Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, September 22, 2012

Mỹ Chuẩn Bị Chiến Tranh Đề Phòng Trung Cộng




Mỹ Chuẩn Bị Chiến Tranh Đề Phòng Trung Cộng

(09/22/2012)

Tác giả : Vi Anh

Làm hùm làm hổ, lấy thịt định đè người, ỷ cả vú lấp miệng em đối với các nước nhỏ ở Á châu Thái Bình Dương, CS Bắc Kinh quên một điều của túi khôn bình dân ngàn đời của người Trung Hoa đã dạy, “mãnh hổ nan địch quần hồ”. Và CS Bắc Kinh cũng quên lời dặn dò của Ô. Đặng tiểu Bình, người đã cứu sống CS Trung Quốc sau khi chủ nghĩa CS thất bại thể thảm ở Đông Âu và Liên xô. Ông Bình dặn rằng phải tỏ ra âm thầm trong chánh trị ngoại giao và quân sự hải ngoại để tăng gia kinh tế.

Thế mà cái bịnh kinh niên Thiên Triều và cơn say nước lớn của các “ông trời con” ở Bắc Kinh đùng đùng nổi dậy, khi tiến lên hàng siêu cường kinh tế số hai trên thế giới. Họ cho quậy đụt nước biển đảo của các nước A châu Thái Bình Dương.

Ngoại Trưởng Dương khiết Trì của TC trong một cuộc quốc tế bỏ phòng họp ra ngoài, chỉ vào mặt các ngoại trưởng các nước của ASEAN bị TC lấn đảo chiếm biển, cảnh cáo đừng quên Trung Quốc là một nước lớn.

Kiểu ăn nói trịch thượng thể hiện thái độ hành động bá quyền, bành trứơng cố hữu của quân Tàu coi những nước lân bang là man di mọi rợ. Kiểu ăn nói theo kiểu “thiên triều đó” đã đẩy các nước Á châu Thái Bình Dương vào vòng tay Mỹ. Cái kiểu suy nghĩ và hành động “lớn xác hơn lớn đầu” đó đã vô tình giúp cho Mỹ có thêm thế lực đa quốc gia để bao vây chánh trị, quân sự và kinh tế vơi hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương của Mỹ thành lập, loại TC ra ngoài, khi TC rõ rệt đã trở thành đối thủ đáng gờm của Mỹ.

Chưa đã nư hống hách, say sưa thiên triều CS Bắc Kinh còn tung hàng chục ngàn tàu hải giám, tàu xưởng, tàu đánh cá vào Biển Đông của VN và Biển Tây của Phi luật tân. Và mới đây CS Bắc Kinh tung hàng ngàn tàu vào Biển của Nhựt khi Nhựt sắp hoàn tất thủ tục mua từ tư nhân Nhựt ba hòn đảo Senkhaku để quốc hữu hoá đảo và biễn này hầu thêm lý do vũng chắc để bảo vệ trước sự xâm lấn của TC.

Chưa đã nư khi tràn ngập, chạy đục nước biển Nhựt, TC còn khai thác tinh thần đại Hán, xúi dân Trung Quốc biểu tình bài Nhựt khắp các thành phố lớn của TQ. Tình hình Trung Nhựt căng thẳng đến nổi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ phải bay sang Tokyo và Bắc Kinh, lên tiếng can gián, yêu cầu tư chế, không để tình hình vượt ngoài vòng kiểm soát có thể đưa đến xung đột võ trang. Tại Bắc Kinh Ông tham dự các cuộc họp với Bộ QP/TC nhằm giảm bớt sự nghi ngại của Trung Quốc, về ý định của Hoa Kỳ nhằm chuyển đổi trọng tâm hoạt động của quân đội sang vùng Thái Bình Dương.

Nhưng nói thì nói theo kiểu ngoại giao để giành chánh nghĩa như vây, chớ Mỹ rất thực dụng, muốn có hoà bình, muốn củng cố hoà bình là phải chuẩn bị chiến tranh với anh TC lớn xác mà nhỏ đầu này.

Bộ Quốc Phòng Mỹ đang lên kế hoạch thiết lập một hệ thống lá chắn tên lửa mới ở châu Á được cho là để đối phó với những mối đe dọa từ Triều Tiên cũng như các khả năng tên lửa mới của TC. Mỹ và Nhật đang thảo luận việc bố trí thêm một dàn radar báo động từ xa trên một hòn đảo ở phía Nam Nhật và một dàn khác có thể một nước ở Đông Nam Á liên kết với các tàu phóng thủ tên lửa và hệ thống đánh chặn trên đất liền.

Bộ quốc phòng Mỹ ủy thác cho Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc Tế (CSIS), CSIS kết luận với khuyến cáo Hoa Kỳ cần chuẩn bị cho một cuộc xung đột tiềm tàng với Trung Quốc. Ủy ban Vũ trang Hạ viện Mỹ mời CSIS ra điều trần. Bản báo cáo nhấn mạnh Hoa Kỳ và các đồng minh và đối tác hiện đang phải đối mặt, chính là việc sức mạnh và ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc.

Báo cáo khuyến cáo cần lập căn cứ thường trực cho một phi đội máy bay ném bom tại Guam cũng như xúc tiến các máy bay do thám có người lái và không người lái tại khu vực. Hơn nữa, bản báo cáo còn khuyến nghị việc Mỹ tăng cường hiện diện quân đội tại đây, bao gồm cả việc đồn trú thêm 2.500 lính thủy đánh bộ tại Australia.

Kết quá nghiên cứu có tính lý thuyết, quan niệm chiến lược hẵn những nhà làm chánh sách chánh trị, quân sự Mỹ đã có từ lâu, bây giờ mới cho công chúng biết khi mà việc chuyển trục quân sự Mỹ sang Thái Bình Dương Mỹ đã làm gần xong rồi. Mục tiêu không nói ra nhưng ai cũng phải thấy Mỹ bao vây TC chẳng những trên phươg diện quân sự mà trên kinh tế nữa.

Ý thức hệ cho quân nhân, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Panetta trong một buổi lễ long trọng 1099 sĩ quan hải quân tốt nghiệp ra trường Học Viện Hải Quân ở thành phố Annapolis, tiểu bang Maryland, tuyên bố trong bài diễn văn rằng,“Quân đội của TQ đang bành trướng và hiện đại hóa. Chúng ta phải đề cao cảnh giác. Chúng ta phải mạnh. Chúng ta phải sẵn sàng đối phó với mọi thách thức."

Và sau đó tại diễn đàn thường niên về an ninh Châu Á, còn gọi là Đối thoại Shangri-La ở Singapore Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố “từ nay cho đến 2020, hải quân sẽ tái phối trí lực lượng từ tỷ lệ khỏang 50%-50% hiện thời giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương sang 60%-40% ưu tiên cho Thái Bình Dương – kể cả sáu hàng không mẫu hạm cũng như đa số tàu chiến và tàu lặn của chúng tôi.”

Ít ai ngờ, trong chuyền công du đầu tiên sang VN, từ hội nghị Shangri-La ở Singapore TT /QP Mỹ đến thăm Vịnh Cam Ranh. Đó là một căn cứ hải quân trọng yếu trong thời Chiến Tranh VN, không phải cho quân lực Mỹ ở VN mà cho tòan vùng Đông Nam Á của Mỹ.

Tháng Tư năm 2012, Bộ Quốc Phòng Mỹ lập một cơ quan tình báo mới chuyên trách chánh yếu về Trung Cộng. Đó là cơ quan tình báo mật của quân đội Mỹ (Defense clandestine service, DCS). Cơ quan này kết hợp làm việc với CIA với nhiệm vụ như gián điệp.

Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Mỹ cũng đã tái phối trí Thủy Quân Lục Chiến ở Á châu để đáp ứng nhu cầu chiến lược, chiến thuật mới, mà mục tiêu là tấn công và phòng ngự TC. Điều 9000 Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa qua Guam 5000 người, qua Úc 2500 người và qua Hawai khỏang vài ngàn để làm lực lượng tiếp ứng, giữ lại tại Okinawa 10 000 người .

Mỗi nơi phụ trách một vùng chiến thuật ở Á châu Thái bình dương, xung quanh TC. Các đơn vị Thủy quân lục chiến đồn trú tại Okinawa sẽ phụ trách khu vực bán đảo Triều Tiên và biển Hoa Đông; lực lượng ở Guam, vùng Tây Thái Bình Dương;lực lượng ở Darwin, miền Bắc Úc khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương và Thủy quân lục chiến đặt ở Hawaii, trừ bị,tiếp ứng.

Trước khi điều động thủy quân lục chiến ở Okinawa, Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm, Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu đã điều về vùng Á châu Thái bình dương 6 chiếc, đa số được dùng vào lực lượng tấn công. Và Bộ Trưởng QP Mỹ có tuyên bố sau đó tại hội nghị Shangri- la.

Mỹ cũng đã được sự đồng ý của Úc cho phép hàng không mẫu hạm, các tàu lặn nguyên tử Mỹ ghé thành phố Perth phía tây của Úc để tiếp tế, nghỉ ngơi, như một căn cứ an tòan hải ngọai của Mỹ.

Úc cũng đồng ý cho Mỹ sữ dụng quần đảo Cocos, một nhóm đảo san hô của Úc nằm trong Ấn Độ Dương và ở phía tây bắc của Australia, làm nơi xuất phát cho các máy bay dọ thám không người lái của Mỹ. Theo tin của AFP, quần đảo Cocos của Úc sẽ thay thế cho căn cứ Diego Garcia của Mỹ tại Ấn Độ Dương. Chính Đại sứ Mỹ tại Úc Jeffrey Bleich nhận định là từ căn cứ Darwin ở miền Bắc nước Úc, có thể đi thẳng ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đông Timor và tất cả các tuyến đường thương mại xung quanh. Điều này tạo một lợi thế mạnh và lớn cho Mỹ trên Thái bình Dương. Mỹ có thể dễ dàng tung quân ra xa một cách nhanh chóng.

Mỹ bao vây kinh tế TC. Tổ chức do Mỹ chủ động danh xưng là Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương tên tiềng Anh là Trans-Pacific Partnership, TPP họp lần thứ 13 ở San Diego, thành phố cảng quân sự Á châu của Mỹ, đạt nhiều “tiến bộ quan trọng' trong các lãnh vực quan yếu: quan thuế, các dịch vụ xuyên biên giới, viễn thông, và chi tiêu của chính phủ. Kỳ họp tới Nhựt chắn chắn gia nhập và Canada cùng Mexico dư định tham gia. Bên cạnh Hoa Kỳ, nhóm Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương bây giờ gồm có: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Việt Nam là nước duy nhứt theo chế độ CS là thành viên của TPP. Trung Cộng hòan tòan không có mặt, bị gạt ra ngoài.


  

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Hệ Thống Hạ Tầng Cơ Sở Ở Mỹ Suy Yếu Trầm Trọng


 

 

Hệ Thống Hạ Tầng Cơ Sở Ở Mỹ Suy Yếu Trầm Trọng

 

ĐỌC NEWSWEEK

· David Cay Johnston, người ký giả từng được giải Pulitzer, hiện đang là giáo sư dạy tại trường Syracuse University, vừa cho xuất bản tác phẩm “The Fine Print” tiên đoán về sự sụp đổ của hệ thống hạ tầng cơ sở của Mỹ. Sự sụp đổ đó sẽ đưa đến nguy cơ có những cuộc khủng hoảng lớn như cúp điện, cầu gẫy, xa lộ sập lỗ, đập nước vỡ, và nhiều hậu quả dây chuyền khác. Chúng tôi xin tóm lược ý chính trong tác phẩm này.

Trận bão Isaac vừa tấn công vào vùng Vịnh Mễ Tây Cơ, đánh dấu kỷ niệm bảy năm ngày trận bão Katrina tàn phá thành phố New Orleans. Nó cũng nhắc nhở cho chúng ta thấy hệ thống hạ tầng cơ sở quan trọng đến mức nào, bất kể tình hình kinh tế đang thịnh vượng hay suy thoái.

Lần này, con đê ngăn nước không bị vỡ, nhờ chúng ta đầu tư $14.5 tỉ đô la bằng ngân sách chính phủ liên bang, xây con đê mới sau thảm hoạ năm 2005. Trong nhiều thập niên qua, người Mỹ đã quá bủn xỉn, không chịu bỏ tiền đầu tư vào những “vật dụng cần thiết” cho ích lợi chung, khiến cho dân chúng sống trong sự nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và làm suy yếu nền kinh tế. Hiện nay hạ tầng cơ sở của ta có những cây cầu rỉ sét, những đoạn đường bị gẫy sập bất ngờ, những con đập ngăn nước rất yếu, vì quá cũ, và hệ thống bồn chứa nước rò rỉ vì thiếu bảo trì. Năm 2007, một cây cầu của xa lộ liên tiểu bang ở Minneapolis bị sập, làm cho 13 người chết, vết nứt của đoạn đường này làm cho cây cầu Sherman Minton, nối liền Indiana và Kentucky phải đóng lại. (Cây cầu vừa được mở lại hồi tháng Hai năm nay). Nói chung, tình trạng nguy hiểm được ghi nhận ở khắp mọi nơi, ngay quanh chúng ta.

Ngay cả những cơ cấu hạ tầng cơ sở do công ty lớn làm chủ cũng ở tình trạng cũ kỹ, già yếu, cần phải thay thế, chẳng hạn như những ống dẫn dầu, ống dẫn hơi đốt thiên nhiên, cột điện. Tất cả đều đã quá thời hạn chịu đựng, cần phải được thay thế, hay bảo trì. Hệ thống viễn thông không còn bén nhậy, đáng tin cậy, như cách đây hai thập niên, mặc dù khách hàng phải trả hơn năm trăm tỉ đô la để hiện đại hoá hệ thống này.

Hiệp Hội Kỹ Sư Cầu Cống cho hệ thống hạ tầng cơ sở của Mỹ điểm “D”, tức là điểm kém, dưới mức trung bình. Hiệp hội đề nghị cần phải bỏ ra khoảng $2.2 trillìon đô la (hơn hai ngàn tỉ) để sửa chữa và tu bổ.

Biến cố hồi tháng Bảy vừa qua làm cho chúng ta phải lo ngại về sự thiếu sót đáng trách này. Nạn cúp điện toàn bộ vì quá tải – electric grid lock - xảy ra ở Ân Độ xảy ra hai lần cho thấy sự tai hại lớn như thế nào khi hệ thống cung cấp điện ngưng hoạt động. Hơn một nửa dân số Ấn Độ không có điện dùng. Hệ thống bơm nước cho dân thành phố Tân Dehli bị đóng. Hơn 300 chuyến xe lửa ngưng chạy, bỏ rơi hàng ngàn hành khách ngồi chờ trong cái nóng như thiêu đốt. Rất nhiều người kẹt cứng trong thang máy bị ngưng chạy nửa chừng, và hơn 200 thợ mỏ bị nằm kẹt sâu trong lòng đất. Những người giầu có, thường sử dụng máy điều hoà không khí nay phải tắm hơi vì cúp điện.

Vụ cúp điện ở Ấn độ ảnh hưởng đến 670 triệu dân Ấn, tức là cứ 10 người sống trên trái đất thì có một người bị ảnh hưởng. Nhưng tin tức về vụ cúp điện chỉ gợi trí tò mò một chút, rồi thôi, ít có ai để ý đến tin này. Những gì xảy ra ở Ấn độ cũng có thể xảy ra tại Hoa Kỳ. Bởi vì hệ thống cung cấp điện lực của Mỹ cũ kỹ đến mức nguy hiểm.

Chúng ta vẫn chưa quên vụ cúp điện cách đây chín năm, ảnh hưởng toàn vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, và một phần Canada. Kinh nghiệm vụ 9/11 vẫn còn rõ trong trí nhớ. Thử hỏi cư dân khu Manhattan sẽ xử trí ra sao nếu lỡ bị khủng bố tấn công một lần nữa. Họ sẽ phải mò mẫm trong bóng tối trong những toà nhà chọc trời. Nhưng kỳ này nếu xảy ra, mức thiệt hại có thể lên đến $6 tỉ đô la, làm chết sáu người, và do bọn khủng bố ở trong nước gây ra.

Nạn cúp điện qui mô có thể sẽ xảy ra nhiều lần, bởi vì hàng trăm hệ thống cung cấp điện đều trực thuộc ba mạng lưới phân phối điện lớn nhất: Đông, Tây và Texas. Hiện nay, ba mạng cung cấp điện lớn này đã cũ lắm rồi, dễ bị hư hỏng, ngưng họat động như vụ cúp điện qui mô hồi năm 2003.

Ngoài ra, chúng ta không nên quên rằng một số công ty độc quyền cung cấp điện cho hai phần ba nước Mỹ vừa sa thải hàng chục ngàn công nhân phụ trách bảo trì mạng lưới cung cấp điện.

Dưới danh nghĩa đề cao việc dẹp bỏ những luật lệ phức tạp cho doanh nghiệp, các công ty độc quyền cung cấp điện, nước sạch để dùng, xăng dầu, hơi đốt thiên nhiên, và internet hô hào nên giải tư hệ thống hạ tầng cơ sở. Hệ thống này là sự sống còn của đời sống hiện đại, và là huyết mạch của nền kinh tế. Thay vì phải bỏ thêm tiền đầu tư, những công ty độc quyền lại cắt giảm thật nhiều ngân khoản bảo trì. Trong lúc đó, họ kiếm lời khá bộn, tăng 55% so với tích sản công ty, và gấp tám lần các công ty trung bình khác.

Những công ty doanh nghiệp độc quyền, làm chủ hệ thống xe lửa, đập thủy điện, và ống dẫn hơi đốt thiên nhiên có áp suất cao, đã cắt giảm rất nhiều chi phí bảo trì hạ tầng cơ sở. Họ làm cho mạng sống và tài sản của dân chúng Mỹ ở nhiều nơi trong nước ở vào tình trạng rủi ro rất cao. Việc cúp điện, nổ ống dẫn gas,vỡ đập nước, có thể làm cả một thành phố bốc cháy, nổ tung, hay bị nước cuốn trôi đi.

Rủi ro lớn nhất phải nói là tình trạng của những ống dẫn hơi gas. Đó là những ống dẫn có lích thước khoảng 30 inches, được đặt ngầm dưới đất từ thời Tổng Thống Harry Truman. Trong một báo cáo hồi năm 2004, Học Viện Nghiên Cứu Về Công Trình Xây Dựng viết rằng: Một số lớn ống dẫn gas đươc Bộ Giao Thông thanh tra và báo cho biết ống dẫn gas bị rỉ sét, hao mòn đến 70%. Giấy cảnh báo nói rõ công ty chỉ được sử dụng tạm một thời gian, phải thay thế những ống dẫn gas này. Cách đây hai năm một đoạn ống dẫn hơi gas nổ tung ở tỉnh San Bruno, ngoại ô San Francisco, California, giết chết 8 người, và thiêu hủy 38 căn nhà. Ngọn lửa bắn tung lên không trung, cao đến 200 feet, trong lúc công nhân hãng Pacific Gas & Electricity phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới có thể đóng ống dẫn gas, vì kẹt xe. Trong số những người bị chết trong vụ nổ ở San Bruno, có bà Jacqueline Greig, một nhân viên thuộc Ủy Ban Tiện Ích Công Cộng. Bà có trách nhiệm thanh tra những ồng dẫn hơi gas. Bà không ngờ rằng ở ngay gần nhà bà có đường ống dẫn ga đặt dưới lòng đất cách đây hơn 50 năm, lại có mối hàn bị nứt.

Trước đó khoảng 10 năm, một vụ nổ ống dẫn gas khác xảy ra ở vùng sa mạc của tiểu bang New Mexico, khiến cư dân ở cách đó 20 dậm còn nghe thấy tiếng nổ. Lính cứu hoả đến nơi gặp phải ngọn đuốc khổng lồ đang rực cháy sáng. Ống dẫn hơi gas đưa hơi đốt từ nam California sang. Gần một tiếng đồng hồ sau, người ta mới khoá được ống dẫn gas ở El Paso. Khi đó chỉ còn nghe tiếng khóc than thảm thiết của nạn nhân. Chạy xuôi xuống dòng sông Pecos River, lính cứu hoả tìm được sáu người còn sống sót, trong một gia đình 12 người bị thiêu cháy. Một người bị phỏng nặng quá, xin được bắn cho chết để bớt đau. Sau đó, tất cả những nạn nhân đều chết vì phỏng nặng.

Vụ nổ ống dẫn gas ở New Mexico lẽ ra là một lời cảnh cáo gay gắt cho chúng ta thấy sự nguy hiểm của hạ tầng cơ sở cũ nát. Nhưng nó chỉ xuất hiện ngắn ngủi trên bản tin hàng ngày, với lời kết luận là gia đình bất hạnh đã có mặt vào giờ không may, đúng ngay lúc ống dẫn gas nổ. Chỉ vài ngày sau, người ta xoay qua chú ý đến tin tức vì sao giá điện ở California tăng lên rất cao. Lý do là vì thiếu loại xăng đặc biệt dùng cho máy chế tạo điện năng, thoả đáp nhu cầu dùng điện gia tăng trong mùa nóng.

Mới cách đó một năm, chúng ta suýt mất cả thành phố Bellingham, tiểu bang Washington. Một ống dẫn dầu của công ty Shell, chạy ngầm dưới vùng duyên hải Miền Tây. Một đoạn ống dẫn dầu này bị vỡ, làm cho xăng lan tràn ra ngoài, chảy vào con sông nhỏ Whatcom Falls Creek. Con sông đó lại chạy ngang qua khu chung cư của người cao niên cư ngụ, và gần đó có một nhà tù. Nếu không phát giác kịp vết dầu loang này, có lẽ hàng ngàn người đã phải bỏ mạng. Tình cờ có hai chú bé tinh nghịch, chơi với bật lửa dùng để hút thuốc, làm xảy ra một vụ nổ, vì xăng pha trong nước bắt lửa. May là vụ nổ này xảy ra cách xa trung tâm thành phố. Ông Thị trưởng Mark Asmundson gọi hai chú bé tinh nghịch Stepehn Tsiorvas và Wade King là “hai vị anh hùng bất đắc dĩ.”.

Cha mẹ của hai em bé này thưa công ty Shell ra toà, và với sự tiếp tay của biện lý toà án liên bang tại điạ phương, họ đã thắng kiện, và được bồi thường $4 triệu đô la để thành lập Qũi Dự Phòng Bảo Vệ An Ninh Ống Dẫn Gas - Pipeline Safety Trust. Qũi này tìm cách đòi hỏi phải cải tổ làm sao cho các ống dẫn gas được an toàn hơn. Năm 2002, Qũi này thuyết phục được Quốc Hội Hoa Kỳ làm ra đạo luật bắt buộc phải thanh tra định kỳ ống dẫn dầu lớn.

Luật này cũng buộc công ty đặt ống dẫn gas, hay xăng dầu dưới lòng đất phải thông báo cho cư dân ở khu vực xung quanh ống dẫn. Tiếc thay, thông báo đó thường gửi chung với giấy báo tính tiền điện nên ít có ai đọc. Một tờ truyền đơn nhiều mầu cũng được gửi đến các hiệu trưởng trường học, hay cơ sở công cộng, ở gần ống dẫn gas. Nhưng không ghi rõ điạ điểm đặt ống gas. Những tài liệu thông báo vô tích sự này do ngành kỹ nghệ dầu khí thảo ra, và họ thuyết phục được Văn Phòng Chính Phủ Liên Bang về An Toàn của Hệ Thống Ống Dẫn Gas chuẩn phê. Trong tài liệu, họ chỉ dùng những chữ cảnh cáo mơ hồ như “khu vực có hậu quả cao”. Tuyệt đối họ không dùng những chữ như “chết”, “nổ tung’, hay “phỏng nặng”.

Chính quyền liên bang chưa hề nghiên cứu xem những tài liệu truyền đơn này có hữu hiệu hay không. Nhớ lại trường hợp nổ ống gas ở San Bruno, ông Thị trưởng Jim Ruane nói với chúng tôi rằng mãi cho đến khi vụ nổ xảy ra hồi năm 2010, nhân viên Sở Chữa Lửa thành phố cũng không hề biết có ống dẫn gas chôn dưới đất. Về sau, thành phố San Bruno còn phát hiện thêm một ống dẫn gas lớn khác, nhân dịp họ báo cho công ty Pacific Gas & Electricity là họ sẽ xây một bin đinh trên khu vực ở gần ống dẫn hơi gas thứ hai này. Gửi đi những tờ truyền đơn chiếu lệ mới chỉ là một cách để ngành kỹ nghệ hơi đốt né tránh không đề cập đến rủi ro bị nổ ống gas.

Theo cuộc nghiên cứu của ngành kỹ nghệ hơi đốt thiên nhiên một ống dẫn hơi đốt có đường kính 30 inches, hoạt động với áp lực 1,500 pound khi bị nổ có thể làm chết người cách xa 660 feet. Vụ nổ ống dẫn gas của công ty El Paso Natural Gas ở tiểu bang New Mexico, hoạt động với áp suất chỉ bằng một nửa áp suất kể trên, vậy mà cũng giết chết 12 người cách xa 675 feet.

Một vấn đề đáng sợ có thể xảy ra trong khu thị tứ là các chất thải trên ống cống, xăng dầu do xe hơi thải ra, cộng lại có thể tạo thành những vụ nổ. Ông Vince Dunn, viên chức hàng đầu về an toàn của Sở Cứu Hoả New York lưu ý rằng khi mùa nóng, bất cứ một tai nạn nào gây ra do ống dẫn gas nứt hay vỡ, có thể làm nổ tung, bắn cao lên tới chung cư, hay văn phòng của nhiều bin đinh chọc trời.

Ông Glen Corbett, Chỉ huy trưởng trạm chửa lửa ở New Jersey, dạy lớp học về an toàn chống hỏa hoạn tại trường John Jay College ở khu Manhattan, kể lại rằng hồi xảy ra vụ nổ đường dẫn hơi gas của công ty Edison ở New Jersey, lính chửa lửa phải đóng ống van dẫn hơi gas bằng tay. Họ phải xoay đủ 600 vòng, mất 6 giờ đồng hồ mới khoá được ống dẫn gas, trong lúc đó ngọn lửa vẫn hừng hực cháy. Ông kết luận rằng việc nổ ống dẫn gas hiếm khi xảy ra, nhưng một khi để nó xảy ra, tổn thất về nhân mạng và cơ sở vật chất sẽ rất lớn.

Khó khăn ở chỗ là chiếu theo luật Pipeline Safety Improvement Act, ký năm 2002, Bộ Giao Thông phải thanh tra những ống dẫn gas nào được tạm miễn, phải tìm cách sửa chữa bảo trì. Nhưng chính phủ không có đủ thanh tra làm việc kiểm soát. Ngoài ra, điạ điểm chôn dấu những ống dẫn gas thường là những điạ điểm cần giữ bí mật để phòng ngừa bọn khủng bố phá hoại.

Thanh tra các ống dẫn gas là trách nhiệm của Bộ Giao Thông. Bà Maureen Knightly, phát ngôn viên của Bộ nói rằng: “An toàn là ưu tiên hàng đầu. Hàng năm Bộ Giao Thông thực hiện từ 800 đến 900 cuộc thanh tra, kiểm điểm lại tất cả hồ sơ về các ống dẫn gas.”. Nhưng ông Carl Weimer, Giám đốc Qũi Pippeline Safety Trust cho rằng việc làm của Bộ Giao Thông là chuyện đuà, đáng diễu cợt. Bởi vì phần lớn họ chỉ thanh tra trên giấy tờ. Bộ Giao Thông làm thủ tục này nặng về giao tế hơn là thực sự đi thanh tra. Người của kỹ nghệ hơi gas và thanh tra đều là bạn bè đồng liêu cũ với nhau. Thành thử việc thanh tra trở thành chuyện đuà, không có thực chất. Hồi năm 1978, cơ quan General Accountability Office –Văn Phòng Kiểm Tra Tính Chất Trung Thực, Minh Bạch - một công cụ của Quốc Hội, phải viết trong báo cáo rằng họ hoài nghi khả năng của các vị thanh tra thuộc Bộ Giao Thông. Những vị thanh tra này bất tài, yếu kém. Thậm chí Viện Nghiên Cứu Dầu Hoả Mỹ, đại diện cho các công ty dầu hoả lớn cũng phải chỉ trích văn phòng phụ trách về tính an toàn của hệ thống dẫn hơi gas trong việc họ viết báo cáo về tai nạn xảy ra.

Ông Jim Hall, khi còn làm Chủ tịch Hội Đồng An Toàn Giao Thông nói với Hiệp Hội Ống Dẫn Xăng Dầu từ 12 năm trước rằng: “Không có người Mỹ nào muốn sử dụng chiếc xe cũ đến 48 năm.”.

Toàn bộ hệ thống kiểm soát tính an toàn của ống dẫn gas hoàn toàn khác hẳn với phương pháp bảo vệ an toàn cho hành khách của kỹ nghệ hàng không. Các hãng máy bay tìm cách tránh những vụ rớt máy bay qua việc kiểm soát máy móc, phân tích và thu thập dữ kiện. Ngành kỹ nghệ ống dẫn dầu, hơi gas làm việc không bằng một phần nhỏ. Vì thế ông Rick Kessler, một tình nguyện viên trong Qũi Bảo Vệ An Toàn Ống Dẫn Dầu, hơi Gas nói rằng: “Nếu kỹ nghệ hàng không làm ăn giống như những qui tắc trong kỹ nghệ dẫn dầu, hơi gas, chắc chẳng bao giờ tôi dám đi máy bay.”.

Luật sư Paul Blackburn chuyên phụ trách những vụ bênh vực quyền lợi công chúng, sử dụng đạo luật Freedom of Information Act, để đòi xem kế hoạch, hoạ đồ, và số điện thoại khẩn cấp để gọi khi cần về những đuờng ống dẫn dầu, hơi gas. Ông buồn bã cho biết: “Họ không cung cấp cho chúng tôi một chút tin tức gì hữu ích cả. Hầu như không có một hồ sơ lưu trữ về các đường ống dẫn dầu, hơi gas.”

Công nhân ngành điện lực, tiện ích công cộng trên toàn quốc nói với chúng tôi rằng họ đang ở tình trạng lâm nguy, có thể mất việc bất cứ lúc nào. Ông Charles D. Rittenhouse, chủ tịch nghiệp đoàn công nhân ngành tiện ích công cộng, chi bộ 98, tiểu bang West Virginia cho biết: “Tất cả các công ty cung cấp gas đều làm ăn dựa trên sự may rủi. Họ chỉ lo cắt giảm công nhân, cắt hoài, cắt mãi. Trong lúc đó lương của Tổng Giám Đốc thì tăng cao ngất trời. Điều lo ngại lớn nhân cho đám công nhân chúng tôi là không có đủ nhân sự để làm công việc bảo trì, tu bổ.”

Thiếu sót trong việc thay thế phụ tùng cần thiết của mấy công ty điện lực cũng khiến cho dân chúng bị vạ lây. Lấy trường hợp vợ chồng ông bà Rita và Ben Weishaar ở Reno, được hàng xóm báo cho biết hộp bảo quản điện thế ở cột điện sau nhà của hai ông bà nóng quá, xẹt lửa. Họ báo cho công ty Nevada Energy về sự việc này. Nhưng công ty bảo với họ đừng lo. Ngay tối khuya hôm đó xảy ra hoả hoạn. Người thợ điện nóí rằng gia đình Weishaar may mắn lắm. Nếu không gọn lửa sẽ lan sang các đám bụi cây khô gần nhà, và thiêu rụi cả căn nhà. Người thợ điện cũng mách cho vợ chồng Weisshaar biết công ty cắt giảm chi phí nhiều quá, nên không chịu chi tiền thay thế những hộp bảo quản điện thế quá cũ. Những cắt giảm này không phải vì công ty điện lực thiếu tiền. Họ kiếm tiền khá lắm, Ủy Ban Tiện Ích cho phép họ tăng tiền điện nhiều hơn, nhanh hơn tỉ lệ lạm phát.

Công ty Pacific Gas & Electricity, công ty chủ quản của ống dẫn gas phát nổ ở San Bruno, tăng giá điện nhiều lần trong mười năm qua. Trong đó có khoản dùng để thay thế 2.3 triệu cột điện, đúng theo chu kỳ 50 năm phải thay một lần. Nhưng thay vì phải thay thế 46,000 cột điện mỗi năm, họ chỉ thay thế có 3,000 cột thôi. Với nhịp độ thay thế quá ít như vậy, phải đợi đến năm 2778, họ mới làm xong việc thay cột điện.

Không chịu thay thế trang bị đúng thời hạn nghe ra có vẻ như là một chiến thuật ngu xuẩn. Không phải vậy đâu! Công ty điện lực đang chơi trò đểu đấy. Họ cứ để cho cột điện gẫy đổ, làm gián đoạn việc cung cấp điện một thời gian. Công chúng phát hoảng. Khi đó, họ mới xin Ủy Ban Tiện Ích Công Cộng cho tăng giá đặc biệt, và giới tiêu thụ sẵn sàng chấp thuận cho việc tăng giá này. Hơn thế nữa, họ còn gỉa vờ nói rằng mức tăng giá đó chỉ là tạm thời. Một hồi lâu, giá biểu tăng tạm đó trở thành vĩnh viễn.

Ủy ban Qui Định Luật Lệ về Năng Lượng Liên bang vừa mới cho phép các công ty đặt ống dẫn dầu được tự động tăng giá hàng năm, trong năm năm sắp tới. Giá hơi đốt có thể tăng hơn 35%. Nhưng Ủy Ban này cũng không đòi hỏi họ phải cải tiến về tính an toàn, và khả tín với số tiền lấy thêm.

Còn một điểm nghịch lý khó chịu khác nữa. Đó là việc tăng giá tiền gas điện do chính phủ qui định, thường đòi hỏi công ty điện lực tăng mức bảo hiểm thêm, để họ có thể bồi thường khi xảy ra vụ nổ. Trong tư cách công ty độc quyền, những công ty điện lực lập tức tăng giá tính tiền cho khách hàng, để trả thêm tiền bảo hiểm. Như thế tức là chúng ta phải trả thêm tiền, nhưng vẫn phải sống trong mối lo canh cánh bên lòng.

-NGUYỄN MINH TÂM tóm lược tác phẩm “The Fine Print” của David Cay Johnston / Newsweek ngày 10/9/2012

 

 

Sở Hữu Chồng Chéo, Ngân Hàng Tròng Trành


 

Sở Hữu Chồng Chéo, Ngân Hàng Tròng Trành

(09/20/2012)


Ban đầu vỡ nợ chầm chậm. Sau đó mới thành đột ngột!

Từ vụ các đại gia ngân hàng tại Việt Nam bị bắt cách đây ba tuần, dư luận ngày càng lo sợ nguy cơ khủng hoảng tài chính do hiện tượng đầu tư chồng chéo của nhiều người có quan hệ đặc biệt với các giới chức quyền thế. Diễn đàn sẽ tìm hiểu vấn đề cực kỳ phức tạp này qua phần trao đổi của Vũ Hoàng với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Từ vụ bắt giữ các nhân vật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam như ông Nguyễn Đức Kiên rồi ông Lý Xuân Hải, các công ty lượng giá trái phiếu đã chú ý đến tình trạng bấp bênh và gánh nợ quá lớn của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Thế rồi khi tìm hiểu thêm về nhiều khúc mắc bên trong, người ta còn thấy ra hiện tượng đầu tư chồng chéo và giả tạo của một số đại gia ngân hàng. Ông nghĩ sao về mối nguy khủng hoảng xuất phát từ những hiện tượng bất thường đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa ông, trước hết là nhìn trong trường kỳ trên bối cảnh rộng thì các "đại gia ngân hàng" như dân chúng trong nước vẫn gọi và cả những ông chủ hay các nhà lãnh đạo ẩn mặt ở bên trong đã chẳng phát minh ra điều gì cả. Họ chỉ học các thủ thuật nguy hiểm của thiên hạ mà lại học tắt trong một môi trường thiếu luật lệ công minh và thông tin trong sáng, cho nên họ sẽ gặp tai họa còn sớm hơn nữa.

- Đầu tiên, tôi xin được nhắc lại rằng vụ sụt giá cổ phiếu tại Mỹ năm 1929 rồi Tổng khủng hoảng thời 1929-1933 cũng xuất phát một phần tự hiện tượng đầu tư chồng chéo. Đó là khi tập đoàn tài chính này đầu tư vào tập đoàn kia trong mối quan hệ chằng chịt mà chẳng còn biết đâu là gốc là ngọn. Hiện tượng đó dẫn tới vấn đề đơn giản nhất là mâu thuẫn về quyền lợi và trách nhiệm. Vấn đề thứ hai mới đáng ngại hơn, đó là gây ra rủi ro sụp đổ dây chuyền vì một quỹ đầu tư mà vỡ nợ là kéo theo các quỹ khác. Vấn đề thứ ba, cực kỳ nguy hiểm là người ta cứ thế mà đầu tư trong vòng luẩn quẩn, gây ra ảo tưởng thịnh vượng và bong bóng đầu cơ như một lâu đài xây trên cát. Cái vòng xoáy tai hại đó mới khiến vụ sụt giá cổ phiếu Hoa Kỳ dẫn đến nạn vỡ nợ dây chuyền. Sau đó, giới đầu tư quốc tế lại còn kinh nghiệm tai hại của Nhật Bản nên họ chả thấy ngạc nhiên về những gì đang xảy ra tại Việt Nam và cả Trung Quốc nữa.

Vũ Hoàng: Chúng tôi đoán là ông muốn từng bước trình bày bài học đã qua của các nước khác để thính giả của chúng ta khỏi ngạc nhiên và đặt vấn đề vào đúng bối cảnh của nó. Thế chuyện Nhật Bản là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dù rằng có nền văn hoá khác và đi vào công nghiệp hóa theo một hướng khác với Hoa Kỳ, Nhật Bản đã nghĩ đến việc tập trung tài nguyên và trí tuệ vào một số khu vực chủ đạo, cũng như Việt Nam đang tập tành ngày nay.

- Nhật Bản xây dựng một hệ thống đầu tư chồng chéo giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Các doanh nghiệp có thể đầu tư hàng dọc, từ trên xuống và từ dưới lên, để lập ra loại tập đoàn sản xuất hội nhập với nhau là các "keiretsu". Trong khi ấy, các ngân hàng thì đầu tư hàng ngang, ngân hàng này góp vốn vào ngân hàng kia và cùng nương nhau mà phát triển.

- Ở trên cùng, hay ở dưới cùng, là sự yểm trợ của bộ máy công quyền để các tập đoàn kỹ nghệ và tài chính ngân hàng này thực hiện chính sách phát triển của nhà nước. Các "chaebols" Nam Hàn cũng có xu hướng tương tự là do học được của Nhật.

Vũ Hoàng: Thưa ông, thế rồi chuyện gì đã xảy ra?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Cũng lại là hiện tượng hồ hởi sảng và bong bóng đầu tư bị bể. Sau Mỹ đúng 60 năm, Nhật Bản bị bể bóng từ năm 1989 và các doanh nghiệp lẫn ngân hàng bị khủng hoảng từ năm 1991 vì quan hệ đầu tư chồng chéo dẫn đến nạn sụp đổ dây chuyền. Nam Hàn cũng có bài học này vào năm 1997 và đã phải vất vả tiến hành cải cách. Bây giờ ta mới nói về Việt Nam, với nhiều khác biệt cơ bản khi ta so sánh với các trường hợp mình vừa nhắc đến.

Vũ Hoàng: Những khác biệt ấy là gì, ông có thể trình bày từng chuyện cho thính giả của chúng ta được chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa ông, các nước đó thuộc loại tiên tiến và có nền tảng luật pháp nghiêm minh chặt chẽ mà còn bị rủi ro về quản trị như trường hợp Hoa Kỳ hơn 80 năm trước.

- Nhật Bản hay Nam Hàn thì áp dụng chiến lược phát triển gần như một quốc sách cho toàn dân để thi hành chính sách công nghiệp hóa có định hướng và với sự yểm trở của nhà nước. Nền tảng luật lệ của họ lại công khai minh bạch trong một môi trường chính trị dù sao cũng dân chủ hơn Việt Nam gấp bội. Vậy mà họ vẫn bị khủng hoảng và còn gặp những tệ nạn khó tránh khi có sự cấu kết như vậy. Đó là nạn tham nhũng móc ngoặc; đó là nạn tư bản thân tộc bao che cho nhau; và nhất là cái nạn "ỷ thế làm liều", nói theo danh từ kinh tế và bảo hiểm là nạn "moral hazard".

Vũ Hoàng: Hình như Việt Nam cũng có ba loại tệ nạn ông vừa nhắc đến. Như nạn tham nhũng thì theo định nghĩa là trục lợi bất chính nhờ tiếp cận với công quyền và còn được viên chức công quyền bảo vệ. Như nạn tư bản thân tộc là khi con cái lãnh tụ đã một bước lên làm Tổng quản trị CEO, hay mẹ làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, con là Tổng giám đốc, con rể là Tổng kiểm soát. Còn về nạn ỷ thế làm liều thì người ta nghĩ ngay đến Vinashin hay Vinalines.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đấy mới chỉ là mấy chuyện nhẹ nhất chứ chưa nghiêm trọng!

- Trên lý thuyết thì Việt Nam muốn học theo Nhật Bản và Nam Hàn vì thấy Trung Quốc cũng đi vào hướng đó. Tức là nhà nước lập ra và yểm trợ một khu vực chủ đạo làm đầu máy tăng trưởng và phát triển cho cả nước. Nhưng đấy chỉ là lý thuyết, hay truyên truyền. Chứ về thực tế thì trong khu vực chủ đạo ấy, các tập đoàn kinh tế nhà nước chỉ là trung tâm bòn rút tài nguyên quốc dân, kể cả vay mượn, để đưa vào dự án có giá trị kinh tế thấp mà rủi ro cao trong khi tay chân và thân tộc của lãnh đạo thì trục lợi rất lớn.

- Thế rồi nhờ thế lực chính trị dựa vào chính sách công nghiệp hóa ở ngọn, nhiều lãnh tụ đưa tay chân lên hàng đại gia để không chỉ thu vét tài sản công quyền mà còn hút cả tài sản của công chúng vào các nghiệp vụ đầu tư chồng chéo này. Họ làm như học theo Nhật Bản và Nam Hàn mà thực chất chỉ là con buôn chứ chưa xây dựng được những cơ sở lớn như mấy nước kia.

- Nhưng nghiêm trọng hơn cả là các thế lực chính trị lẫn đại gia kinh doanh còn có thể can thiệp và làm lệch lạc chính sách công quyền để kiếm lợi riêng. Thí dụ đang được bà con trong nước nói đến chính là trong hệ thống ngân hàng và vai trò đáng nghi của ngân hàng nhà nước khi nâng hay hạ lãi suất vào những thời điểm có lợi nhất cho các đại gia thôn tính hay sát nhập. Chúng ta có một vòng tròn khép kín của một tổ chức lường gạt ở cấp quốc gia được ở trên bảo vệ.

Vũ Hoàng: Ông mường tượng ra cái vòng khép kín này là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, ta không quên một "đặc sản" của Việt Nam ngày nay là loại doanh nghiệp tư nhân giả hiệu mà điển hình là nhiều ngân hàng thương mại cổ phần. Quốc tế thì ngợi khen việc cải cách kinh tế và sự xuất hiện của thành phần kinh tế tư doanh trên thị trường Việt Nam nhưng rồi họ cũng biết về sự thật ở đằng sau, ở bên dưới.

- Ở trên cùng, các lãnh tụ chính trị phân vùng kinh doanh với nhau và chi phối các tập đoàn kinh tế nhà nước. Các tập đoàn đó có thể lập ra ngân hàng thương mại cổ phần với danh hiệu là tư nhân mà về thực chất thì do một tay chân thân tín của lãnh tụ đứng làm chủ. Ông hay bà hay cô chủ ngân hàng này mới lại lập thêm các công ty đầu tư hay cơ sở tài chính để đứng tên vay tiền của ngân hàng mẹ. Tất nhiên là họ được giải ngân tháo khoán dễ dàng vì là mẹ cho con vay theo kiểu đầu tư chồng chéo hay tròng chéo vì có cùng một tròng. Bước kế tiếp, công ty đầu tư hay cơ sở tài chính mới đi tìm các dự án tài trợ thật ra có sẵn trên giấy. Đây là loại dự án ảo về chế biến, thương mại hay bất động sản với trị giá được ước tính rất cao để vay tiền thật nhiều mà giá trị kinh tế hay kinh doanh thì rất đáng ngờ. Vậy mà vẫn trót lọt vì chỉ là cửa thu tiền cho lãnh tụ.

- Rốt cuộc thì từ ngân hàng mẹ, người ta có công ty đầu tư con và các dự án thuộc hàng cháu. Dòng tiền ở trên cứ chảy xuống, từ ngân hàng vào công ty đầu tư đến các dự án và chảy ngược về ông bà chủ ngân hàng. Họ không chỉ là chủ ngân hàng hay công ty đầu tư mà còn nắm trong tay nhiều dự án bất động sản hay cổ phiếu để lại dùng làm đòn bẩy góp vốn vào ngân hàng, mở ra cơ sở đầu tư khác hoặc thâu tóm ngân hàng khác. Nhờ ba lớp đòn bẩy này, họ mới trở thành đại gia. Thật ra, toàn bộ kiến trúc ly kỳ đó vẫn chỉ là cái tháp ảo vì mỗi lần cho vay ra lại là một lần tích lũy nợ xấu, nhưng người ta ỷ thế làm liều vì tin rằng ở trên cùng đã có ông chủ thật là lãnh tụ chính trị và các tập đoàn kinh tế nhà nước trong quỹ đạo của vị lãnh chúa này.

Vũ Hoàng: Thưa ông, loại kiến trúc hình tháp ấy hình như lại dựng ngược và có quá nhiều rủi ro vì dựa trên chuỗi liên hoàn chồng chéo những nghiệp vụ vay mượn và tài trợ cho các dự án không thật, hoặc có giá trị kinh doanh rất thấp. Nhưng vì sao mà người ta có thể tiến hành được các nghiệp vụ đó? Chẳng lẽ ngân hàng không có sổ sách hay hồ sơ tài trợ phân minh sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta trở lại chuyện nền tảng luật lệ. Khi người có gian ý mà làm luật thì kẻ chấp hành ở dưới có nhiều thủ thuật để lách luật mà biết là họ được ai đó ở trên bảo vệ. Chuyện rắc rối chỉ bùng nổ và đại gia bị kết tội phạm luật kinh tế khi có đấu đá ở trên cùng.

Vũ Hoàng: Trong cái vòng xoáy này, rủi ro cho công chúng là những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Rủi ro đầu tiên mà ai cũng thấy ra là hệ thống ngân hàng bị lũng đoạn vì thói tật kinh doanh đó ở một tầng rất cao và có rất nhiều quyền hạn. Thứ hai là các ngân hàng có thể sụp đổ vì cái núi nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Mức nợ ấy đã được quốc tế báo động mà người ta chưa biết là xấu đến cỡ nào, là 10% hay còn cao hơn nữa nếu so với số dư nợ tín dụng? Khi ngân hàng sụp đổ thì thân chủ ký thác tức là công chúng có thể mất tiền oan. Thứ ba là trị trường trái phiếu hay tín dụng sẽ bị khủng hoảng vì các công ty đầu tư phát hành trái phiếu để vay tiền trên thị trường qua môi giới trung gian của ngân hành. Các công ty đầu tư này vay tiền ở ngoài để gom về cho ngân hàng mẹ dưới dạng cổ phần của ngân hàng. Khi công ty đầu tư hay ngân hàng sụp đổ thì chủ nợ có tờ trái phiếu biến thành tờ giấy lộn. Chuyện ấy càng dễ xảy ra vì ngân hàng lại dùng số vốn vay mượn đó đi đánh bạc trên thị trường chứng khoán!

Vũ Hoàng: Thưa ông, kết cuộc thì sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nhớ đến một câu đối thoại trong truyện "The Sun Also Rises" của nhà văn Hoa Kỳ Ernest Hemingway. "Ông bị vỡ nợ như thế nào vậy? – Thưa rằng qua hai cách. Ban đầu còn chầm chậm, sau đó mới đột biến"!

- Từ hai năm nay, người ta đã thấy cái nạn vỡ nợ có vẻ như âm ỉ chầm chậm tại Việt Nam và cả Trung Quốc nữa. Bây giờ thì người ta chờ đợi một sự sụp đổ tan tành, xảy ra rất nhanh vì là kết quả tích lũy của tình trạng thao túng và lũng đoạn một khu vực huyết mạch của kinh tế là hệ thống tài chính và ngân hàng. Chúng ta đã nói đến kinh nghiệm Hoa Kỳ thời 1929, của Nhật thời 1989, nay mai sẽ có thêm kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam.

Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

 

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Mỏ kim cương khổng lồ đủ dùng trong 3.000 năm tại Xibêri


Thứ sáu 21 Tháng Chín 2012

Mỏ kim cương khổng lồ đủ dùng trong 3.000 năm tại Siberia


Mỏ kim cương Popigaï nhìn từ trên không.

Mỏ kim cương Popigaï nhìn từ trên không.

Wikipedia

Thụy My


Một mỏ kim cương khổng lồ tại Siberia, được giữ bí mật từ nhiều thập kỷ qua, có trữ lượng đủ đáp ứng cho nhu cầu trong ba ngàn năm tới. Theo các chuyên gia, thì việc khai thác mỏ này có thể dẫn đến một « cuộc cách mạng công nghiệp » trên thế giới.

Mỏ Popigaï được phát hiện vào đầu thập niên 70 tại một vùng hoang vu thuộc Xibêri đông phương. Nơi gần mỏ này nhất là Khantiga cũng cách đến 400 km, còn thủ phủ Krashnoïrsk, thì cách đến 2.000 km. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mỏ kim cương này được coi là « dự trữ chiến lược » của Liên Xô cũ, và thông tin về sự hiện diện của mỏ được xem là tuyệt mật.

Trong tuần này, Việc Địa lý và Khoáng vật Sobolev ở Novossibirsk thuộc Xibêri đã công bố một số thông tin hiếm hoi liên quan đến mỏ kim cương trên, nằm tại một khu vực hình phễu có đường kính hàng trăm kilomet, do một tiểu hành tinh bị rơi xuống cách đây 35 triệu năm tạo thành. Tác động của cú sốc đã khiến than chì trong vòng bán kính khoảng hơn một chục cây số xung quanh điểm rơi lập tức biến thành kim cương.

Giám đốc của Viện Sobolev là Nikolaï Pokhilenko cho AFP biết, loại kim cương « công nghiệp » này, đa số có đường kính từ 0,5 đến 2 ly, hiện diện dưới dạng các hạt màu xám, xanh hay vàng trông giống như những hạt bụi. Các chuyên gia của Viện khẳng định, loại kim cương của mỏ Popigaï thường được sử dụng để làm các mũi khoan và trong các thiết bị hàng không, có trữ lượng tính theo carat lớn gấp 110 lần so với trữ lượng kim cương trên thế giới.

Hơn nữa, kim cương ở Popigaï bền gấp đôi so với kim cương truyền thống được sản xuất ra để dùng trong công nghiệp. Các chuyên gia Liên Xô biết thế, nhưng vào thời kỳ đó, theo lời kể của ông Pokhilenko, thì Liên Xô « chủ trương xây dựng các nhà máy sản xuất kim cương nhân tạo, và mỏ kim cương Popigaï được để nguyên trạng ».

Và thế là mỏ Popigaï bị bỏ quên trong suốt ba mươi năm qua. Cho đến năm 2009, Viện Sobolev mới quyết định nghiên cứu về tiềm năng của mỏ kim cương này. Trong tình trạng hỗn loạn về kinh tế cũng như ý thức hệ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, loan báo về sự hiện hữu của mỏ hầu như không được ai quan tâm đến.

Giám đốc Viện Sobolev nhấn mạnh, hiện nay tuy mới chỉ thám sát có 0,3% khu vực mỏ Popigaï, nhưng lượng kim cương tại đây đã lên đến 147 tỉ carat. Trong khi đó trữ lượng toàn cầu về kim cương được ước tính chỉ vào khoảng 5 tỉ carat.

Nhà khoa học khẳng định : « Với tiến độ sử dụng kim cương công nghiệp hiện nay, trữ lượng của mỏ Popigaï tương đương với nhu cầu trong vòng ba ngàn năm », và có thể dẫn đến « một cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới », đặc biệt là trong ngành chế tạo máy bay và xe hơi.

Còn Phó giám đốc Iakoutnipromalmaz, một công ty chuyên về kỹ nghệ kim cương tại Iakoutie, thuộc Xibêri đông phương lo ngại : « Mỏ Popigaï có thể làm đảo lộn tình hình trên thị trường kim cương, và không thể nào đoán được giá cả sắp tới sẽ ra sao ».

Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia, việc khai thác trữ lượng kim cương ở Popigaï có thể sẽ rất tốn kém. Lớp kim cương nằm tại một vùng đất đóng băng quanh năm, cách xa tất cả những tuyến đường bộ lẫn đường sắt. Nicolaï Toutchkov, nhà nghiên cứu của Viện Sobolev cho biết : « Mỏ kim cương ở tại một nơi vô cùng hẻo lánh, cách Bắc cực gần 200 km và cách địa phương gần nhất 400 km ». Tuy nhiên có thể kết hợp việc khai thác mỏ Popigaï với các loại quặng mỏ khác ở gần đó, như vậy có thể giảm bớt được chi

 

 

 

 

 
 dangnguoivietyeunguoiviet.org

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link