên đã làm quan chức lớn và cũng là nghĩa tế của Thượng thư Nguyễn hữu Bài, một nhân vật Thiên Chúa giáo quyền nghiêng một cõi, không lẻ quyền uy và giàu sang như thế mà để cha me, em út nghèo khổ. Vả lại khoảng thời gian nầy thì ông Thục đang học tại chủng viện , nếu nghèo e khó lòng vào học chủng viện,

            c/ Ngược thời gian, việc chụp hình thời ấy không dành cho dân dã. Ngay cả những  hào phú, vương quyền cũng cần lắm mới đụng tới “phó nhòm”, vậy ông Ngô đình Khả chụp để làm gì mà cho vợ con ăn mặc như thế, nếu không dùng để thay lời nói hầu bọn thực dân Pháp mủi lòng cảm động mà hạ cố với kẻ nô bộc được nhờ!

            d/ Ông Minh Võ nói trong thời gian ông Ngô đình Khả bị biếm mất quyền lực thì gia đình ông nầy sống bằng nghề nông, nhưng ở đâu, diện tích canh tác bao nhiêu ?

2/ Ông Minh Võ cho biết trong DVD có hình “người mẹ đang vạch vú cho con bú” vì tham gia bỏ phiếu (nguyên văn đoạn tả chân của ông Minh Võ chứng minh người dân tích cực theo ông Diệm). Nếu theo lập luận nầy thì Việt cộng chắc cũng được người dân ủng hộ, và chính quyền do chúng ngụy tạo qua cái gọi là bỏ phiếu đã là dân chủ rồi? Bọn thảo khấu mang mặt nạ dân chủ thường có hành tích giống nhau.

            Để tạm chấm dứt, qua phần khác, chúng tôi kính mời quý vị nhận diện ông Ngô đình Khả là cha của các ông “hét ra lửa, mữa ra khói”. Khét tiếng bạo chúa  là Thục Diệm Nhu, Cẩn:

     *- / Ngô Đình Khả từng làm võ quan từ triều Đồng Khánh, theo Nguyễn Thân một người hợp tác với chính phủ Bảo hộ (thuộc Pháp) đàn áp các phong trào chống Pháp như nhóm Văn Thân của ngự sử Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh (Ngô Đình Khả Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

     *-/ Tháng 6-1895: Ngô đình Khả theo Nguyễn Thân đi đánh dẹp tổ-chức “Văn Thân” của Phan Đình Phùng ở vùng Hà-Tĩnh/Nghệ-An. Tháng 12-1895: Ngự-sử Phan Đình Phùng từ-trần, Ngô Đình Khả cho đào mộ Phan Đình Phùng, đốt xác, trộn tro với thuốc bắn xuống sông La cho mất dấu tích (Trích từ “Huế và Ngô Gia” của Hoàng Long hải)

     *-/    “Nếu hoạt-động của hai em tôi được chứng-tỏ là có hại cho quyền-lợi của nước Pháp, thì – với tư-cách của một giám-mục, của một người An-Nam, và với tư-cách là người con của một gia-đình mà phụ-thân tôi (Ngô Đình Khả) đã nhiều lần liều mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành-quân mà cha tôi đã cầm đầu dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ-huy, tại Nghệ-An và Hà-Tịnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp-nhận (hoạt-động của các em tôi)...(thư của Ngô đình Thục Giám-Mục Vĩnh-Long, gửi cho Toàn-Quyền Jean Decoux vào mùa hè năm 1944)   

    *-/ Sau đây là nguyên nhân có câu “Đày vua, không Khả”:

“ Thành-tích đánh giết các nhà ái-quốc chống Pháp (một cách độc-địa, hèn-hạ như trên) thì bọn thực-dân cũng như dân-chúng đã thấy rõ-ràng.  Còn về thành-tích do-thám phá-hoại nội-tình triều-đình Việt-Nam thì sao?

            Ông Ngô Đình Khả được Pháp phong chức "Tổng-Quản Cấm-Thành" tức là Cảnh-Sát Công-An Đại-Nội.  Trong một cuộc họp tại Tòa Khâm-Sứ Pháp vào lúc 4:15 chiều ngày 14-8-1906, có mời các Thượng-Thư Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, và Bộ Công của triều-đình Việt Nam tham-dự, tài-liệu của Pháp có ghi:

            "Ngài Thượng-Thư Bộ Lại lưu ý là ông Ngô Đình Khả, chỉ-huy Thị-Vệ, đảm-trách tổng-cai-quản hoàng-cung, sẽ phải được mời tham-dự, để ông ấy cung-cấp tất cả các tin-tức tài-liệu liên-quan đến các nhân-vật kia, mà ông ta hiểu-biết tận-tường hơn bất-cứ người nào khác..."

            Nhất cử nhất động của Vua Thành-Thái đều bị ông Ngô Đình Khả theo-dõi, ghi-nhận, và báo-cáo lên quan thầy Pháp.

Nếu Pháp đày Vua Thành-Thái (ra khỏi hoàng-thành) thì ông Khả sẽ mất hoàn-cảnh và cơ-hội rình-rập vị vua yêu nước này, để lập-công với chủ (như Giám-Mục Ngô Đình Thục sau này đã kể công).  (lexuannhuan.tripod.com/NgoDinhDiem.html)

            Qua những phần khác trong bài viết thì cũng chỉ lập lại những gì có nơi trang giới thiệu. Vì vậy, xin gộp chung và xin có chút ý kiến như sau:

            a/ Cái gian xảo gian xảo là đồng hóa bạo chúa Ngô triều và Anh Linh Tử Sĩ đã hy sinh vì Chính Nghĩa Dân Tộc .

            Xin xác định rằng  cái chết của anh em ông Ngô đình Diệm là cái chết “gieo nhân gặt quả”. Tham vọng dựng Ngô triều, anh em ông Ngô đình  Diệm đã nhúng vào biết bao nhiêu tội ác. Nếu tính mỗi con người là là một sinh mạng, và giá trị sự sống như nhau thì tỷ lệ một cái chết cá nhân trong Ngô triều đổi lấy bao nhiêu ngàn người dân? Mật vụ, thủ tiêu, vu cáo, chín hầm…,đã từng là vũ khí xây dựng ngai vàng cho của Ngô triều! Món nợ máu nhà Ngô vay người dân chẳng đã dần dần báo ứng đó sao? Tại sao cũng anh em nhà ông Ngô Đình Diệm mà chết bất đắc kỳ tử chỉ dành cho gia đình ông Ngô đình Nhu, còn gia đình ông Ngô đình Luyện thì bình an. Lúc đương thời người dân kinh hoàng với vợ chồng ông Ngô đình Nhu, còn gia đình ông Ngô đình Luyện không vướng hận thù, nếu không muốn nói ông Ngô đình Luyện hiền lành và không gây oán hận với người dân Miền Nam. Thật là “Thiên Võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu!”.

            Những kẻ suy tôn nhà Ngô, kêu oan cho ba anh em ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn có biết chỉ riêng tại miền Trung thôi, số nạn nhân đã bị Ngô tirều giết chết hơn ba trăm ngàn người (300.000) :” Số người mà tại Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa ... đã bị cán bộ Cần Lao giết, vì vu cho là Cộng Sản, phá hoại chế độ... đã được kiểm kê vào các năm 1964 - 65 là 300.000 (ba trăm ngàn) người! Hơn ba trăm ngàn người bị chết oan, để rồi chỉ có một mình Cẩn ở miền Trung đền tội, thật là điều bất công cùng cực!.(trích từ đảng cần lao của Chu Bằng Lĩnh132. 133, 134 )

            b/ Tiếng kêu của loài cú sau khi rĩa được thịt người lại còn đòi nạn nhân hoặc con cháu nạn nhân vinh danh tên đồ tể thì thật oái ăm! Nhưng con cú là con vật, chúng rĩa xác người để sống, còn Ngô triều xây uy quyền trên xác đồng bào!

            c/ Ông Ngô Đình Diệm là nhà lãnh đạo ư? Ông Ngô Đình Diệm nhờ vào tập ấm, nên có điều kiện vào quan trường. Vì theo đuổi giấc mơ quyền lực nên ông Ngô đình Diệm đã từng phủ lạy ông Cường Để vì tin rằng ông Cường Để sẽ được phát xít Nhật đẩy lên ghế làm vua. Đến khi biết Nhật chẳng thí cho ông Cường Để chút xơ múi gì, thì ông Ngô đình Diệm quay sang bái lạy ông Bảo Đại. “Trung thần bật sự nhị quân” (Tôi trung không thờ hai chúa),  nếu ông Ngô đình Diệm là  bậc chính nhân, không lẻ ông Ngô đình Diệm không biết sự liêm sĩ của kẻ sĩ? Trên đường bôn ba mưu bá đồ vương, ông Ngô đình Diệm hết chầu hầu tòa thánh Vatican, đến chực hầu hồng y Spellmen. Khi cờ đến tay, bắt chước cộng sản, cũng nhân danh quyền lợi Quốc gia Dân tộc để quy tụ những anh tài của đất nước, khi đã vững vàng nghiệp đế thì ám sát thủ tiêu, tù đày gây biết bao máu lệ oan khốc, Song song với bàn tay máu là chiếc gậy chăn dắt. Chế độ Ngô triều một mặt sát hại, hủy diệt tinh hoa dân tộc, mặt khác đào tạo nên nhóm hèn thần để từ đó biến thành hung thần, lùa toàn dân vào con đường hèn hóa. Nhân tài bị khiếm rụng là hậu quả của chế độ Ngô triều tham tàn. Do tham vọng quyền lực ông Ngô đình Diệm phải “lê gót” thì con đường hèn mạt đóchẳng có gì để phải suy tôn.

Đất nước vẫn tiếp tục sản sinh ra những người con ưu tú. Những người con của Mẹ Việt Nam đang là những nhân vật lãnh đạo ở những quốc gia họ cư ngụ trên rất nhiều địa hạt. Trong nước, những danh nhân dũng liệt vẫn anh hùng đang mưu lược đương đầu với bạo quyền cộng sản, dành quyền sống cho dân tộc. Bậc lão niên thì có Cụ Thích Quảng Độ, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN, cụ Lê Quang Liêm lãnh đạo Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo, trẻ hơn một chút thì có BS Nguyễn Đan Quế, Linh mục Nguyễn văn Lý, Linh Mục Chơn Tín, ông Hà Sĩ Phu, trung niên thì có Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Phương Nam và mới đây có Việt Khang. Từ thử thách với gian nguy họ sẽ trở thành nhà Lãnh đạo chính danh chứ không núp vào vạt áo ngoại nhân như Ng.ô đình Diệm.

     Hãy nghe Giám mục Ngô đình Thục kể về an hem dòng họ Ngô đình với thực dân Pháp:” “Tôi nêu ra điều này khi xét thấy rằng phụ-thân tôi (Ngô Đình Khả) đã từng được vinh-dự phục-vụ nước Pháp dù sinh-mạng bị hiểm-nguy, và khi xét đến quá-trình lâu dài của các em tôi (Khôi, Nhu), một quá-trình được hình-thành bằng lòng tận-tụy vô-bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy-sinh mạng sống của mình cho nước Pháp...”

            Hãy nghe ông Cao thế Dung một tín đồ Thiến Chúa giao nhận định:” Ông Diệm dung dưỡng gián điệp Việt Cộng nhưng lại triệt hạ ba lực lượng chống Cộng (Source: Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, trang 480-497, 1991)

Đề nghị các ông Minh Võ, Trần phong Vũ hai người làm hoạt náo viên giới thiệu DVD, cùng với ông Trần Quang tác giả DVD nầy nên có  thêm tài liệu “100 kẻ Bạo ngược độc ác và Độc tài nhất trong Lịch sử nhân loại của Nigel Cawthorne” trong đó có tên lãnh tụ anh mình đầy những máu dân lành Ngô đình Diệm của các ông đấy.

            d/ Cái lưu manh nhất, là Minh Võ gân cổ ca tụng kẻ làm ra cái DVD nầy là một Phật Tử.! Tôi nhớ khi còn trong trại tù cộng sản, những tên đê hèn làm tay sai cho giặc cộng làm antenna, làm trật tự thi đua như Thiếu tá Nguyễn xuân Tùng đã từng là Giám đốc chương trình Ky tô hữu bang tầng AM.1190 phát thanh về ban đêm (bạn của ông Trần phong Vũ chủ nhiệm Nguyệt san Diễn đàn giáo Dân), thậm chí đánh chết bạn đồng tù và cũng từng là chiến hữu chung chiến hào như giáo dân Thiên Chúa giáo Bùi đình Thi, họ là Sĩ quan đấy, họ là giáo dân Thiên Chúa giáo đấy. Thế thì đừng bắt chước Liên Thành tự xưng Phật tử, dùng trò xảo thuật bỉ ổi lấy danh nghĩa Phật tử để tuyên dương bạo chúa. Trò chơi nầy vừa hèn, vừa ngớ ngẩn, tồi lắm, đáng khinh lắm.  Nếu ông Ngô Đình Diệm là chímh nhân, là lãnh tụ kiệt xuất thật thì cần gì phải là kê khai tác giả theo đạo nào! Khi nói tác giả làm bộ phim để gọi là vinh danh ông Ngô đình Diệm là một Phật tử thì hai ông Minh Võ và  Trần Phong Vũ đã trực tiếp xác nhận chế độ của ông Ngô đình Diệm là chế độ đã gây tội ác với Phật giáo rồi!.

        Tự xưng là Phật tử mà không biết tôn giáo mình bị kẻ thù hung hản kỳ thị, rắp tâm tiêu diệt? Bằng chứng à? Đạo dụ số 10 đó, đọc đi!, dân số Thiên chúa giáo chiếm tỷ lệ khoảng trên dưới 15% mà có đến hai Nha Tuyên Úy (Tin Lành và Thiên Chúa giáo La mã), còn Phật giáo chiếm tỷ lệ bao nhiêu nhưng tại sao không có Nha Tuyên Úy? Chương trình phát thanh trên các đài phát thanh Quốc gia đến địa phương, Phật Giáo có được không? Hay một năm chỉ được vài giờ trong ngày đại lễ Phật đản mà còn phải tùy theo chỉ thị từ cấp trung ương? Tại sao lễ ngân khánh của ông Giám Mục Ngô đình Thục thì cờ quạt Vatican treo nghênh ngang. Còn đại lễ Phật đản thì cấm? Tại sao chế độ gia đình trị  mở cuộc hành quân đồng loạt không phải tấn công cộng sản mà tấn công chùa , bắt bỏ tù những Sư sãi, học sinh, ông già bà lão trong tay không tất sắc rồi quẳng súng vào chùa đổ vấy cho Phật giáo là cộng sản? Phật tử gì mà kỳ quái thế, nếu không phải là loại Phật tử Cân lao như Lê trọng Quát, Cao xuân Vỹ, Nguyễn ngọc Lễ hay như Phât tử  Liên Thành vì tiền mà đem cả danh dự cá nhân lẫn dòng họ ra đánh đổi.

            Tên Cần Lao giả danh Phật tử Trần Quang và Cân Lao Minh Võ, ngụy trí thức giáo đồ Thiên Chúa Trần phong Vũ hãy nghe:” Đảng Cần Lao của Cẩn càng phát triển thì sự khủng bố đối với Phật Giáo miền Trung và đối với các Đảng Quốc Gia càng ác liệt ”  (Chu Bằng Lĩnh - Đảng Cần lao trang 132. 133, 134)

     Chuyện trò với hai nhà trí thức Thiên Chúa Giáo Minh Võ và Trần Phong Vũ như thế cũng tạm đủ. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề nầy khi có dịp. Tạm chia tay với ông Minh Võ chuyên viên xáo bài ba lá. Nhưng chúng tôi quá tiếc khi nhận diện được ông Trần phong Vũ, một người mà cá nhân chúng tôi nghĩ rằng ông đang ngồi trên ghế nhân sĩ Thiên Chúa Giáo và ông sẽ làm những gì cần phải làm cho lịch sử Thập Giá bớt màu máu và lưỡi gươm sắc cạnh như Linh Mục TRẦN TAM TỈNH Viện sĩ viện hàn lâm Hoàng Gia Canada, Giáo sư Đại học Laval tỉnh Quebec - Canada)  đã nói. Nhưng hôm nay tên ngụy trí thức Thiên  Chúa giáo đã tự làm rơi chiếc nạ.

 

                        Trần Việt

 

 

 

 

From: Dr Nguyen Thi Thanh <dr.thanh101@gmail.com>
To: chinhnghia@yahoogroups.com; DDDT <diendandantoc@yahoogroups.com>; daploisongnui <Daploisongnui@yahoogroups.com>
Cc: Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr>; "ChinhNghiaViet@yahoogroups.com" <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com>; "thaoluan9@yahoogroups.com" <thaoluan9@yahoogroups.com>; "diendanviahe@yahoogroups.com" <diendanviahe@yahoogroups.com>; Diendanviahe <diendanviahe2@yahoogroups.com>; "doquangnc@gmail.com" <doquangnc@gmail.com>; Thuan Do <dothuan@sbcglobal.net>; "backydicu@gmail.com" <backydicu@gmail.com>; "nhu.khong@yahoo.com" <nhu.khong@yahoo.com>; "trantu60@yahoo.com" <trantu60@yahoo.com>; "theothiendao@yahoo.com" <theothiendao@yahoo.com>; "butvang.golden@gmail.com" <butvang.golden@gmail.com>; "mailoan74@yahoo.com" <mailoan74@yahoo.com>; "cahat56@gmail.com" <cahat56@gmail.com>; "duyendangtrinh@yahoo.com" <duyendangtrinh@yahoo.com>; "qtran@ec.rr.com" <qtran@ec.rr.com>; "nguyendinhhoaiviet@yahoo.com" <nguyendinhhoaiviet@yahoo.com>; "hoacucvang195973@yahoo.com" <hoacucvang195973@yahoo.com>; "chetrunghieu@gmail.com" <chetrunghieu@gmail.com>; "bacnguyen6@yahoo.com" <bacnguyen6@yahoo.com>; "chaulinhvu@yahoo.com" <chaulinhvu@yahoo.com>; Bdqphuonghung Nguyen <bdqnguyenphuonghung@yahoo.com>; "babon520xm@yahoo.com" <babon520xm@yahoo.com>; "lytranlenguyen75@yahoo.fr" <lytranlenguyen75@yahoo.fr>; "tieudze007@yahoo.com" <tieudze007@yahoo.com>; "minhthu54@gmail.com" <minhthu54@gmail.com>; "nguyenkhacanhtam@gmail.com" <nguyenkhacanhtam@gmail.com>; "dao_nguyen_1960@yahoo.com" <dao_nguyen_1960@yahoo.com>; Fanxico Tran <vneagle_11@yahoo.com>; Anh Pham <phamanh44@yahoo.com>; "AllReligions@Religions.com" <AllReligions@religions.com>; "gopgionews@yahoo.com" <gopgionews@yahoo.com>; "tranquangdieu@hotmail.com" <tranquangdieu@hotmail.com>; "tranvantam75@gmail.com" <tranvantam75@gmail.com>; "michaeltran_1tran@yahoo.com" <michaeltran_1tran@yahoo.com>; "newsaigonsd@yahoo.com" <newsaigonsd@yahoo.com>; tuonggiang TN <tuonggiangtn@hotmail.com>; Luu Vu <luuvu44@yahoo.com>; Lan Luong <luonglan@hotmail.de>
Sent: Saturday, May 19, 2012 8:53 PM
Subject: Re: (CHÍNH NGHĨA): Re: Ngô Đình Nhu và Chính Đề VN của Tiên Sinh TS Phạm Văn Lưu

 


Hãy nghe Trưng Trắc lên tiêng:

TS Hồng Lĩnh Hồ Nam Trân nói đúng.


2012/5/19 Hoang Thuc An <hoangthucan@gmail.com>

 

Biết ông Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr> là một con chiên nên tôi không ngạc nhiên, hay khó chịu về vài lời không thanh lắm của ông, vì tất cả các diễn đàn đã quen với loại văn hóa Đắc Lộ của các ngài lâu rồi. 

 

Nhưng xin ông đừng quên rằng cuộc chính biến 1963 là cuộc vận động của cả dân và quân toàn quốc, trong đó có sự đồng tâm của đa số người anh em Thiên Chúa Giáo, hãy đọc Thập giá và lưỡi gươm của Linh mục, Giáo sư, Viện sĩ Trần Tam Tỉnh, và thái độ của LM Viện trưởng Đại học Huế Cao Văn Luận thì biết. Và đây là lời kể của một nhân chứng sau biến cố lịch sử ấy:  Tin Cách Mạng thành công vào sáng 2.11.1963 được loan trên đài Phát Thanh Sài Gòn làm cho quốc dân mừng rỡ kéo nhau ra đường bày tỏ niềm vui. Tại Sài Gòn, các con đường như Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Gia Long, Công Lý và Pasteur người đổ ra tràn ngập. Họ đổ xô về phía dinh Gia Long. Họ leo tường vào dinh. Họ leo lên xe thiết giáp, ôm chầm lấy các quân nhân. Họ nô nức reo hò. Dân chúng thủ đô biểu lộ sự vui mừng trong suốt ngày hôm ấy và trong hai ngày kế tiếp.

hta.

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link