Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, May 26, 2012

MỢ TÔI

MỢ TÔI

NGUYỄN KHẮP NƠI.

 

 

Mẹ là một danh từ chung, mà một số người Việt đã dùng để chỉ người đàn bà đã sinh ra mình. Ngoài tiếng kêu Mẹ, chúng ta còn nhiều danh từ khác để gọi mẹ: Má, Mợ, Mệ... Tựu chung, tiếng gọi mẹ của người Việt chúng ta hầu như đều bắt đầu bằng vần M.

Không riêng gì người Việt Nam, đa số dân chúng trên thế giới đều gọi mẹ bắt đầu bằng vần M. Tại sao lại có sự trùng hợp như vậy?

Theo sự suy đoán của tôi, đứa trẻ khi vừa mới sinh ra, chỉ biết há miệng bú sữa và ngậm miệng đi ngủ. Âm thanh phát ra từ vành môi khi đứa trẻ mở miệng, chúng ta nghe dường như là MMMMM... dịch ra tiếng Việt Nam, nghe như MẦMMẦM... Như vậy có nghĩa là, âm M là âm tự nhiên mà bất cứ đứa trẻ nào của bất cứ sắc dân nào, khi mới sinh ra cũng có thể phát âm được. Người Mẹ là người gần gũi đứa trẻ nhất khi nó vừa sinh ra đời, do đó, để có thể gọi người mẹ, chắc chắn đứa trẻ đều phát âm bắt đầu bằng âm M. Chính vì thế, mà:

Người Anh gọi mẹ là MUM - Người Pháp gọi mẹ là Maman - Người Mỹ gọi mẹ là Mom - Người Tây Ban Nha gọi mẹ là Mamá - Người Đức gọi mẹ là Mama - Người Na Uy gọi mẹ là Mamma...

Tôi là dân sinh đẻ ở miền Bắc, theo cung cách xa xưa, tôi được dạy gọi mẹ tôi là MỢ.

Mợ tôi cũng chỉ là một trong số hàng triệu người mẹ Việt Nam bình thường mà bất cứ gia đình Việt Nam nào cũng có: Rất mực thương con và có thể hy sinh tất cả những gì mình đang có cho những đứa con của mình.

Chuyện xưa kể rằng:

Có hai người đàn bà tranh giành một đứa trẻ sơ sinh. Người nào cũng nhận mình là mẹ của đứa trẻ. Không còn cách nào khác, hai bà phải đem nhau ra tòa để nhờ đèn trời soi sáng.

Ông Chánh án cho điều tra đủ mọi thứ, từ thói quen của đứa trẻ cho đến áo quần và cách thức ăn uống, cả hai bà đều nói đúng hết. Chánh án hết cách xử, ngồi trầm ngâm trên án suy nghĩ giờ lâu. Cuối cùng, ông gọi hai người đàn bà lại, nghe phán quyết:

“Cả hai bà đều dành quyền nuôi đứa trẻ. Thôi thì để cho công bằng, ta sẽ... cho mỗi bà một nửa thân hình của đứa trẻ. Lính hầu đâu, đem xẻ đứa nhỏ này ra làm hai phần, đưa cho mỗi bà mẹ một nửa. Ai cũng có phần, không cần phải cãi cọ chi nữa”.

Người đàn bà thứ nhất đứng lên tuyên bố chấp nhận phán quyết của tòa, và chỉ mặt người đàn bà kia mà nói:

“Đó, cho bà dành đó. Tôi mà không được nuôi đứa bé thì thà cho nó chết đi còn hơn là để cho bà nuôi nó”.

Người đàn bà thứ hai ngồi im, gương mặt âu sầu buồn thảm, cặp mắt xót thương nhìn đứa trẻ đang nằm trên bàn chánh án. Một lúc sau, bà mới vừa khóc vừa thưa với quan tòa:

"Thưa quan tòa, tôi không nỡ nhìn con tôi bị phanh thây. Thôi thì tôi nhường cho bà kia được quyền nuôi đứa con của tôi đó. Ít nhất, nó còn đuợc sống."

Nói xong, bà òa lên khóc chạy ra ngoài tòa.

Quan Chánh án đập bàn sai lính chặn bà lại, đem trở lại phòng xử, nạt lớn:

"Ta chưa xử xong, sao ngươi dám mạo phạm mà rởi khỏi phòng xử?

Hãy nghe ta phán đây:

"Phàm là bậc cha mẹ, từ cổ chí kim, từ con người cho đến loài cầm thú, ai cũng có lòng thương con, lo lắng, đùm bọc cho con cái của mình.

Ta nói đem đứa trẻ ra xẻ làm hai là cũng căn cứ vào lẽ thường tình của người mẹ thương con để phân xử mà thôi. Ngươi đã cho ta thấy lòng mẹ thương con, thà để cho người khác nuôi con mình còn hơn là để cho nó bị chết. Ngươi mới chính là người mẹ của đứa trẻ, ta xử giao lại đứa trẻ cho ngươi nuôi dưỡng, tặng thêm một ít dồ tiện dụng hàng ngày cho hai mẹ con sinh sống.

Còn tên đàn bà kia, nhà ngươi đã không có lòng thương, mà chỉ có lòng hận thù mà thôi. Ngươi thà để cho ta chặt đứa nhỏ ra làm hai, còn hơn là để nó được sống với người khác. Ngươi không có lòng thương yêu đứa trẻ thì làm sao có thể là mẹ đẻ ra nó được? Ngươi chỉ là phường lường gạt vô lương tâm mà thôi. Ta phạt ngươi ba mươi hèo, giam giữ ba năm cho ngươi biết luật trời công minh."

Mợ tôi thì không phải ra trước quan nha để nghe xử, vì hàng xóm chung quanh nhà tôi ai cũng có cả đống con, cho bớt đi cũng còn được, nói chi đến chuyện tranh giành nuôi con người khác. Hơn nữa, anh em chúng tôi trên dưới tám đứa, phá phách dữ lắm, có cho đi cũng chẳng ai dám nhận nuôi.

Tôi sinh ra ở Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Cậu tôi (ba tôi) làm thầy giáo làng, đi dạy học ở mãi Lạng Sơn, lâu lâu mới về thăm nhà, mẹ tôi một mình ôm năm đứa con nhỏ vừa phải buôn bán kiếm thêm, chứ trông vào tiền lương của cậu tôi thì làm sao mà đủ sống.

Mợ tôi kể lại, khi tôi được một tuổi, mợ tôi phải lo đi buôn gạo để sinh sống. Mỗi buổi sáng, mợ đong gạo đầy một bên thúng, bên kia quấn chăn để tôi nằm lọt thỏm trong đó mà gánh đi từ sáng tinh mơ để kịp giờ họp chợ xa. Hôm nào bán được gạo thì mợ tôi mua thêm ít vải vóc đem về bán chợ gần, và chỉ ngày hôm đó anh em chúng tôi mới có ít cơm ăn, không phải ăn cháo.

Đến khi tôi được ba tuổi, tôi nặng quá rồi, không thể ngồi trong thúng được nữa, mợ tôi phải để tôi ở nhà cho anh Hiệp trông nom tôi. Hơn nữa, bọn Việt minh (sau này mới đổi tên là Việt cộng) thường hay mang súng đến chợ bắc loa kêu gọi mọi người không được nhóm chợ nữa, mà phải theo chính sách "Vườn Không Nhà Trống" hoặc là "Tiêu Thổ Kháng Chiến". Nếu ai không nghe lệnh là chúng bắn bỏ ngay, vừa để đe dọa người dân, vừa tịch thu hàng hóa của họ. Điều kinh khủng cho người dân hơn nữa là, mỗi khi bọn Việt minh xuất hiện, là thế nào bọn mật thám của Pháp cũng biết tin mà báo cho bọn lính thuộc địa đem quân Lê Dương đi càn (đi hành quân). Hai bên đụng nhau súng bắn khắp nơi, ai chạy chậm ráng mà chịu chết, vì thế, mợ mới phải để tôi ở nhà.

Một hôm, tôi ở nhà với anh Hiệp, anh lại bị cảm lạnh, đắp chiếu nằm ngủ li bì. Trời sắp tối rồi mà các chị tôi đi mò cua bắt ốc đâu đó chưa về, mợ tôi chắc cũng còn đang gồng gánh đâu đó trên con đường đê chưa tới nhà. Trời bắt đầu đổ cơn mưa, lại gió lên nữa, mái nhà tranh cũ kỹ rách nát đâu còn đủ sức mà chịu đựng những cơn gió mạnh. Mỗi lần gió nổi lên ào ạt là mỗi lần mái tranh nhà tôi bay đi một ít, lần này cơn gió ác hại đã làm bay đi mảng tranh ngay trên đầu chỗ anh tôi đang nằm, nước mưa nhỏ xuống trúng nguời, làm anh lạnh quá, rên lên hừ hừ nghe thật là sợ. Tôi cũng cảm thấy lạnh, ngồi co ro ở cuối giường, mỗi lần cơn gió mạnh ào đến, lạnh thấu xương, tôi chỉ còn cách chắp tay lạy trời lạy đất:

"Lạy Trời đừng... Hừ... Hừ... đừng gió nữa... chỉ... Hừ... Hừ . . . mưa thôi."

Tới lúc trời tối đen như mực, mợ tôi mới gồng gánh về tới nhà, hàng của mợ coi như bị mất sạch vì Việt minh tịch thu không cho nhóm chợ. Mẹ ôm tôi vào lòng, hai mẹ con khóc như mưa. May mà lúc đó các chị tôi cũng về, đem theo được ít khoai mót ở ngoài ruộng. Mợ vội vàng nhúm lửa luộc khoai bóc cho anh tôi ăn rồi chia đều cho tất cả chúng tôi.

Mãi tới khi cậu tôi bỏ dạy học trốn về nhà (chính phủ bắt phải dạy học, Việt minh thì rình mò bắt tù, vì chúng nghi cậu tôi theo Việt Nam Quốc Dân Đảng), gia đình chúng tôi mới liên lạc được với bác Quế, Cô Tích ở Hà Nội để từ đó tìm đường... "Về Tề" tức là về vùng Quốc Gia kiểm soát.

Tối hôm đó, cậu tôi được đám học trò lội ruộng đưa xuống thuyền trốn đám ám sát của Việt minh, mợ tôi dắt các chị gái của tôi, còn anh Hiệp cõng tôi chạy thục mạng ra bờ sông. Phần thì trời tối đen như mực, phần vì sợ hãi, ai cũng cắm đầu chạy thục mạng, anh Hiệp cõng tôi một lúc thì thở không ra hơi, anh bỏ tôi xuống dắt tôi chạy. Tôi chạy bước thấp bước cao ngã lia lịa. Anh Hiệp đỡ tôi đứng dậy, nhìn lên chẳng còn thấy ai nữa, anh hoảng hồn kêu lên:

"Mợ ơi... chờ con với... "

Một người học trò của cậu tôi nghe được tiếng kêu cứu của anh Hiệp, chạy trở lại cõng tôi và dắt anh chạy nước rút. Khi tới bờ sông, cả nhà lên thuyền thì bọn du kích đã biết tin, chúng chạy tới lùng kiếm dọc bờ sông, tay chém dao xuống nước, chân thọc vào từng bụi cỏ, làm những người học trò không dám chèo thuyền nữa, mà phải nhẩy xuống nước kéo thuyền đi, còn anh em chúng tôi sợ tới không còn hồn vía nào nữa. Qua đến giữa sông, các anh học trò mới dám nhẩy lên thuyền, ra sức chèo thật nhanh cho tới bờ bên kia, tức là vùng an toàn của Quốc Gia.

Về đến Hà Nội, gia đình tôi tá túc tại nhà của bác Quế, ở Phố Huế, ngay trước cửa Chợ Hôm. Cậu tôi lo đi trình diện Nha Học Chính để xin tái bổ dụng, còn mợ tôi được bác Quế cho mượn cái tủ thuốc ngồi bán thuốc lá lẻ ngay trước cửa hàng bán cam táo của bác.

Hàng ngày, các anh chị tôi đi học, một mình tôi đứng sớ rớ bên cạnh mợ mở to cặp mắt ra mà nhìn người đi qua đi lại. Trời đã vào cuối thu, lạnh lắm, tôi được con của bác Quế cho cái áo ba đờ suy (coat) cũ, thỉnh thoảng lại cúi xuống tự ngắm mình, vì từ thủa mới sinh ra, tôi đâu có bao giờ được mặc cái áo đẹp như thế này đâu! Ngắm người đi bộ chán rồi, tôi quay ra ngắm xe điện (xe tram) chạy lên chạy xuống, rồi cũng bắt chước mọi người đi ra xem chợ bán hoa (cũng ngay trước cửa nhà). Mưa phùn lất phất, tôi thọc tay vào túi đi xem hoa cứ y như là người lớn. Tôi lang thang tới mãi tận rạp cinê Thăng Long (rạp chiếu bóng, bên đây gọi là movie) thì mợ tôi hoảng hốt đi tìm tôi dắt về.

Gia đình tôi di cư vào Nam năm 1954, những ngày đầu tiên, chúng tôi sống trong trại tỵ nạn ở Trường Nữ Trung Học Gia Long. Sau khi đã an vị tại gầm cầu thang của truờng, sáng sớm ngày hôm sau, mợ tôi dắt anh chị em chúng tôi đi vòng vòng khu trường học để... xem cho biết. Trường Gia Long thật là to lớn và đẹp đẽ với những hàng cây dọc lối đi và những căn nhà hai tầng dùng làm lớp học. Hồi ở Hà Nội và Sơn Tây, tôi đã có tới trường đi học rồi, nhưng những ngôi trường đó chỉ là truờng Tiểu học mà thôi, đôi khi nằm trong chùa, hoặc ở một khu vực hẻo lánh nào đó, chứ chưa bao giờ tôi được học hoặc là vào thăm một ngôi trường nào lớn như trường Gia Long này. Kỷ niệm mà tôi nhớ mãi cho đến ngày hôm nay là, khi chúng tôi đứng ở giữa sân, nhìn lên bầu trời trong xanh với những tia nắng vàng rực rỡ, mợ tôi đã buột miệng nói:

“Nắng Miền Nam... đẹp quá!”

Cũng nhờ những tia nắng đẹp của Miền Nam này mà gia đình chúng tôi và tất cả dân chúng ở Miền Nam đã đuợc sống những chuỗi ngày hạnh phúc thanh bình. Sau khi trung tâm Tỵ Nạn tại trường Thạnh Mỹ Tây đóng cửa, chính phủ mở ra các trường học di chuyển và cậu tôi lại được tuyển dụng dạy học ngay tại Trường Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây Thị Nghè. Mợ tôi chạy đôn chạy đáo mướn được căn nhà lá ở khu Sở Bông, gần Thảo Cầm Viên Sàigòn. Lạ nước lạ cái, lạ phong thổ và lạ cả tiếng nói, mợ tôi chưa thể buôn bán gì thêm được, cả gia đình sống nhờ vào đồng lương giáo viên của cậu tôi. Cũng như đa số những người đàn ông khác, cậu tôi chỉ biết đi làm kiếm tiền thôi, chứ làm sao có thể chăm lo cái ăn cái uống cho anh chị em chúng tôi. Kỳ lãnh lương đầu tiên, cũng là kỳ lãnh lương mà cậu tôi được sống ở nhà chung với cả gia đình (từ xưa tới giờ, cậu tôi luôn luôn phải đi dạy học xa nhà), khi cả nhà quây quần sau bữa ăn tối, cậu tôi móc túi đưa một xấp tiền (đối với đứa con nít 8 tuổi như tôi là nhiều lắm rồi) ra và hỏi mợ tôi:

“Bà... cần bao nhiêu?”

Mợ tôi đã nói một câu thật là chắc nịch:

“Ông cứ... đưa hết cho tôi là... được rồi.”

(câu nói lịch sử này, những bạn bè của tôi đã lấy vợ, đã có gia đình, chắc chắn ít ra cũng đã hơn một lần được nghe vợ mình nói một câu như vậy, phải không bạn?)

Nhờ tài xoay sở chắt bót của mợ tôi mà cả gia đình tôi gồm cha mẹ và bảy anh chị em (sau này em út tôi được sinh ra mới đủ con số 8) đã có một cuộc sống tạm gọi là no đủ. Mỗi đứa trong chúng tôi được mợ tôi đo cắt và khâu tay cho hai bộ quần áo mặc lúc đi học cũng như ở nhà, loại vải thật dầy, để khi đứa lớn mặc chật thì truyền lại cho đứa sau. Suốt cả thời kỳ tôi học tiểu học, chỉ có một lần duy nhất gia đình chúng tôi được đi chơi chung với nhau là kỳ nghỉ “Lễ Quốc Khánh 26 tháng 10”, cậu tôi đã dắt cả nhà đi thăm Thảo Cầm Viên Sàigòn (gọi tắt là Sở Thú). Sở Thú này, thật sự chỉ có cách nhà tôi khoảng mười phút đi bộ qua cầu (cũng được gọi là cầu sở thú, bắc ngang sông Thị Nghè) là tới nơi. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời thơ ấu, tôi được nhìn thấy tận mắt những con khỉ, voi, cọp... mỗi đứa chúng tôi được mợ mua cho một cây kem, tiếng Miền Nam gọi là Cà Rem Cây.

Ngoài cây cà rem đó ra, chúng tôi chưa bao giờ bước chân đến bất cứ tiệm ăn nào, dù chỉ là một cái quán ăn bình dân, nơi tôi và đám thằng Tự, thằng Nam... đã tới đó để nhặt nút chai, lon sữa bò làm đồ chơi. (Bạn bè thủa xưa của tôi vào những năm 1956 còn nhiều lắm, nào là thằng Tự (niểng) (vì xương cổ của nó bị cong, làm cái đầu nghiêng sang một bên. Tự sau này giữ chức Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, tử trận vào lúc 4 giờ chiều ngày 30 04 1975), thằng Giao (dao cùn), thằng Giáo (dao sắc), thằng Nam (Lùn, vì nó không được cao cho lắm), thằng Tâm (cháu của Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), thằng Hà (họa sĩ). Bên con gái có chị Hạnh, chị Trần Mộng Tú (làm thơ), chị Én... đến bây giờ chúng tôi vẫn còn liên lạc emails với nhau, vui lắm).

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu làm sao mà chỉ với số lương giáo viên ít ỏi của cậu tôi mà mợ tôi có thể nuôi nổi cả gia đình với một bầy con tám đứa ăn như quỷ phá như giặc như chúng tôi?

Chắc là tại vì cậu tôi chịu nghe lời... “Ông cứ đưa hết cho tôi là được rồi.” và chắc cũng vì cái... Nắng Đẹp Miền Nam mà đời sống dân chúng không quá khó khăn đến nỗi phải bon chen chụp giựt vào thời gian đó. Cũng theo cái lý thuyết “Đưa hết cho tôi” mà khi chị Oanh, anh Hiệp đi làm, cũng đều đưa tiền cho mợ tôi lo phần chi thu trong gia đình, chỉ có mỗi mình tôi đi lính xa nhà, nên tôi giữ luơng lại mà sinh sống. Hơn nữa, tôi đóng quân ở mãi Pleiku, đâu có đuợc về nhà đâu mà đưa tiền cho mợ tôi giữ.

Đến khi tôi lấy vợ, câu đầu tiên mà mợ tôi dậy dỗ cô con dâu là:

“Con phải bảo thằng An nó... đưa hết tiền cho con giữ mới được đấy.” Nhưng mà khó cho vợ tôi là vào thời gian năm 1977, vợ chồng tôi lo bán đồ trong nhà đi mà tiêu xài, chứ tôi đâu có đi làm ở đâu đâu để mà đưa hết tiền cho vợ. Khi tìm được đường để lo vượt biên, chủ tầu chỉ cần tôi góp vốn một “Cây” thôi, vợ chồng tôi cũng không có cách nào mà kiếm ra. Vậy mà mợ tôi có đấy! Mợ nói với tôi:
“Để mợ... cho con mượn”

Thế là ngày hôm sau, khi tôi đến nhà mợ (lúc đó chúng tôi ở riêng), mợ đã đưa cho tôi một gói giấy, trong đó có đúng một lát vàng hình ba trái núi. Mợ tôi tài thật.

May mắn cho tôi, chuyến vượt biên được trót lọt (những lần vượt biên trước, vợ chồng con cái chúng tôi đi đều bị đình hoãn hoặc bị bể). Lênh đênh trên biển đúng bốn ngày bốn đêm, tầu vượt biên của chúng tôi đã cặp bến đảo Pulau Tanga của Mã Lai, đúng một tháng sau là tôi đã có mặt ở Melbourne, mượn tiền của Hostel đánh điện tín về nhà báo tin đã tới nơi an toàn. Số tiền trợ cấp một tuần lễ đầu tiên (và là số tiền trợ cấp duy nhất tôi lãnh ở Úc cho đến ngày hôm nay) tôi được lãnh tại xứ Úc, tôi đã mua vải vóc thuốc tây gởi hết về cho mợ. Nhận được quà, mợ gọi vợ con tôi đến, giao cho vợ tôi việc đi bán lấy tiền. Ba tháng sau, đơn bảo lãnh vợ tôi vừa mới gởi đi thì đã được tin vợ con tôi đã vượt biên an toàn đến đảo Pulau Bidong.

Tôi có được đến ngày hôm nay cũng là nhờ cây vàng mà mợ tôi đã cho (đứa con gái út của tôi cũng đã được tôi kể cho nghe câu chuyện này hơn một ngàn lần. Khi gặp bà nội ở Canada, nó cũng bá cổ bà nội mà đòi... mượn một lạng).

Câu đầu tiên mợ tôi nói với vợ tôi khi hai vợ chồng tôi sang thăm mợ lần đầu tiên ở Montreal là:

“Thằng An nó có... đưa hết tiền cho con giữ hay không đấy?”

Vợ tôi trả lời mợ, chắc như bắp:

“Mợ yên trí, con nhớ lời mợ dặn mà. Tiền khách hàng trả là con thâu chứ ảnh đâu có được rớ tới đâu, con thâu tiền hổng thiếu một cắc, mợ... đừng có lo”

Bây giờ thì tôi mới hiểu tại sao tôi chỉ có mỗi... hai chục đồng ở trong bóp (mỗi tuần, vợ tôi đưa cho tôi hai chục đồng để tiêu vặt. Đến cuối tháng, bả coi lại, nếu tôi chưa xài gì nhiều, số tiền còn dư, bả... lấy lại, chỉ để đúng hai chục đồng trong bóp tôi mà thôi. Cũng may là ở xứ Úc này không có bán bánh tráng nướng, chứ không thì lỡ tôi đi đường, đụng bể mấy cái bánh tráng, chắc không có đủ tiền đền).

Anh Hiệp tôi bảo lãnh cậu mợ và các chị em tôi qua Canada (tám anh chị em tôi sống tản mát khắp mọi nơi: Cậu mợ và một chị gái, một em trai tôi sống ở Canada với gia đình anh Hiệp (anh lớn), chỉ Oanh là chị cả của tôi và hai đứa em trai sống ở Mỹ, gia đình tôi ở Úc, và gia đình chị Bảo tôi còn ở lại ở Việt Nam). Mặc dù không phải chi tiêu gì cho gia đình nữa, nhưng mợ tôi vẫn cứ xách lược cũ mà áp dụng: “Ông cứ đưa hết tiền đây cho tôi”, làm cho cậu tôi đôi khi bị xính vính mỗi lần muốn đi chơi ngoài phố, tôi biết vậy, nên đã lén mợ tặng riêng cho cậu tôi một số tiền để ông tiêu vặt.

Khi trở về Úc, khoảng vài tháng sau, tôi nhận được thư của cậu gởi cho tôi (lâu lắm rồi, khoảng năm 1991 gì đó. Cậu tôi qua đời năm 1998, thọ 86 tuổi). Cậu khoe tôi:

“Có tiền của con đưa, cậu đi chơi vòng khắp thành phố Montreal, thấy người ta bán bánh Pizza, cậu mua ăn thử... ngon lắm con ạ. Chiều về nhà, mợ dọn cơm ra, cậu nói dối mợ là... bị đau bụng nên không ăn cơm (cậu tôi nói tiếng Pháp rành lắm, dân Montreal nghe ông nói đúng giọng, không vấp váp, cứ tưởng là cậu tôi sinh đẻ ở Pháp). Thật ra là cậu ăn bánh còn no lắm, và cũng có đi cầu thật, vì bánh có nhiều bơ quá. Nhưng chỉ một tuần sau, mợ lục túi cậu, thấy có tiền, mợ lại... lấy hết rồi. Mợ nói:

“Khi nào ông cần thì tôi sẽ đưa. Ông ăn cơm ở nhà, đi đâu có thằng Hiệp lái xe đưa đi, cần gì đến tiền mà phải giữ.”

Thế là cậu lại không có tiền dằn túi. Nếu con có gửi tiền cho cậu, con cứ gởi qua nhà bác Phan (Bác Phan là bạn của cậu tôi từ thời hai người còn học tiểu học chung với nhau. Bác cũng được con trai bảo lãnh qua Montreal và ở gần nhà cậu mợ tôi), khi nào cậu đi chơi, cậu sẽ ghé bác lấy xài dần.”

Mợ tôi bây giờ đã 95 tuổi rồi, bà sống trong Viện Dưỡng Lão ở Montreal. Viện này dành cho tất cả dân chúng trong vùng. Mợ tôi sống vui vẻ lắm, vì bà nói được tiếng Pháp và lại ăn được đồ ăn nấu theo kiểu Pháp nữa. Ngày ba buổi có người bưng đồ ăn nóng lại cho bà, bà ăn ngon miệng lắm. Năm 2010 vừa qua, vợ chồng con cái chúng tôi lại dắt díu nhau qua Montreal thăm bà nội. Hai đứa con của tôi học mãi cũng chỉ nói được với bà nội một câu:
“Bà Nọi... Bà Nọi khòe hong?”

Bà nội cũng chỉ nhìn cháu mà cười:

“Cháu... cháu ngoan quá”

Rồi mấy bà cháu nhìn nhau cười, vui lắm.

Vì mợ tôi sống trong nhà dưỡng lão, không còn phải lo chi thu hàng ngày nữa, và cũng vì cậu tôi qua đời rồi, nên cái lý thuyết “Ông đưa hết đây cho tôi” không còn được áp dụng nữa. Tuy nhiên, mợ đã truyền cái lý thuyết này lại cho mấy cô con dâu rồi, và cô nào cũng áp dụng chặt chẽ lắm, nên mợ rất là vui vẻ với đám con dâu biết nghe lời.

Vợ tôi có thể là một trong những học viên giỏi nhất của mợ. Mỗi lần tôi đòi... tăng lương, vợ tôi đã thẳng thừng từ chối:

“Cứ ăn xài kiểu như anh, em mà không lo cắt bớt, anh giờ này chắc... hổng có cái “quần xả lỏng” mà bận đâu, nói chi đến chuỵên mua nhà, mua xe...”..

Trước đây, cứ mỗi năm năm là chúng tôi lại qua thăm mợ một lần, nhưng vì công việc, chúng tôi chỉ có thể đi vào kỳ nghỉ hè, tức là vào tháng Một. Mà tháng này ở bên Canada lạnh thấu xương, có khi lạnh xuống tới trừ ba mươi độ, nên cả gia đình chỉ ngồi trong nhà nói chuyện, ăn uống với mọ mà thôi, chứ không dám dẫn mợ đi chơi, vì sợ tuyết trơn, sẽ bị ngã. Kỳ đi thăm mợ vừa qua, chúng tôi đổi qua tháng Năm, tôi chưa có bận bịu công việc làm cho lắm, và thời tiết bên Montreal đang là mùa Hè, nên chúng tôi có thể ra ngoài chơi, nhưng tiếc rằng, bà nội phải thở bằng ống dưỡng khí, nên không đi xa được. Vì mợ tôi đã lớn tuổi rồi, nên chúng tôi lại phải thay đổi thời gian đi thăm mợ mỗi ba năm, nên đến năm tới, chúng tôi lại đi thăm mợ lần nữa. Mai mốt đây, chắc là mỗi năm chúng tôi sẽ đi thăm mợ một lần...

Mợ tôi nghe không rõ cho lắm, nhưng mắt bà vẫn còn tinh, vẫn còn khâu vá đan áo len và đọc báo được. Lần trước, mợ đưa ra tờ báo “Văn Nghệ Montreal” khoe với tôi:

“Đây này, báo ở Montreal đăng bài của con đây này, con viết vui lắm, mợ đọc thích lắm. Lúc trước, mẹ đọc thấy tên ai là Nguyễn Khắp Nơi mà lại viết chuyện giống như chuyện nhà mình? Mãi sau con Bình nó mới nói cho mợ biết Nguyễn Khắp Nơi chính là thằng An con của mợ. Con mợ giỏi quá” (Mợ khen con, không đúng đâu đó).

Nhân dịp lễ “Ngày của Mẹ” năm nay, tôi viết bài này tặng cho MỢ TÔI, chắc thế nào báo Văn Nghệ cũng lấy đăng vào báo của họ và gởi cho mợ tôi đọc (mợ tôi mua báo năm). Tôi không cần mợ khen “Con mợ giỏi quá” mà tôi chỉ cần mợ tôi biết rằng:

“Con cám ơn MỢ. Nhờ có mợ mà con có đến ngày hôm nay. Nhờ có một cây vàng của mợ mà con vượt biên đến được bến bờ tự do. Nhờ có lý thuyết “Ông cứ đưa hết đây cho tôi” của mợ mà vợ con đã áp dụng theo, để con có cái “Quần Xà Lỏn” mà bận cho đến ngày hôm nay”.

CON CÁM ƠN MỢ

NHỮNG NGƯỜI CON VIỆT NAM CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ĐÃ NUÔI DẠY CON CÁI NÊN NGƯỜI HỮU DỤNG CHO XÃ HỘI.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI.

TRUNG CỘNG ĐÃ ĐỦ SỨC CHƯA?

TRUNG CỘNG ĐÃ ĐỦ SỨC CHƯA?

NGUYỄN KHẮP NƠI

Tầu chiến của Nhật và Trung Cộng đối mặt nhau trong vùng Bỉển Đông.

Vào ngày 12 tháng 5 năm 2012 vừa qua, ông Bob Carr đã bắt đầu chuyến công du đầu tiên của ông qua Trung Cộng với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao Úc. Ông cho biết, ông sẽ tìm cách mở rộng quan hệ với Trung Cộng vượt ra khỏi “chương trình nghị sự kinh tế giao dịch" đã định, trong các chuyến viếng thăm đầu tiên này của ông.
Thượng nghị sĩ Carr đã đến Trung Quốc đêm qua, bắt đầu chuyến thăm năm ngày, trong đó ông sẽ gặp gỡ những viên chức cao cấp của Trung Cộng, như Bộ Trưởng Ngoại Giao Dương Khiết Trì, Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường, người được coi như là sẽ trở thành Tân Thủ Tướng, thay thế ông Ôn Gia Bảo vào cuối năm nay.

Phải nói, đây là một cuộc viếng thăm đặc biệt trong một bối cảnh chính trị và ngoại giao nghiêm trọng đang diễn ra tại vùng Biển Đông, thêm vào vụ Luật Sư Khiếm Thị Trần Quang Thành (Chen Guang cheng) đã... vượt ngục tại gia để đi tới Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh, đang là những đề tài nóng bỏng thu hút sự chú ý của toàn thế giới.

Ngay khi vừa đặt chân xuống Bắc Kinh, ông Bob Carr đã được... chào đón bằng một lời phát biểu rất là kiêu căng của một nhân vật nổi tiếng của Trung Cộng, được đăng trên phần tin của báo “The Age” ngày 16 tháng Năm. Để quý độc giả tiện việc theo dõi, tôi xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau:

““Top of Form

Canberra phải chọn chiến lược bố già
PHILIP WEN - Bắc Kinh

Ngày 16 tháng 5
năm 2012 03:00 PM

AUSTRALIA phải
tìm ra một "bố già" để bảo vệ mình và không thể áp dụng chiến thuật đi "Hàng Hai" giữa Mỹ và Trung Cộng mãi được.


Đó là lời cảnh cáo của Song Xiaojun (Sông Tiểu Quân), một cựu Sĩ Quan cao cấp của Trung Cộng, được đưa ra sau khi ông Bob Carr, Bộ trưởng Ngoại Giao Úc đến Bắc Kinh để họp với các nhà lãnh đạo Trung Cộng. Ông Carr đã được nhữngnhân viên cao cấp của Bắc Kinh nhắc nhở rằng, liên minh quân sự giữa Úc và Mỹ chỉ là một chiến lược lỗi thời, quay trở lại cái thời "Chiến Tranh Lạnh" mà thôi.
Ngày hôm qua, Thượng nghị sĩ Carr đã họp với Lý Khắc Cường (Li Keqiang), người được coi như là ​​sẽ trở thành Tân Thủ tướng của Trung Cộng. Đề tài được thảo luận bao gồm những vấn đề như trao đổi mậu dịch, đầu tư để tiến tới một thỏa hiệp về Tự Do Mậu Dịch, đánh dấu 40 năm quan hệ mật thiết giữa Úc và Trung Cộng.
Nhưng câu hỏi về các đồng minh của Australia trong khu vực Á châu -Thái Bình Dương vẫn một vấn đề quan trọng cần phải đặt ra.

Ông Song nói với tờ Herald ngày hôm qua rằng:

"Nước Úc sớm hay muộn gì cũng phải tìm cho ra một bố già, Úc luôn luôn phải lệ thuộc vào một quốc gia khác, sẽ phải trở thành hoặc là "con trai" của Mỹ hay là "con trai" của Trung Cộng.
"
Câu trả lời sẽ tùy vào quốc gianào có tiềm lực quân sự lớn hơn, đặt căn bản vào chính sách môi sinh”


Ông Song nói, Úc dựa vào quặng sắt xuất cảng sang Trung Cộng để "kiếm sống cho qua ngày" nhưng Úc chưa đủ sức để đứng giữa những thế lực lớn.

"Thành thật mà nói, đường lối chính trị của Úc rất là dở", ông Song nói.

Trước tình thế nghiêm trọng của khu vực Á Châu – Thái Bình Dương, qua quyết định cho phép Hoa Kỳ đóng quân thường trực tại Darwin, Thượng nghị sĩ Carr đã nhắc nhở rằng trong quá khứ, Úc cũng đã có nhiều hoạt động quân sự phối hợp với Trung Cộng.

Tuyên bố với các phóng viên vào hôm thứ Hai, ông nói Úc là một trong hai quốc gia đã có một cuộc hội thảo về chiến lược quốc phòng với Trung Cộng trên cấp bậc Tư Lệnh Quân Đội. Cuộc hội thảo tới đây sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh vào cuối năm nay.

Ghi chú: Tôi không phải là chuyên viên dịch thuật, chỉ tạm dịch ra để làm đề tài cho bài viết này mà thôi.

Qua những lời tuyên bố đầy sấc xược của một nhân vật có tên tuổi ở Bắc Kinh như trên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem: Trung Cộng đã đủ sức chưa mà dám lộng ngôn như vậy?

SONG XIAOJUN (SÔNG TIỂU QUÂN) LÀ AI?

Xiaojun trước đây là một Sĩ quan cao cấp trong Quân Đội Nhân Dân Trung Cộng. Ông giải ngũ để trở thành chuyên viên về nghiên cứu chiến thuật và chiến lược của Trung Cộng. Ông nổi tiếng về những lời tuyên bố rất ư là Diều Hâu. Mặc dù không phải là một nhân vật trong chính quyền nữa, nhưng dưới chế độ Cộng sản, không phải ai cũng được quyền ăn nói như ông, do đó, chúng ta phải hiểu rằng, ông đã được đảng, được chính quyền cho phép hoặc mớm cho những lời phát biểu này, với mục đích cảnh cáo những ai muốn đụng chạm tới Trung Cộng.

SÔNG TIỂU QUÂN ĐÃ NÓI GÌ?

Trong cuộc phỏng vấn của báo Herald, Sông Tiểu Quân đã tuyên bố:

* AUSTRALIA phải tìm ra một "bố già" để bảo vệ mình và không thể áp dụng chiến thuật đi "Hàng Hai" giữa Mỹ và Trung Cộng mãi được.

* Nước Úc sớm hay muộn gì cũng phải tìm cho ra một bố già, Úc luôn luôn phải lệ thuộc vào một quốc gia khác, sẽ phải trở thành hoặc là "con trai" của Mỹ hay là "con trai" của Trung Cộng.

* Úc dựa vào quặng sắt xuất cảng sang Trung Cộng để "kiếm sống cho qua ngày" nhưng Úc chưa đủ sức để đứng giữa những thế lực lớn.

Qua hai lời tuyên bố đầu tiên, Sông Tiểu Quân đã đưa Trung Cộng lên cỡ “Bố Già” có quyền ban phát mạng sống và tiền bạc cho người khác.

Lời tuyên bố cuối cùng, Sông Tiểu Quân miệt thị Úc không biết làm gì hơn ngoài việc bán quặng sắt để sống cho qua ngày.

Biểu tình chống Trung Cộng tại Nhật bản.

Trung Cộng, mặc dù là một quốc gia đã tồn tại lâu đời trên thế giới, nhưng trước đây chỉ là một nước lạc hậu, nghèo nàn, bị các Liệt Cường và Nhật Bản xâu xé chiếm đóng lãnh thổ và đặt một tấm bảng cấm trên bãi cỏ của Công viên Hoàng Phố (Huangpu Park):

“No Dogs or Chinese allowed - Cấm chó và người Trung Hoa”

Đến năm 1972, Henry Kissinger đang giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao kiêm Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Nixon đã đến thăm Trung Cộng và ký hiệp ước bán đứng Nam Việt Nam để đổi lấy việc được buôn bán với dân Tầu, từ đó, người ta mới để ý tới Trung Cộng. Kể từ khi Mao Trạch Đông qua đời, Đặng Tiểu Bình lên kế vị vào năm 1978, mới đưa ra chính sách “Mở Cửa” cải tổ kinh tế, buôn bán làm ăn với thế giới.

TẠI SAO SONG TIỂU QUÂN LẠI TUYÊN BỐ NHƯ VẬY?

Chỉ trong vòng ba chục năm, Trung Cộng đã từ một nước lạc hậu nghèo nàn trở thành một cường quốc, không những có đủ tiền xài (không phải cho dân) mà còn cho Mỹ và các quốc gia Âu châu mượn nợ. Phát triển kinh tế đã làm cho Trung Cộng đủ sức phát triển về quân sự để đem quân đi chiếm đóng và đe dọa các quốc gia lân cận, để chiếm thị trường buôn bán và nguyên liệu. Tuy có phát triển về vũ khí và có một chiếc hàng không mẫu hạm, nhưng sức mạnh quân sự của Trung Cộng chỉ đủ để hù dọa những quốc gia nghèo nàn và kém mở mang (Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia... ) chứ chưa đủ sức để áp đảo các quốc gia Âu châu, Mỹ và ngay cả Úc nữa.

Úc là xứ sở với rất nhiều quặng mỏ là một thiên đàng mà Trung Cộng rất thèm muốn. Mặc dù Úc chỉ là một quốc gia tiến bộ vào hạng trung bình trên thế giới, mặc dù với dân số thật là khiêm nhường (hai chục triệu dân, chỉ bằng dân cư của một thành phố ở bên Tầu), nhưng với địa thế xa xôi và sức mạnh quân sự đáng kể, lại thêm có Hoa kỳ hỗ trợ, Trung Cộng dù có thèm muốn cách mấy cũng chỉ đứng đằng xa nhìn mà thôi. Không chiếm được bằng vũ khí thì bỏ tiển ra... mua. Trung Cộng đã nhiều lần bỏ tiền tỷ ra mua cổ phần của các công ty khai thác quặng sắt thép hoặc mua cả một khu vực hầm mỏ. Tuy nhiên, những công ty khai thác khoáng sản và ngay cả chính phủ Úc cũng từ chối sang nhượng cổ phần và đất đai cho Trung Cộng. Không ăn được thì đạp đổ và bắt bớ để làm áp lực:

Vào năm 2009, công ty Chinalco của Trung Cộng đã muốn gia tang cổ phần của mình trong công ty Rio Tinto từ 9 lên 19% nhưng bị hãng này từ chối. Tức giận, Trung Cộng đã bắt ông Stern Hu (giám đốc thương mại của Rio Tinto) và đưa ra tòa xử 10 năm tù ở với tội danh ăn cắp tài liệu thương mại tối mật của Trung Cộng.

Một doanh nhân Úc, Charlotte Chou, đã bị kết án tám năm tù cho tham ô, làm cho cô trở thành công dân Úc thứ ba chỉ trong vòng hai năm, sau khi Matthew Ng và Stern Hu, bị kết án dài thời gian làm việc ở trong tù ở Trung Quốc. Tất cả các trường hợp đã thu hút mối quan tâm về sự công bằng về thủ tục.

Vào thời gian gần đây, khi Trung Cộng tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và hải giới hình lưỡi bò trong vùng biển Đông Hải, đã gây ra sự căm phẫn và chống đối của những quốc gia trong vùng. Khi nghe tin Úc ký hiệp ước quân sự đồng ý cho 2500 lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa kỳ được phép đóng trại và tập luyện tại Darwin, làm cho Trung Cộng nghĩ rằng Úc và Hoa kỳ đã cùng nhau tạo áp lực quân sự lên Trung Cộng, nên chính quyền Cộng sản nước này mới phản đối sự hiện diện của quân đội Hoa kỳ và chính sách “kỳ thị” của Úc với Trung Cộng.

BOB CARR LÀ AI?

Bob Carr chụp hình chung với Phó Thủ Tướng Trung CộngLý Khắc Cường(Li Keqiang),

Robert John Bob Carr thành danh là nhờ đã giữ chức Thủ Hiến của Tiểu bang New South Wales liên tiếp từ tháng Tư năm 1995 tới tháng 8 năm 2005.

Do sự từ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao của ông Kevin Rudd, vào ngày 02 03 2012, Thủ tướng Julia Gillard đã mời ông Carr vào chính trường Liên bang, bổ nhiệm ông làm Thượng Nghị Sĩ và Bộ Trưởng Ngoại Giao.

Vừa nhậm chức được vài ngày, vào ngày 15 03 2012, ông Carr đã lên tiếng chỉ trích chính quyền đảo Papua New Guinea đã chậm trễ trong việc tổ chức bầu cử ở quốc gia này, và đe dọa rằng ông sẽ kêu gọi thế giới tẩy chay và cô lập nước này. Không những bị xứ Papua phản đối, mà còn bị ngay cả đảng đối lập và đảng Lao động phản đối về lời tuyên bố không có trách nhiệm này, vào ngày 17 03 2012, ông Carr đã xin lỗi và tuyên bố lại rằng Úc sẽ giúp Papua New Guinea tổ chức bầu cử càng sớm càng tốt.

BOB CARR ĐÃ PHẢN ỨNG RA SAO VỚI NHỮNG CHỈ TRÍCH CỦA TRUNG CỘNG?

Rút kinh nghiệm qua lần tuyên bố trước, lần này, ông Carr có vẻ thận trọng hơn. Ông bỏ qua lời chỉ trích của Sông Tiểu Quân và đã cho giới lãnh đạo của Trung Cộng biết rằng, đâu phải Úc chỉ giao thiệp trên bình diện quân sự với Mỹ mà thôi, Úc còn giao tiếp quân sự với Trung Cộng nhiều hơn thế, qua một cuộc thao diễn Hải quân hỗn hợp giữa Úc và Trung Cộng mới vài tháng trước đây tại vùng biển Thái Bình Dương, không những thế, Úc còn có những cuộc hội thảo về quân sự trên cấp bậc Tư lệnh Quân Sự giữa hai quốc gia nữa, và kỳ họp quân sự tới sẽ được tổ chức vào cuối năm nay tại Bắc Kinh.

Để phản công lại, ông Carr đã chỉ trích trên báo chí Trung Cộng về những vấn đề liên quan đến Tây Tạng và người dân nước này sau khi một loạt vụ tự thiêu xảy ra ở đây vào đầu năm nay.

Thượng nghị sĩ Carr cho biết ông sẽ nêu vấn đề nhân quyền, nhưng
đó không phải là "then chốt" của buổi họp.

CÓ KHI NÀO ÚC PHẢI THẦN PHỤC TRUNG CỘNG HAY KHÔNG?

Xét về quân sự, Trung Cộng tuy có một quân đội đông đảo, nhưng ít khi hoặc hiếm khi nào tham gia chiến trận, nên khả năng tác chiến sẽ rất là hạn hẹp. Chiến tranh trong thời đại này dùng nhiều đến Không quân để oanh tạc và Hải quân để đổ quân. Với Đài Loan ở ngay sát nách, chưa chắc máy bay Trung Cộng có đủ khả năng xâm nhập vùng trời nước này một cách bất ngờ, huống chi bay đến xứ Úc xa xôi này? Việc tập trung đông đảo quân lực ở vùng bờ biển càng dễ bị khám phá hơn nữa, không cách gì mà Trung Cộng đe dọa Úc về mặt quân sự được.

Nước Úc, tuy dân số ít ỏi, binh lính không bao nhiêu, nhưng đa số đều có tham dự những trận chiến trên thế giới cùng với các quốc gia đồng minh, nên kinh nghiệm chiến đấu rất nhiều. Hơn nữa, vũ khí và số lượng máy bay, tầu chiến của Úc rất tối tân và đông đảo, sẽ phòng thủ đất nước rất hữu hiệu.

Thêm vào đó, giữa Úc, Hoa Kỳ và Tân Tây Lan có một hiệp ước phòng thủ chung, gọi là ANZUS (The Australia, New Zealand and United States Security Treaty), chắc chắn Hoa kỳ sẽ phản ứng ngay khi biết tin có cuộc tấn công vào Úc. Máy bay và tầu chiến Trung Cộng chưa ra khỏi không phận và hải phận đã bị tiêu diệt rồi, nói chi tới việc tiến tới không phận hải phận của Úc.

Nói về địa thế, xứ Úc xa xôi quá, đi biết chừng nào mới tói? Giả dụ lính Trung Cộng có tới được nước Úc, dân Úc sẽ có dư đất để rút đi mang theo lương thực, làm sao lính Trung Cộng có nước để uống, có bánh mì mà ăn?

Nói về kinh tế và tài chánh, Úc không phải là một quốc gia Nghèo để Trung Cộng có thể dùng tiền để mua chuộc hoặc chèn ép nền kinh tế. Nếu chiến tranh kéo dài, Úc vẫn dư sức tự lực cánh sinh.

Tóm lại, chó sủa mặc chó, dân Úc không phải quan tâm đến Trung Cộng mà chi, càng không quan tâm tới những lời nói hỗn xược đầy kiêu ngạo của một tướng quân bị thất xủng như Sông Tiểu Quân.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

HÀO KHÍ NHÂN VĂN GIAI PHẨM ......

 

HÀO KHÍ NHÂN VĂN GIAI PHẨM

Ngô Nhân Dụng

Kính thưa quý vị,

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,

Chuyện chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam. Một đám công an ở Nha Trang đánh đá, tra tấn một phụ nữ làm công. Chỉ vì bà này bị người chủ nhân giàu có nghi ngờ và tố cáo bà lấy trộm tiền.

Nạn nhân là bà Trần Thị Lan bị “đánh đá bằng cả tay chân, bằng dùi cui và cả bằng roi điện suốt ba ngày, mang thương tích khắp người,” phải điều trị hàng tuần lễ trong bệnh viện.

Trong thế giới văn minh cảnh sát công an không phải là những người quyết định ai có tội hay không có tội. Vì phán xét này thuộc thẩm quyền của tòa án, là ngành tư pháp. Trong thế giới văn minh nếu có một người bị kết tội ăn cắp thì cũng chỉ bị phạt tù hay phạt tiền; không ai “trừng phạt” một người ăn trộm món tiền trị giá “hơn một ngàn đô la” bằng dùi cui, roi điện. Mà nếu có ai bị tòa kết án thì việc trừng phạt không phải là nhiệm vụ của công an. Chỉ dựa vào lời tố của chủ nhân mà đánh đấm dã man một người lao động làm công, đám công an này chứng tỏ họ sẵn sàng làm tay sai cho những người giàu sang, và khinh rẻ người lao động nghèo khó, coi như súc vật. Ðánh đấm người ta đến bầm tím là hành động của côn đồ, du đãng, người có tư cách không ai làm. Năm thằng đàn ông xúm lại đánh đấm một phụ nữ tay không là hành vi hèn hạ đáng xấu hổ. Ðám công an Nha Trang này vừa vi phạm luật pháp, vừa làm trái với đạo lý sơ đẳng của loài người, vừa làm cho chính họ nhục nhã.

Với tất cả các thành tích như thế, đại úy công an Trần Bá Tuấn vừa được tòa phúc thẩm tha bổng, xóa bỏ bản án 9 tháng tù treo.

Chuyện này chỉ có thể xảy ra dưới chế độ cộng sản. Bởi vì chế độ cộng sản từ bản chất vẫn công nhiên trà đạp trên các nguyên tắc sơ đẳng của pháp luật, vẫn quen thói bất chấp đạo lý làm người. Chắc Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an Nha Trang cũng không nghĩ là họ phạm pháp. Họ chỉ làm theo thói quen, như lối các lãnh tụ cộng sản vẫn làm kể từ khi cướp chính quyền ở nước ta. Thái độ và hành vi “bất chấp pháp luật” đã được Hồ Chí Minh, Trường Chinh đặt thành khuôn mẫu ngay từ thời họ phát động Cải cách Ruộng đất, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Vụ cướp ruộng, cướp nhà “long trời lở đất” này đã giết oan hàng trăm ngàn người dân Việt Nam, trong đó có những người đã đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau thời gian xảy ra vụ này, những nhà trí thức Việt Nam đã cảnh cáo tình trạng bất chấp pháp luật của chế độ cộng sản. Sớm nhất, là trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với các ông Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi Trường Chinh ra trước Mặt Trận Tổ Quốc thú nhận các lỗi lầm về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, Luật gia Nguyễn Mạnh Tường đã dõng dạc nêu lên các nguyên tắc của luật pháp để cho ông tổng bí thư đảng cộng sản nghe một bài học. Trong bài thuyết trình lâu 6 giờ đồng hồ, ông nói: “Khi thi hành chính sách này (Cải cách Ruộng đất) người ta đã vi phạm luật pháp.” Vì đảng cộng sản chủ trương “thà giết chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một địa chủ,” trong khi nguyên tắc của pháp lý là “thà bỏ sót 10 người có tội còn hơn là kết tội oan một người”. Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm phê phán các lãnh tụ đảng lúc đó: “Những người lãnh đạo có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất không thể chỉ đứng ra xin lỗi, nhận đảng đã sai lầm. Xin lỗi không phải là một hành động của luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được.” Với tư cách một luật gia (ông đã có hai bằng tiến sĩ, luật và văn chương ở Pháp từ năm 1932, lúc 22 tuổi) Nguyễn Mạnh Tường đề nghị phương pháp giải quyết: Quốc Hội phải lập một ủy ban điều tra vụ Cải cách Ruộng đất, rồi đưa ra tòa án; “(T)òa sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng, nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất trở xuống.”

Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, trong cuốn sách mới xuất bản về vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã tinh tế nhận xét rằng các lời lẽ “Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được” và “từ lãnh đạo cao nhất trở xuống” đã tấn công thẳng vào Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ lãnh đạo đảng cộng sản. Vì sau vụ Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh chỉ đứng ra xin lỗi. Hồ cất chức Trường Chinh để chính ông ta kiêm nhiệm chức tổng bí thư, còn Võ Nguyên Giáp thì đọc bản kiểm thảo các sai lầm. Không một lãnh tụ cộng sản nào chịu trách nhiệm pháp lý trong vụ Cải cách Ruộng đất cả! Họ đã tạo ra thói quen “ngồi lên trên pháp luật” làm gương cho các cán bộ, như đại úy công an Trần Bá Tuấn ở Nha Trang bây giờ!

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Ðang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Ðiều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Ðặng Ðình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam. Thật không khác gì bà Trần Thị Lan ở Nha Trang ngày nay. Họ còn cơ cực hơn bà Lan, vì sau đó họ bị tù đày, bị cô lập, cắt hết cả việc làm, nghề nghiệp, không thể nào kiếm cơm gạo nuôi vợ con hàng mấy chục năm trời, nhiều người khốn khổ cho đến lúc chết.

Trên báo Giai Phẩm Mùa Thu, Nguyễn Hữu Ðang đã mở cuộc phỏng vấn để các nhà trí thức khác có dịp lên tiếng: Trần Ðức Thảo đòi phải có tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, tự do phê bình; Ðặng Văn Ngữ viết: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?” Ðào Duy Anh kêu gọi giới trí thức phải “đấu tranh” cho tự do, quyết chống lại bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân; Phan Khôi viết “bàn về lãnh đạo văn nghệ” để phê bình toàn thể việc lãnh đạo xã hội.

Cũng can đảm như Nguyễn Mạnh Tường, trong bài trên Phan Khôi dám phơi bày sự thật là triều đình cộng sản cực kỳ phong kiến. Ông nêu thí dụ đám cầm đầu văn nghệ lúc đó đả kích thơ Trần Dần viết hoa chữ “Người” là phạm tội, vì chữ “Người” viết hoa chỉ được dùng để nói đến Hồ Chí Minh thôi. Phan Khôi mỉa mai so sánh cảnh tượng đó không khác gì cảnh một ông quan trong triều đình phong kiến đứng ra tố cáo một ông quan khác đã viết chữ theo kiểu “đài;” lối này chỉ được dùng khi viết đến ông vua mà lại dùng để khi viết về một thường dân!

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chứng tỏ giới trí thức Việt Nam không bao giờ lãng quên trách nhiệm với lịch sử. Ngay từ đầu thời Pháp thuộc các Nho sĩ như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Cao đã bảo vệ tiết tháo sáng ngời. Thế hệ sau có những Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh noi gương họ. Ðọc cuốn sách của Thụy Khuê viết về Nhân Văn Giai Phẩm chúng ta còn được nhắc nhở để không quên thế hệ tiếp nối với những Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Hoàng Ðạo, Phan Khôi. Tác phẩm vẽ ra hình ảnh sôi nổi của những Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Cung, các kẻ sĩ giữa thế kỷ 20.

Người trí thức Việt Nam không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là tranh đấu cho tự do và cho sự thật. Trong báo Nhân Văn, Trần Ðức Thảo viết “Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở.” Người trí thức phải đỏi hỏi các quyền tự do được phát triển (mở rộng) vì đó là “nhiệm vụ số một của mình cũng như của toàn dân”.

Các thế hệ thanh niên Việt Nam, nhất là các nhà văn, nhà báo bây giờ và trong hàng trăm năm nữa vẫn có thể cảm thông với bầu máu nóng của Trần Dần khi ông viết: “Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực... Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết... Nếu như sự thực ngược lại chính sách, chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thật vào (cho đúng) chính sách!” Trần Dần đã viết những hàng trên trong bản dự thảo để trình bày trước một hội nghị giới văn nghệ trong quân đội năm 1955. Tất nhiên bản dự thảo đó không bao giờ được công bố, nhưng nó cho thấy Trần Dần đúng là một chiến sĩ. Lê Ðạt đã dùng những câu thơ để lên án chế độ độc tài chuyên chế: “Ðem bục công an máy móc đặt giữa tim người - Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước!” Ngày nay không thấy người cầm bút nào trong quân đội bầy tỏ được sĩ khí rực rỡ như vậy.

Ngày nay không phải chỉ trong giới viết văn làm báo mà ngay cả giới thanh niên ở Việt Nam đa số vẫn cúi đầu khúm núm đi “theo lề đường” do đảng cộng sản chỉ định. Người ta đăng những bản tin công an đánh người, công an giết người vô tội vạ, mà không gây nên một nỗi phẫn uất nào trong công chúng đô thị! Một vụ Ðoàn Văn Vươn đã đưa tới những vụ Văn Giang, Vụ Bản, dấy lên ở khắp các vùng nông thôn đau khổ. Nhưng thanh niên thành phố còn mê man đi ôm hôn ghế ngồi của các ca sĩ thần tượng ngoại quốc! Người thành thị chạy theo lôi sống xa hoa và sa đọa của bọn nhiều quyền và nhiều tiền, đã quên mất đồng bào nông dân cũng là bà con ruột thịt của mình đang khốn khổ! Cuộc sống đô thị đưa tới cảnh đồi trụy tinh thần! Nếu ở một quốc gia dân chủ tự do thì sau khi Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an hành hung một chị làm công Trần Thị Lan tàn nhẫn như thế chỉ vì chị bị chủ nhân giàu có nghi ngờ, thì thanh niên, sinh viên, học sinh ở Nha Trang đã xuống đường phản đối nhiều lần rồi! Trí thức đâu cả rồi? Sĩ khí đâu mất rồi?

Thanh niên Việt Nam ngày nay cần đọc lại những vần thơ như Lê Ðạt viết. Ông diễn tả khát vọng của tuổi trẻ thời 1955, lời thơ nay đọc lại vẫn còn làm náo nức lòng người: “Phải quét sạch mây đen / cho khung trời rộng mở - Chặt hết gông xiềng / cho những cánh bay lên - Ngày và đêm / mộng bay đầy cuộc sống - Khát vọng theo khát vọng - Không gì ngăn cản được con người!” Khi đọc lại câu chuyện cuộc tranh đấu “trứng chọi đá” của giới trí thức Việt Nam trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam. Nhìn lại những tấm gương của họ, chúng ta thấy còn hy vọng. Bầu máu nóng của các nhà tranh đấu dân chủ ngày nay đang sôi lên để tiếp nối chí khí bất khuất của Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang. Họ cho phép chúng ta hy vọng hào khí dân tộc sẽ còn sáng mãi.

 

NGÔ NHÂN DỤNG

"TƯ MÃ THIÊN TƯƠNG LAI" CỦA NƯỚC VIỆT

TS Đặng Huy Văn (Danlambao)

http://doichantudo.files.wordpress.com/2012/03/tu-ma-thien-voi-muu-luoc-thuong-truong.jpg

Kính thưa quý vị,

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,

Tôi có một đứa cháu gọi tôi bằng bác, năm nay 18 tuổi. Mẹ cháu là một nhà sử học, một giảng viên đại học môn lịch sử. Đứa cháu của tôi chắc vì đã học sử từ trong bụng mẹ nên từ ngày mới học tiểu học, cháu đã thuộc làu các sự kiện lịch sử của đất nước từ cổ chí kim, nhiều lúc thầy cô giáo quên sự kiện còn phải hỏi cháu. Ai cũng phải thừa nhận cháu là một “thần đồng lịch sử”. Nhưng không hiểu vì sao trong kỳ thi đại học năm ngoái, 2011, môn lịch sử khối C của cháu lại bị “điểm không” vì bài làm của cháu hoàn toàn khác hẳn “Đáp Án môn lịch sử” của Bộ GDĐT. Năm nay, cháu lại quyết tâm thi ngành sử một lần nữa, “nếu vẫn trượt thì cháu sẽ ra nước ngoài du học ngành sử học ở một trường đại học danh tiếng ở Âu Châu, bác ạ!” cháu thật thà tâm sự.

 

Nhưng tôi thích cháu được học Lịch Sử Việt Nam ở ngay trong nước mình, giữa cái nôi lịch sử máu xương của cha ông, nên tôi đã viết bài này tặng cháu, xin trân trọng sẻ chia cùng quí vị.

 


“Tư Mã Thiên tương lai” của nước Việt

 

(Mến tặng cháu yêu nhân mùa thi đại học)

 

Năm ngoái khi thi vào đại học

Nghe nói cháu yêu môn sử đạt “điểm không”(1)

Sao có mẹ là một giảng viên dạy sử

Mà cháu lại trượt ngay môn học của cha ông?

 

Mấy ngàn người “điểm 0” chứ đâu riêng mình cháu

Nhưng những bạn kia là con cháu của công nông

Không như cháu đã thấm sử sách từ lời ru của mẹ

Mới học đến lớp 5 cháu đã được coi là một thần đồng!

 

Vì lịch sử của cha ông cháu đã thuộc lòng từ nhỏ

Thục Phán An Dương Vương nối 18 Vua Hùng

Đến năm 938, Ngô Quyền từ Đường Lâm cổ ấp

Đã giành lại độc lập cho nước nhà sau 10 thế kỷ nô vong

 

Rồi Việt Nam trải Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn...

Quân dân Nhà Trần ba lần thắng Nguyên Mông

Lê Thái Tổ phá Chi Lăng khiến quân Minh kinh hãi

Trận Đống Đa làm giặc Tàu đau khiếp vía Quang Trung!

 

Cháu còn biết tường tận cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn

Và các đời Chúa có công khai mở đất Đàng Trong

Dựng triều Nguyễn Gia Long lo chấn hưng đất nước

Và biết rõ vì sao “kẻ kia” cố đặt điều để phủ nhận Gia Long!

 

Sao Bộ GD không cho học sinh được học theo Chính Sử?

Mà bắt học Sử Nước Nhà qua một học thuyết viễn vông

Từng khuynh đảo Giang Sơn trải biết bao thế hệ

Hỏi ở cái nôi của nó giờ đây còn ai thờ phụng nữa hay không?

 

Cháu bị môn sử “điểm 0” là đã “con hơn mẹ”

Vì đã biết nhận chân đâu là Chính Sử của cha ông

Đã từ chối ngợi ca những kẻ ác nhân của lịch sử

Biết ghi ơn những anh hùng vì Tổ Quốc non sông!

 

Bác ao ước mai sau cháu sẽ trở thành nhà sử học

Như sử gia Tư Mã Thiên thời Tây Hán nước Trung(2)

Lịch sử sắp sang trang và cháu phải là người ghi lại

Chính Sử 4 ngàn năm để lại tự cha ông!

 

Không thể xem kẻ đập phá đình chùa là “nhà văn hóa lớn”

Xem Gia Long là vua “cõng rắn cắn gà nhà”!

Xem nhà Chí Sĩ đưa nền kinh tế thị trường đầy đủ

vào Việt Nam bằng con đường nhà nước(3)

Là kẻ Việt gian, bán nước, phản Quốc Gia!

 

Không được coi một phần Biển Đông là vùng lãnh hải

Của kẻ thù truyền kiếp truyền đời của dân tộc chúng ta!

Và lên án kẻ đã lặng câm khi những chiến binh kêu cứu(4)

Thuở giặc Tàu ngang nhiên sang cưỡng chiếm Hoàng Sa!

 

Ơi cháu yêu, mùa thi này phải cố lên lần nữa nhé!

Để giữ lấy những trang vàng Chính Sử của ông cha

Nếu lại bị “điểm không” thì đành phải ra nước ngoài du học

Để trở thành “Tư Mã Thiên tương lai” về chép Sử Nước Nhà!

 

Hà Nội, 25/5/2012

 

TS Đặng Huy Văn

 

 

 

 

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link