Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, January 5, 2013

Ai Thắng Ai Thua?


 

Ai Thắng Ai Thua?


Bàn luận về sắc đẹp của phụ nữ, chúng ta thường được nghe những mại viên của ngành cosmetics cũng như các chuyên viên trang điểm cho phụ nữ cho rằng : “ Không có phụ nữ nào xấu cả, chỉ có những người chưa được đẹp vì họ chưa biết trang điểm”.

Phản bác một phần của nhận định này , cá nhân người viết bài này cho rằng : “ thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu không phải vì họ không biết trang điểm mà là vì họ đã trang điểm nhiều rồi mà nhan sắc của họ vẫn chưa thể đẹp lên  được chút nào cả".
Thí dụ : Thị Nở -girl friend của Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao hay hoặc Chị Doãn được nhà văn Vũ Trọng Phụng mô tả “ Chị Doãn có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp giai”.

Ông bạn thân của tôi – nhà văn Trần Văn Giang – còn chua chát hơn khi cho rằng : “ thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận là mình xấu !!!”

Thời gian gần đây, nhà báo Huy Đức đã phóng lên mạng phổ biến quyển sách với tựa đề BÊN THẮNG CUỘC và “phe ta” đã lên tiếng đáp trả khá sôi động. Tôi viết bài viết này để chứng minh BÊN THẮNG CUỘC không phải là phía Việt Cộng mà nhà báo Huy Đức được các “bề trên “ của ông ủy thác tâm sự hay nhà báo Huy Đức ghi nhận các sự kiện theo cách  riêng của ông. Cũng như các phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận mình là xấu, Việt Cộng chưa bao giờ nhìn nhận họ là BÊN THUA CUỘC. 
 Sử Ký là ghi lại những sự kiện (facts), không ai có quyền và không ai có tư cách để sửa đổi sự kiện lịch sử, nhưng những thông tin tôi đưa vào bài viết này là những facts mà không thấy “phe ta” nêu ra trên diễn đàn, và tôi tin chắc rằng phía Việt Cộng sẽ thay đổi ý kiến (opinion) hoặc im lặng để ngậm ngùi cho thân phận “con ếch mà cứ muốn to bằng con bò”.

  1. Chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953 , khi Thống Tướng Mac Arthur chỉ huy 280,000 quân Liên Hiệp Quốc (trong đó có 250,000 binh sĩ Hoa Kỳ) đổ bộ Inchon bắt được hơn 130,000 quân Bắc Hàn và đẩy lui quân Bắc Hàn đến tận sông Áp Lục, Mao Trạch Đông chỉ thị nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy 1 triệu chí nguyên quân Trung Hoa tràn sang Triều Tiên đẩy lùi quân Liên Hiệp Quốc xuống vĩ tuyên 38. Thống Tướng Mac Arthur trình kế hoạch tấn công Trung Cộng vào sâu trong lục địa, Tổng Thống Harry Truman biết kế hoạch của tướng Mac Arthur chỉ đúng về mặt quân sự, ông cất chức tướng Mac Arthur triệu hồi về Mỹ và bổ nhiệm tướng Ridgway lên thay vì ông không muốn sa lầy vào chiến trường Triều Tiên (kinh nghiệm 1 triệu quân Quan Đông của Nhật Bản rải vào Trung Hoa chả thấm vào đâu mà chỉ giữ được một số tỉnh ven biển) và khi sa lầy ở Trung Hoa thì Hoa Kỳ sẽ mất Âu Châu vào tay Staline. Cù cưa mà chả bên nào lấn chiếm thêm được nữa nên Hiệp Định ngưng chiến Bàn Môn Điếm ra đời. Cả 2 nước Nam – Bắc Triều Tiên khi ngưng bắn  vào năm 1953 vẫn còn trong tình trạng chiến tranh cho đến tận bây giờ (2012). Mao Trạch Đông  và Chu Ân Lai cũng như Đảng Cộng Sản Trung Hoa cảm thấy thất vọng vì Hoa Kỳ vẫn không công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Và cũng không thèm đối thoại với các lãnh tụ Trung Cộng trên bình diện ngoại giao chính thống.
  2. Chiến tranh Việt Pháp từ năm 1946 đến 1954 đưa Trung Cộng đến Hội Nghị Geneve , nhưng Trung Cộng vẫn không tiến triển thêm được bước nào trong mục tiêu được Hoa Kỳ công nhận.. Tháng 5/1972 khi Tổng Thống Richard Nixon đến  Bắc Kinh, chính Thủ Tướng Chu Ân Lai tiết lộ chi tiết bị người Mỹ coi thường vào năm 1954 ở Hội Nghị Geneve : Chu Ân Lai lúc đó là Thủ Tướng kiêm Ngoai Trưởng của Trung Cộng đến phòng họp trước Ngoại Trưởng Dulles của Hoa Kỳ, khi Dulles đến, Chu Ân Lai tươi cười dơ tay trước. Ngoại Trưởng Dulles mặt nghiêm bước vào phòng họp mà không bắt tay Chu Ân Lai, khi đi ngang Chu Ân Lai ông này quay mặt nhìn ngang sang Chu Ân Lai rồi bước vào phòng họp nói chuyện với Ngoại Trưởng Liên Sô là Molotov và Ngoại Trưởng Anh là Sir Anthony Eden :  Chu Ân Lai thừa hiểu là Dulles coi Trung Cộng là tay sai của Liên Sô nên Dulles chỉ nói chuyên với boss của Chu Ân Lai là Molotov . 10 năm sau, Tổng Thống Pháp là tướng Charles De Gaulle vì kèn cựa với Hoa Kỳ nên năm nào cũng đề nghị cho Trung Cộng gia nhập Liên Hiệp Quốc (với sự đồng thuận và hỗ trợ của Liên Sô) nhưng Hoa Kỳ vẫn nói KHÔNG. Và Trung Cộng cũng đành bó tay không có cách nào khác.
  3. Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 (tôi lấy thời điểm này làm mốc vì quân đội Hoa Kỳ chính thức vào Việt Nam qua văn thư yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát) đã khiến Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đến Bắc Kinh. Mao Trạch Đông , Chu Ân Lai và Đảng Cộng Sản Trung Hoa vui mừng “không còn chỗ nói”, vì qua bản thông cáo Thượng Hải 1972 Trung Cộng đạt được 3 mục tiêu chiến lược :

  • Được Hoa Kỳ thừa nhận là một “thực thể quốc gia” (trước đó Hoa Kỳ chỉ coi chính quyền Trung Cộng là một “thực tế” ) cho nên sẽ có thiết lập bang giao với sứ thần đàng hoàng chứ không còn nhờ một quốc gia khác đại diện bảo vệ quyền lợi .
  • Hoa Kỳ đồng ý cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa gia nhập Liên Hiệp Quốc thay thế cho Trung Hoa Dân Quốc, có quyền phủ quyết như trong Hiến Chương San Francisco quy định (mục tiêu này mãi tới 21 năm kể từ 1949, Trung Cộng mới đạt được ) .
  • Hoa Kỳ công nhận chỉ có một nước Trung Hoa duy nhất ( nhiều người tưởng là Hoa Kỳ ngu dại khi công nhận điều khoản này, trong khi Hoa Kỳ thừa biết là Trung Cộng muốn tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì phải có một hải lực cực mạnh, mặt khác vì Tổng Thống Tưởng Giới Thạch dù thực tế chỉ giữ được Đài Loan nhưng ông vẫn có một Quốc Hội đại diện cho 18 tỉnh của Trung Hoa Lục Địa và ông cho rằng chiếc ghế của Trung Hoa Dân Quốc đại diện cho nước Trung Hoa. – [nên nhớ rằng năm 1943, khi họp tại Yalta, các lãnh tụ phe Đồng Minh bàn định về kế hoạch chấm dứt Thế Chiến II và tương lai của thế giới sau khi chiến tranh chấm dứt, 4 lãnh tụ đó là : Tổng Thống Roosevelt của Hoa Kỳ , Thủ Tướng Churchil của Anh Quốc, Chủ Tịch Staline của Liên Sô và Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa , nước Pháp không có đại diện vì không được mời họp ] ) Khi Tổng Thống Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng là người Đài Loan lên cầm quyền, thì thế hệ của Tưởng Giới Thạch – Tưởng Kinh Quốc đã qua đời, nếu Trung Cộng tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì danh hiệu Trung Hoa Dân Quốc sẽ không còn và sẽ trở thành Cộng Hòa Đài Loan đồng thời Cộng Hòa Đài Loan sẽ chính thức xin gia nhập Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ sẽ can thiệp vì Trung Cộng đã xâm lăng một quốc gia khác) .

Tuy tự công nhận là  BÊN CHIẾN THẮNG trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Trung Cộng không ồn ào khoe rùm beng như phía Việt Cộng vì cả Mao Trạch Dông và Chu Ân Lai đều hiểu rằng 2 kẻ chơi cờ đấu trí với nhau trên bàn cờ thế giới lúc bấy giờ là Hoa Kỳ và Liên Sô. Việc Hoa Kỳ không phải tự nhiên ban cho Trung Cộng nhiều đặc ân mà chính là Hoa Kỳ đã sử dụng Trung Cộng như một con cờ nhằm “chiếu bí” Liên Sô và Mao Trạch Đông +  Chu Ân Lai chấp nhận vai trò ấy trong tinh thần “đôi bên cùng có lợi”.

Phía Việt Cộng do các đàn anh “phỉnh gạt” và cũng hay “nổ bậy để dương oai” để lòe và lường gạt  dân Việt nên lúc nào cũng rêu rao là “ Cách Mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” (khi xưa, thất bại thì hô lên do Mỹ - Ngụy  phá hoại , bây giờ thì nói bâng quơ là do “thế lực thù địch” không dám nêu đích danh quốc gia hay chính phủ nào cả ). Tôi liệt kê vào bài viết này những mất mát và thua thiệt của Việt Cộng để chứng minh rằng Việt Cộng chỉ là những kẻ THUA CUỘC trên bàn cờ thế giới. Dĩ nhiên phía Việt Cộng (trong đó có nhà báo Huy Đức) và cả “phe ta” đều thắc mắc là chính phủ VNCH sụp đổ , quân nhân cán bộ và viên chức chính quyền VNCH bị cầm tù đày đọa trong nhiều năm trời (trong đó có cá nhân người viết bài này cũng bị cầm tù 8 năm), dân chúng của miền Nam bị kỳ thị, bị xua đuổi ra khỏi thành phố và phải vượt thoát khỏi sự cai trị hà khắc của Việt Cộng…thì không phải là PHÍA THUA CUỘC thì là phía gì ?

Việt Nam Cộng Hòa (bao gồm chính phủ và nhân dân VNCH) không phải là phía “play game” trong chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975, chúng ta bị buộc phải tham chiến để bảo vệ lãnh thổ và sinh mạng người dân như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước lưỡng viện Quốc Hội VNCH khi ông từ chối bước vào hòa đàm Paris năm 1968 dưới thời Tổng Thống Lyndon Johnson : “chúng ta thà rằng chết bây giờ để hy vọng rằng con cháu chúng ta được sống…”. Ba cuộc tấn công lớn trong những năm 1968 Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa trong năm 1972, cũng như cuộc Tổng Tấn Công vào đầu năm 1975 đều hoàn toàn do Bắc Việt chủ trương với sự yểm trợ tối đa về vũ khí của khối Cộng. Và biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra vì Hoa Kỳ không muốn play game nữa, trong khi quân dân VNCH đã chiến đấu tận tình trong khả năng và ý chí của mình.

Những ai trách móc Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm …phải có trách nhiệm để làm mất VNCH là nói bậy, ăn theo bả tuyên truyền của Việt Cộng : vì muốn đem lại hòa bình thật sự cho toàn cõi Việt Nam, thì phải tiêu diệt kẻ đi xâm lược là Bắc Việt, các vị lãnh đạo VNCH không ai có khả năng tiêu diệt Việt Cộng (tức là đánh gục Bắc Việt) cho nên tôi rất thương cảm các vị lãnh đạo của VNCH. Người lãnh đạo giỏi thì chông cự quân xâm lăng được lâu, người lãnh đạo dở thì chống cư với thời gian ngắn hơn. Đối với tôi,khi gặp những kẻ chê trách các vị lãnh đạo VNCH, tôi chỉ hỏi cá nhân hay phe nhóm của những kẻ đó hãy kể cho tôi nghe những nỗ lực giữ nước của họ, thì những kẻ này bỏ đi vì họ và phe nhóm của họ NOTHING TO DO (ấy là chưa kể họ và phe nhóm của họ dấu diếm và chứa chấp Việt Cộng trong nhà như là một hình thức “đâm sau lưng chiến sĩ” ).

Sự thua thiệt thứ nhất : Hồ chí Minh cướp chính quyền trong tay của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 nhưng không có một cường quốc nào công nhận cả ( kể cả Liên Sô là nước khai sinh ra chế độ Cộng Sản). Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam khoác lác tuyên truyền và sửa lịch sử rằng họ cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp trong khi thực tế cho thấy rằng khi quân đội Nhật đảo chính quân Pháp tại Đông Dương vào tháng 3 năm 1945 thì tất cả viên chính hành chánh và quân đội Pháp đều bị bắt giam hết cả : thực dân Pháp đâu còn nắm chính quyền nữa thì lấy đâu ra chính quyền trong tay thực dân Pháp để cho Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam cướp !!!

Đối với Anh Mỹ , qua cơ quan OSS và tài liệu của Sở Liêm Phóng Đông Dương, họ biết Hồ chí Minh là một tên Cộng Sản đệ tam quốc tế. Còn Staline thì cho rằng Hồ chí Minh là tay sai của Mao Trạch Đông nên Liên Sô không ủng hộ ( Staline nhận định quá chính xác vì quả thực Hồ chí  Minh là tay sai của Mao Trạch Đông mặc dù mồm miệng vẫn ca tụng Staline ) . Vả lại hội nghị Postdam xảy ra ngay sau khi Hitler tự sát và nước Đức Quốc Xã đầu hàng vào tháng 5/1945 đã phân định trách nhiệm và địa phận của các nước thắng trận trước khi nước  Nhật đầu hàng vào tháng 8/1945.

Vì Việt Nam không được các cường quốc công nhận sự độc lập vừa  mới tự xưng nên khi  quân đội Trung Hoa của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch (do tướng Lư Hán chỉ huy ) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra và quân đội Anh (do tướng Gracey chỉ huy) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào thì Hồ chí Minh không dám đưa ra bất kỳ lời phản đối nào. Tướng Charles de Gaulle – thủ lãnh của nước Pháp Tự Do – vận động riêng với Thủ Tướng Churchill của Anh cho phép quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn (quân Pháp do tướng Lecler chỉ huy). Tôi không thấy Hồ chí Minh và  Bộ Ngoại Giao của nước VNDCCH đưa ra được một công hàm ngoại giao nào để lên tiếng phản đối về sự can thiệp của các lực lượng ngoại nhập vào công việc nội bộ của một nước độc lập tự chủ ? Như vậy chứng tỏ Hồ chí Minh và chính quyền của nước VNDCCH không hề có một thể diện nào trên chính trường thế giới.  Khi quân đội Anh làm xong nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật, tướng Gracey rút quân Anh ra khỏi Việt Nam thì quân đội Pháp do tướng Lecler chỉ huy vẫn ở lại miền Nam, thì chiến tranh Việt – Pháp là điều không thể tránh được.

Sự thua thiệt thứ hai : năm 1949, sau khi đuổi được phe Quốc Dân Đảng phải chạy ra Đài Loan, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Hoa tiến chiếm toàn bộ Trung Hoa Lục Địa, Trung Cộng liền viện trợ ồ ạt cho binh đội của Việt Minh. Năm 1950,  Tướng Võ Nguyên Giáp đã đủ sức mở các cuộc tấn công quân đội Pháp dọc theo biên giới Hoa – Việt : quân khu Lạng Sơn của Pháp bị thất thủ rơi vào tay quân đội Việt Minh và chính phủ Pháp phải đưa Thống Tướng De Lattre Tassigni làm Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương đồng thời tăng cường thêm viện binh như Thống Tướng De Lattre yêu cầu  (không kể lính tráng người Việt Nam, quân số quân đội viễn chinh Pháp dưới thời Thống Tướng De Lattre chỉ huy lên tới 220,000 người).

Là một tướng giỏi, Thống Tướng De Lattre đã đẩy lui quân đội Việt Minh trên nhiều mặt trận kể cả trận Hòa Bình, người con trai duy nhất của ông là Trung Úy Bernard De Lattre bị tử thương tại trận này. Nhưng ông biết rằng nước Pháp không đủ sức để đối đầu với Trung Hoa vĩ đại , nên sau khi biết Đại Tướng Eisenhower đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1952 – 1956, ông sang Hoa Kỳ vận động tân Tổng Thống Eisenhower trợ giúp nước Pháp. Về mặt cầu viện Hoa Kỳ, chính phủ Pháp đã tỏ ra là một chính phủ lãnh đạo kém : Ngoại Trưởng hay Thủ Tướng  Chính Phủ sao không đi Hoa Kỳ làm công việc ngoại giao mà phải để một ông tướng đương nhiệmTư Lệnh chiến trường Đông Dương phải đi Washington D.C. trong lúc chiến trường đang trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng cần sự có mặt liên tục của Thống Tướng De Lattre ? Phải chăng chính phủ Pháp lợi dụng sự thân tình giữa Đại Tướng Eisenhower và Thống Tướng De Lattre trong thời gian Đại Tướng Eisenhower làm Tổng Tư Lệnh quân đội Đồng Minh đánh lại quân của Hitler và Mussolini hồi trước năm 1945 ? Điều đó không sai khi Hoa Kỳ đồng ý viện trợ vũ khi, quân trang, quân dụng cho quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương.

Tổng Thống Eisenhower gợi ý là nước Pháp nên trao trả độc lập cho Việt Nam (dĩ nhiên trao cho người quốc gia chứ không phải trao cho cán bộ Cộng Sản như Hồ chí Minh) và quân đội Pháp – do sự yêu cầu của chính quyền độc lập tự chủ chiến đấu tại chiến trường Đông Dương để ngăn chặn Cộng Sản như Hoa Kỳ đã làm tại chiến trường Cao Ly hồi 1950 – 1953. Thống Tướng De Lattre ghi nhận ý kiến của Tổng Thống Eisenhower, ông cũng cho Tổng Thống Mỹ biết là ông không có ảnh hưởng gì nhiều đến chính trường Pháp, tuy nhiên ông hứa là ông sẽ vận động trong chính giới Pháp. Từ Hoa Kỳ, Thống Tướng De Lattre trở lại Đông Dương ngay, và chỉ một thời gian sau đó ông phải trở về Pháp để chữa bệnh ung thư rồi chết tại Pháp mà chưa có kịp vận động hay thuyết phục chính giới Pháp gì hết !!!

Với các thông tin này, chúng ta thấy rằng nếu Hồ chí Minh là người quốc gia thì nước Việt Nam của chúng ta đã được Hoa Kỳ - Anh – Pháp ủng hộ từ lâu và sẽ không có chiến tranh, đổ vỡ, tan nát và chia rẽ như hiện nay : các nước Đông Nam Á cựu thuộc địa như Indonesia, Malaysia, Philippines …vì không có Cộng Sản nên được trao trả độc lập, an hưởng thái bình và xây dựng quốc gia phú cường. Do đó Đảng Cộng Sản Việt Nam và các đảng viên Việt Cộng lúc nào cũng lớn lối về lòng tự hào “đánh thắng nhiều tên đế quốc” mà không bao giờ tự hỏi “đánh thắng để được cái gì ” chứ ?

( Có lẽ để đạt danh hiệu “anh hùng Xã Hội Chủ Nghĩa” hão huyền chăng, ký giả Huy Đức là người trưởng thành trong XHCN có thể giải thích hiện tượng “thích làm anh hùng” để người Việt tỵ nạn Cộng Sản hiểu thêm về con người Cộng Sản !!!”

Sự thua thiệt thứ ba :  khi cầm tù được tướng De Castries và khoảng hơn 10.000 binh sĩ Pháp tại thung lũng Điện Biên Phủ, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự ca lên rằng đã đánh gục và đuổi được Đế Quốc Pháp để dành được độc lập cho Việt Nam. Tôi nói quân đội Việt Minh cầm tù được tướng De Castries vì trong bức điện cuối cùng gửi cho Bộ Tư Lênh Quân Đội Pháp đóng tại Hà Nội, tướng Castries cho hay ông đã ra lệnh cho toàn thể binh sĩ dưới quyền trú đóng tại cứ điểm Điện Biên Phủ “ngưng chiến đấu” . 2 bức hình – do phía Việt Cộng chụp – đã minh chứng điều này : một bức hình chụp từ phía sau một cán binh Việt Cộng cho thấy anh này đang cầm cờ trắng chạy lên cắm tại nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries chớ tướng De Castries không có cắm cờ trắng trên hầm chỉ huy của ông. Bức hình thứ hai chụp tướng De Castries từ trong hầm chỉ huy bước ra, ông không có dơ 2 tay lên cao khỏi đỉnh đầu thì sao Việt Cộng dám bảo là tướng De Castries đầu hàng ?

Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Minh không phải là chiến thắng trọn vẹn vì sự sụp đổ của căn cứ Điện Biện Phủ chỉ đánh sập được ý chí chiến đấu của chính phủ Pháp và nhân dân Pháp chứ quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương vẫn giữ vững được các cứ điểm trọng yếu khác. Nhà báo Huy Đức cũng như các “bề trên” trong Đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn không biết câu châm ngôn danh tiếng của binh đoàn Lê Dương : “nước Pháp không hỏi bạn từ đâu đến, thì bạn cũng đừng bao giờ hỏi nước Pháp sẽ đưa bạn đi đâu”. Một người chú họ xa của tôi, sau năm 1975, vào Sài Gòn có kể một câu chuyện về tính liêm sỉ của một người Đức – nguyên là lính SS của chế độ Quốc Xã sau năm 1945 tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương – người lính Lê Dương này dù quân số ít hơn vẫn không chịu đầu hàng, sau cùng bị thương nặng ngất xỉu thì bị bắt làm tù binh. Sau khi được cứu chữa tỉnh dây, sĩ quan quân báo của Việt Minh đến hỏi lý do tại sao không đầu hàng để được sống, người lính Lê Dương gốc Đức này trả lời khiến mọi người ngạc nhiên : “ tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương tức là lính đánh thuê, tao mà đầu hàng thì về sau ai mà thuê người Đức làm lính đánh thuê nữa”.

Việt Cộng và Trung Cộng thì chê tướng Navarre (cha đẻ ra cứ điểm Điện Biên Phủ) là dở vì 16,000 quân Pháp nằm dưới thung lũng sẽ ăn đạn pháo mà chết  không thể phản pháo được. Khi thiết lập căn cứ Điện Biên Phủ, tướng Navarre biết điều đó nhưng đây là chiến thuật “cục đường nhử đàn kiến”, 16,000 quân của Đại Tá De Castries nằm dưới thung lũng Điện Biên Phủ đã quyến rũ được 40,000 quân Việt Minh của tướng Võ Nguyên Giáp (không kể số dân quân đi tải vật liệu và trnag cụ vũ khí). Quân của tướng Võ Nguyên Giáp sẽ bị tiêu diệt bởi lực lượng Không Quân Chiến Lược của …Hoa Kỳ (vì không lưc của Pháp tại Đông Dương yếu lằm) . Khi căn cứ Điện Biên Phủ vừa bị tấn công, quân đội Pháp tại Đông Dương trông chờ tiếp cứu từ Không Lực Hoa Kỳ nhưng vì chính phủ Pháp vẫn còn đầu óc thực dân không chịu trao trả độc lập cho người quốc gia Việt Nam nên chính phủ Hoa Kỳ không muốn ủng hộ Đế Quốc Pháp để duy trì tình trạng thuộc địa tại Đông Dương.

Các hồ sơ được giải mật sau này cho thấy là Tổng Thống Eisenhower đã nói với đại diện chính phủ Pháp là Hoa Kỳ sẽ tham chiến nếu đồng minh Anh Quốc cũng đồng ý như vậy, trong khi đó Thủ Tướng Churchill trả lời với Thủ Tướng Daladier là : “nước Anh đã trao trả độc lập cho thuộc địa Ấn Độ từ năm 1947, thì không có lý do gì lại đi giúp nước Pháp để duy trì thuộc địa tại Đông Dương” . Như vậy sự sụp đổ của cứ điểm Điện Biên Phủ là do chính phủ Pháp chứ không phải do tướng lãnh và quân đội Pháp. Sau khi căn cứ Điện Biên Phủ sụp đổ, Thủ Tướng Daladier từ chức và  chính khách Mendes France lên thay thế với khẩu hiệu “phải ký cho được một thỏa ước ngưng chiến với Việt Minh trong tháng 7/1954, nếu không được, chính phủ của tôi sẽ ra đi”.

Sự thua thiệt thứ tư : Tình hình căn cứ Điện Biên Phủ sắp tới hồi kết thúc, thì Thủ Tướng Bửu Lộc của chính phủ Quốc Gia Việt Nam từ chức, ông Ngô Đình Diệm lên thay thế. Tại hội nghị Geneve 1954, trưởng phái đoàn của chính phủ Quốc Gia Việt Nam lúc bấy giờ là luật sư Nguyễn Quốc Định được thay thế bởi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ ( bác sĩ Trần Văn Đỗ là em trai của Luật Sư Trần Văn Chương, là chú ruột của bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân). Khi mới sang Geneve, ông Phạm Văn Đồng có hỏi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ là có nhận chỉ thị gì của chính phủ Sài Gòn về việc chia cắt đất nước Việt Nam hay không ?  Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ trả lời là ông không có chỉ thị nào về việc này và cũng không nghe dư luận bên ngoài chính phủ bàn tán gì về việc chia cắt đất nước.

Thời gian sau đó, ngoại trưởng Trần Văn Đỗ mới biết là các đại cường đồng ý với việc chia cắt Việt Nam ra làm 2 , chỉ còn bàn cãi là cắt ở đoạn nào mà thôi. Phía Việt Cộng muốn lấy  vĩ tuyến 16 làm ranh giới ( tức là toàn thể tỉnh Thừa Thiên tới sát Đèo Hải Vân), phía Pháp muốn lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới hoặc nếu Việt Minh muốn lấy tới vĩ tuyến 16 thì phải nhường hành lang Bùi Chu – Phát Diệm – Nam Định cho Pháp. Molotov cho Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng hay rằng Liên Sô có kinh nghiệm cay đắng về hành lang Tây Đức nối với Tây Bá Linh nên phía Liên Sô cảnh báo là không nên nhận giải pháp này vì “lợi bất cập hại”. Phía Mỹ thì không có ý kiến vì phái đoàn Mỹ đến Geneve trong vai trò giám sát và bảo chứng cho việc ký kết một hiệp định ngưng bắn giữa Pháp và Việt Minh. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ điện về Sài Gòn báo cáo tình hình hình cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và xin chỉ thị về việc chia cắt đất nước. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ thị cho ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước Việt Nam và phía chính phủ của Quốc Gia Việt Nam sẽ không ký vào hiệp định Geneve 1954 .

Sau khi Đặng Tiểu Bình dạy cho Việt Cộng một bài học vào năm 1979, Ban Lãnh Đạo của Đảng CSVN mới công bố Sách Trắng về Trung Quốc, thì nhân dân miền Bắc và các đảng viên cấp dưới mới biết rằng chính Chu Ân Lai thúc ép Hồ Chí Minh và  Phạm văn Đồng phải nhận Bắc Việt ( nói theo kiểu dân chơi trong giới giang hồ : “thế là mất mẹ miền Nam cho bọn Mỹ - Ngụy). Ông Huy Đức và những người có ăn học hiểu biết trong XHCN có bao giờ thắc mắc đặt câu hỏi là : tại sao đang thắng lớn mà lại không tiếp cuộc chiến để dành hoàn toàn độc lập cho VN ? Tại sao lại chịu nhận làm chủ chỉ có một nửa nước để rồi 6 năm sau phải thành lập MTGPMN và phải đợi tới 15 năm sau mới “giải phóng” toàn bộ VN với tổn thất riêng miền Bắc không thôi cũng đã lên tới con số suýt soát 3 triệu người ? Câu trả lời chắc chắn chỉ có Đảng CSVN mới đủ kích thước và tư cách để trả lời.

Sự thua thiệt thứ năm : từ năm 1969, phái đoàn Bắc Việt cãi chầy cãi cối, cãi lòng vòng rất mất thì giờ về bàn vuông, bàn tròn, bàn hình chữ nhật… với mục đích là để được nói chuyện tay đôi với Hoa Kỳ nhằm chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam .

Nhưng tới năm 1972, Tổng Thống Richard Nixon  và Cố Vấn của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đi thăm Liên Sô và Trung Cộng,, thì không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo của Bắc Việt lại chịu hiểu rằng số phận cả nước Việt Nam được định đọat tại điện Kremlin và khu  biệt thự có tên gọi là Trung Nam Hải., chứ không phải được định đoạt tại hòa đàm Paris. Hiệp Định Paris năm 1973 là một “bẫy rập”, nhằm giúp Hoa Kỳ rút chân ra khỏi Đông Dương, miếng mồi béo bở mà Hoa Kỳ đặt trong bẫy này là điều 21B trong bản Hiệp Định : “ Hoa Kỳ sẽ viện trợ 3 tỷ dollars cho Việt Nam nếu các bên tuân thủ các điều ký kết. Quyền tự quyết của nhân dân phải do nhân dân Việt Nam quyết định bằng lá phiếu bầu cử…” (hay đại loại gần giống như thế vì tôi không trích nguyên văn điều khoản này )

Khi  Việt Cộng dứt điểm VNCH bằng vũ lực, tức là phía Việt Cộng ngang nhiên xé bỏ bản Hiệp Định Paris 1973 do chính họ đặt bút ký thì Hoa Kỳ đã có lý do để “xù nợ” tức là không viện trợ cho Việt Nam một xu nào hết mà bọn lãnh tụ Việt Cộng không thể kiện cáo vào đâu được. Nên nhớ là vào năm 1976, sau khi thống nhất 2 miến, chính quyền Việt Cộng kiểm kê dân số Việt Nam được 45 triệu người và tổng sản lượng quốc gia là 4 tỷ dollars, do vậy số tiền 3 tỷ dollars đối với chính quyền Việt Cộng là một số tiền rất lớn ( Cũng qua tờ báo Nhân Dân in tại Hà Nội, trong trại tù chúng tôi được biết rằng dòng họ Morgan có tích sản 170 tỷ dollars, được xếp hạng nhất tại Hoa Kỳ, dòng họ Rockefeller có tích sản 127 tỷ dollars được xếp hạng nhì, trong khi tồng sản lượng quốc gia GNP của Hoa Kỳ là 2,000 tỷ dollars. Nêu ra chi tiết để ký giả Huy Đức và các “bề trên” trong Đãng CSVN thấy rằng, tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam không bằng số lẻ của tích sản dòng họ Rockefeller)

Nếu ký giả Huy Đức và các đảng viên Đảng CSVN cứ ngoan cố cho rằng Việt Cộng là BÊN THẮNG TRẬN  thi tôi yêu cầu ký giả Huy Đức hãy đưa ra những thành quả cụ thể mà phía Việt Cộng thủ đắc được sau khi cướp đoạt được miền Nam bằng vũ lực, dĩ nhiên thành quả cụ thể phải tính bằng tiền chứ nói thành quả chung chung như Việt Cộng đã nói từ hơn 50 năm qua, là điều người đọc không chấp nhận được.

Trung Cộng sẽ xâm chiếm Việt Nam và nếu họ chiến thắng Việt Cộng và cai trị toàn cõi Việt Nam, liệu  ký giả Huy Đức và những “bề trên” cao cấp trong Đảng CSVN có đủ liêm sỉ để ca ngợi mấy anh Ba Tàu Đỏ là BÊN THẮNG CUỘC  hay không ? Nếu có thì tiếp tục giữ tựa đề quyển sách này, nếu không thì có lẽ tựa đề VIỆT NAM ƠI ! HÃY KHÓC LÊN ĐI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU là thích hợp nhất.

Trần Trung Chính

San Jose ngày 25 tháng 12 năm 2012

Fwd: Cuu nuoc


Kính thưa qúy vị

 

Hồi khuya, khoảng 00:15G ngày hôm nay, 5/1/13 tôi chuyển tới 29 vị một email khá dài, khoảng hơn một trang chữ Times New Roman khổ 12 như thế này. 
 
Khoảng 1 phút sau được cho biết danh sách đầy đủ 29 vị này đã không được chuyển bài.
 
 Do đó tôi sẽ viết rất ngắn, chuyển tới vài vị chống cộng “có license” rất thân quen với hy vọng là nếu thấy bài “đọc được” thì cứu xét và chuyển tiếp.

 

Hiện nay qúy vị đều biết cs Đang Rẫy Chết vì Kinh Tế suy sụp, vật giá leo thang, Tài chính kiệt quệ, Xã hội băng hoại, Trộm, cắp và cướp nhiều như rươi, Văn hóa suy đồi thảm hại, v..v.. do đó NCQ csVN phải thi hành khủng bố, một thứ khủng bố trắng (terreur blanche) để trấn áp, đánh phủ đầu dân theo đúng chính sách Tam Dân (Làm cho dân Đói, Ngu và Sợ).
 
Nhân Dân khổ sở, Quốc gia tụt hậu và kể như hoàn toàn nô lệ Tầu, Tàu đã chiếm nước ta êm thấm do đảng cộng sản dâng hiến khởi sự là tên Việt gian bán nước Hồ Chí Minh đã “đánh Pháp để Làm Lich Sử” vì nếu không đánh Pháp thì độc lập nhưng không oai hùng (!), và đã muốn “dương danh Tiền Phong Nhuộm Đỏ Châu Á” phục vụ Quốc Tế cs nên đã lén lút bán nước cho Tầu.

 

Tạm đủ để biết nhu cầu Cứu Nước, Cứu Dân.

Phe Ta Cứu như thế nào? Bằng cách nào?

 

1/ Cứu nước Như Thế Nào: 
 Lật đổ Nhà Cầm Quyền cộng sản VN.
 
A/Tại sao Không tấn công Trung Cộng vì TC xâm chiếm VN kia mà?-Vi Không có thực lực là lực lượng quân sự, không có tiếng nói đủ mạnh trên chính trường quốc tế để đưọc quan tâm.
 
B/ Không thể hợp tác với csVN để đánh Trung cộng vì
 
 a/ Kinh nghiệm đã qua và đã nhiều lần cs Liên Hiệp để Tiêu Diệt ngay khi tình thế hơi khả quan.
 
b/ Phe Ta không đủ mạnh về mọi mặt; hợp tác với csVN là đặt dưói quyền Xử Dụng của cs và bị đẩy vào chỗ chết như thời đánh Pháp.

 

2/ Cứu nước Bằng Cách Nào?

            Trong nước :  
 
 - Nâng cao Dân Trí để có Dân Khí mà dám dấn thân.

   - Tranh đấu đòi cho được Nhân Quyền, vì trong Nhân quyền có đủ mọi Quyền Tự Do về Sinh Sống cũng như về Tâm Linh

  - Khi có Nhân Quyền là ắt có Dân Quyền qua Quốc Hội Của Dân,                     Do Dân, vì Dân.

  - Phải gây Bất ổn Thường Xuyên cho NCQ cs khiến cho chúng “ăn         không ngon, ngủ không yên” phải lo 24/24 đối phó với tình thế                   sùng sục sôi, bấy nhậy như “tương tàu”. - Vân vân

            Hải Ngoại

 - Phải nâng cao Dân Trí để biết nguy cơ Tàu chiếm VN thì tương lai Nước và Dân sẽ ra sao.

 - Phải thiết thực hành động chống cộng, tích cực thay vì tiêu cực ví dụ quân nhân thì không về VN ăn Tết, nhưng bầu đoàn thê tủ thì về, mang tiền về nuôi csVN.

- Phải gấp thành lập một Tổ Chức duy nhất đại biếu cho Tòan Thể Người Việt tỵ nạn cs trong quốc gia sở tại, tiến tới Trong Toàn Thế   Giới để có cùng môt Chủ Trương, chung một Chính sách và Phối   hợp Đường Lối Hoạt Động, Tổ chức này được điều hành ỏ mỗi cấp bởi một Ủy Ban thay vì một Cá nhân.
 
Tổ chức có Điều Lệ rõ ràng, hợp pháp với quốc gia sở tại như vậy mới có đông người gia nhập và bầu ra Ủy Ban Điều Hành (hành động) ở mỗi Cấp để thi hành theo đúng chỉ thị cuả Trung Ương.

- Tất cả mọi hoạt động đối với thế gìới tự do và với csVN để giải thể chế độ cs VN đều do Ủy nhiệm cuả Tổ Chức này và cho Một vấn đề nào đó bởi Một số người nào đó do Ủy Ban trao phó theo tình huống mà thôi, như vậy tránh việc dùng người sai chỗ, tiếm quyền, v.v..

Tạm kể vài việc cần phải làm, trong khi chờ đợi, những gì qúy vị yêu nước đang làm, ví dụ kêu gọi Thế Giới Tự Do can thiệp, khiếu kiện tội ác cs VN xin cứ tiếp tục, tuy nhiên những việc xé lẻ để đối thoại với cs do mục đích riêng tư như Lợi, Danh, Đảng Phái, vô hình chung có hại cho khối Người Việt tỵ nạn cs thì xin vui lòng chấm dứt vì tôi dám cả quyết là Cá nhân Không Thể Thắng Tổ Chức được.

 Vái …server của tôi cho chuyển bài này tới vài vị thân quen.

 Kính
 
 
-------------------------

Thomas Tran

 Không Nói, Không Viet, Không Làm

nhung gì có loi cho cong san

VỀ QUÊ LẦN CUỐI


 

 


Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 04.01.2013

     

VỀ QUÊ LẦN CUỐI

Rất bất ngờ, vào dịp cuối năm 2012, các ông Nhất Giang và Vi Túy từ Úc gọi điện thoại cho tôi với một câu hỏi cũng rất “giật gân”:

- Anh có muốn về Thái Bình không?

Tôi nghĩ hai ông này định dỡn mặt với mình đây. Tôi còn đang phân vân tìm cách đối phó để khỏi rơi vào bẫy việt vị, Nhất Giang nói ngay:

- Thật đấy, chuyến này báo Văn Nghệ sẽ đi làm từ thiện ở Thái Bình, quê hương anh đấy. Anh thấy thế nào?

Tôi trả lời không cần suy nghĩ:

- Các anh làm từ thiện từ Đồng Bằng sông Cửu Long đến Campuchia, rồi Huế, Pleiku, Kontum, chỉ còn thiếu miền Bắc. Đồng bào đói khổ thì ở đâu cũng là người Việt mình cả. Sao lại không ra miền Bắc một chuyến nhỉ?

Vi Túy hỏi rất thành thật:

-Theo anh, miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo lắm không?

- Ở đâu cũng có người nghèo trên khắp giải đất VN này. Ở miền Bắc, họ hàng tôi còn nhiều, nhất là ở tỉnh Thái Bình mà các anh vừa đề cập tới. Có những người “trên không chằng, dưới không rễ”, nói rõ ra là họ không có người thân, không có họ hàng hang hốc với chính quyền địa phương, phần đông còn nghèo khó là cái chắc, chẳng khác gì những người ở các vùng quê miền Nam đâu.Chưa nói đến trường hợp như mấy đứa cháu tôi, sự nghèo khổ còn thê thảm hơn, kéo dài suốt từ năm 1954 tới bây giờ. Tôi kể lại sơ lược sự thật đó để các anh hiểu rõ hơn.

Nỗi khổ từ “muôn năm cũ”.

Năm 1954, sau khi gia đình tôi vào Nam, anh cả tôi ở lại miền Bắc bởi anh theo kháng chiến chống Pháp từ những năm 1949. Như tôi đã có lần tường thuật với bạn đọc về cái chết oan uổng của ông anh cả tôi. Anh đang là chính trị viên, nhưng anh bị sốt rét nên sau khi đi bệnh xá, được nghỉ phép về làng dưỡng bệnh. Gặp ngay đợt cải cách ruộng đất, phong trào đấu tố được “phát huy” lên đỉnh điểm. “Chỉ tiêu” của làng tôi là phải đấu tố 3 anh địa chủ.
 
Thế là ông anh tôi, vốn là con ông chánh tổng, bị lôi ra đấu tố rồi xử bắn. Để lại vợ và 3 đứa con nhỏ, có cháu mới 2 tuổi, cháu lớn nhất mới 6 tuổi. Bà vợ anh không chịu nổi cảnh nhục nhã này nên đã đâm đầu xuống ao nhà tự tử. Mấy đứa con nhỏ bị đuổi ra ở một túp lều lá trong khu vườn chè nhà tôi.
 
 Cả làng, kể cả người thân trong họ, cũng không dám giúp đỡ bất cứ thứ gì cho các cháu. Một lần các cháu mò cua bắt ốc, bắt được mấy con cá nhỏ ngoài đồng, mang về đến gần nhà, vô phúc gặp một anh dân quân du kích bắt đứng lại khám xét. Thấy mấy con cá, anh dân quân này quả quyết rằng hai đứa ăn cắp cá, anh ta mang đổ ngay mấy con cá xuống ao làng. Mấy đứa cháu tôi sống nheo nhóc trong hoàn cảnh đó.
 
Tôi không muốn dài dòng về nỗi khổ này của các cháu. Chỉ biết rằng nỗi nghèo khổ đó đã theo đuổi các cháu từ năm 1954 đến nay. Một cháu đã mất tại Nam Định, một cháu bỏ làng ra Hà Nội sống cuộc sống lầm than cho đến bây giờ.

Tôi kể lại chuyện này để các anh hiểu thêm ở miền Bắc còn nhiều gia đình nghèo khổ, cái nghèo “tích lũy” lại từ bao năm nay, đôi khi hơn cả miền Nam. Ở những làng quê Thái Bình không thiếu những gia đình như thế. Các anh đại diện cho bà con người Việt ở nước ngoài phát quà cho bất cứ tỉnh nào ở miền Bắc cũng sẽ gây xúc động cho bà con nghèo trong nước và gây được một tiếng vang đáng kể đấy. Một việc nên làm và không phải ai cũng làm được.

Ông Nhất Giang kết luận một câu hỏi gọn lỏn:

- Vậy anh có đi không? Chúng tôi lấy vé máy bay nhé.

Tôi “nóng máy” gật ngay:

- “Đi thì đi”.

Kinh Kha qua sông Dịch 

Thế là chuyến đi bất ngờ của tôi về quê hương được ấn định từ ngày 25 đến 27-12 vừa qua. Thật ra từ mấy năm trước, mỗi lần báo Văn Nghệ về VN tặng quà, tặng nhà tình thương cho đồng bào nghèo, tôi vẫn còn đủ sức “chiến đấu” với anh em, từ Lộc Ninh đến Biển Hồ Campuchia, đến Tiền Giang, Đà Lạt tôi đều có mặt. Nhưng mỗi năm tuổi một cao, sức yếu không còn đủ sức “trường chinh” nữa.

Năm nay đã 80, tưởng rằng anh em cho yên thân “dưỡng già” trong cái chung cư mục nát này. Nhưng tiếng gọi của quê hương, của những người nghèo khó lại bất ngờ bật dậy, nói theo kiểu chữ nghĩa linh tinh ở đây là nó bật dậy “đột xuất”!

Tôi theo dõi tin thời tiết trên truyền hình, miền Bắc đang vào đợt rất lạnh, có hôm dưới 13 độ C, tôi hơi lo cho “cái thân già” này. Nhưng nhớ lại những ngày nằm trong trại tù cải tạo ở Sơn La, trời lạnh 3 độ C mà chiều vẫn phải tắm nước suối lạnh buốt còn chịu được thì có xá gì cái lạnh Hà Nội. Thế là thêm “dũng khí” ra đi, cứ như Kinh Kha qua sông Dịch vậy. Đi chuyến này rồi về có “bỏ mạng nơi xa trường” cũng đáng lắm.

Xin bạn đừng cho rằng tôi “quan trọng hóa” chuyến đi này. Ở vào tuổi tôi, nhiều bạn bè đã ra đi, nhiều bạn mới năm trước còn dong chơi đây đó, nay đã nằm bẹp, muốn đi đâu cũng không đi nổi. Bây giờ, tôi đi bộ hàng ngày chỉ 15 phút đã thở “bở hơi tai”. Biết mình sức yếu rồi, chỉ còn điều an ủi cuối cùng là “làm được cái gì thì cứ làm, đi được đến đâu thì cứ đi”. Chẳng có điều gì báo trước cho cỗ máy xài đã 80 năm, không hư chỗ nọ cũng hỏng chỗ kia, lắp vá lung tung, đến lúc nó “bung” là hết lết nổi. Do vậy mà chuyến đi của tôi hoàn toàn nằm ngoài dự tính và ngoài cả ý muốn, nhưng cũng phải “liều”.

Bạn đã đọc câu chuyện vui tôi gửi đến quý bạn tuần trước: Ở VN “không liều thì không sống được”. Cho nên tôi đi chuyến này cũng là liều. Bởi tôi biết rất rõ, đi với “cánh Văn Nghệ Úc” là đi liên miên, ngồi xe vào đường làng xóc như nhảy mambo, cuốc bộ đường ruộng hàng vài cây số, đi liên miên để đến được nhiều nơi.

Đầu năm, cho tôi được tậm sự đường dài với bạn đọc thân mến của tôi thế thôi. Năm sau chẳng biết còn đủ sức, đủ minh mẫn để hầu chuyện bạn đọc nữa không.

Người Sài Gòn tiết kiệm cả đêm Giáng Sinh

Đêm 24-12, tôi đón Giáng Sinh ở Sài Gòn, vốn lười đi và tiết kiệm nên nằm nhà coi Ti Vi. Từ ngày phố xá Lê Lợi, Nguyễn Huệ trang hoàng đón Giáng Sinh và Năm Mới, tôi chưa hề bước chân ra đến mấy con phố chính rộn ràng đó. Dường như với người già ở thành phố này, nói chung, họ vẫn nghĩ năm nào cũng như nhau thôi, có đi xem cũng chẳng thấy gì khác. Vả lại năm nay đời sống quá khó khăn, những thứ đèn đóm xa hoa, năm nào cũng phải có cho đủ “lệ bộ” thôi, chứ khó mà vui nổi khi còn trăm thứ lo bù đầu.
 
Vô tình, những thứ đó dành cho những người giàu hay ít ra cũng đủ ăn đủ mặc. Dân nhà nghèo năm nay lo chạy gạo, lo thất nghiệp, tiết kiệm cả đến một cuốc xe đi hưởng thú vui không mất tiền, tức là không mất “phí”. Cái gì chứ nghe đến “phí” là dân nghèo hết hồn rồi.
 
Mất tiền đổ xăng, chẳng lẽ không uống ly nước mía, thôi, thà ở nhà, tiết kiệm được cho gia đình bữa ăn sáng, để dành tiền nộp phí sử dụng đường bộ. Đấy là một sự thật, ít ai nghĩ đến.

Tôi chỉ dám thức đến 11g đêm bởi sáng sớm hôm sau, 05giờ đã phải thức dậy ra máy bay. Coi như phải “bỏ quên đêm Giáng Sinh”. Chuyến Jestar cất cánh từ Tân Sơn Nhất lúc 07g30 phút, sau 1g45 phút sẽ đến sân bay Nội Bài. Jestar là hãng hàng không giá rẻ nhất tại VN bây giờ. Nếu lấy vé trước 1 tháng hoặc 1 tuần, giá sẽ rẻ hơn nhiều. Chỉ bằng nửa giá Air VN và ngang với giá xe lửa có giường nằm. Khoảng hơn 1 triệu đồng 1 lượt Saigon – Hanoi.

Tất nhiên bạn lấy vé khứ hồi sẽ còn được bớt thêm nữa. Máy bay lớn, khoang hành khách chật chội, tất nhiên không “sang” bằng những hãng khác, nhưng cũng không tệ. Khi máy bay sắp hạ cánh, phi hành đoàn thông báo nhiệt độ tại Nội Bài là 14 độ C. Cô gái ngồi cạnh tôi lè lưỡi rùng mình. Cô vận chiếc quần soọc để khoe cặp đùi dài trắng nhễ nhại. Có lẽ cô ra Hà Nội lần đầu.

Tôi “trang bị” khá kỹ, áo khoác dầy cộm, khăn len quàng cổ, những thứ hàng “son” mua ở chợ Đà Lạt từ mấy năm trước, nằm kỹ trong đáy tủ, bây giờ mới “phát huy tác dụng”.

Về quê hương mà chưa biết đó là quê mình

Từ sân bay Nội Bài, chiếc xe 16 chỗ chạy thẳng một lèo về Thái Bình. Con đường khá dài, ngồi ê ẩm mới tới nơi tôi đã sinh ra và lớn lên rồi bỏ xứ ra đi. Gần 3 tiếng sau chúng tôi tới giáo sứ Phục Lễ. Ngôi nhà thờ rất lớn, với những hàng cây được nắn tỉa công phu quanh những khu vườn sạch sẽ làm tôn thêm vẻ trang nghiêm của nơi này.
 
 Người đón tiếp chúng tôi là cha Thao, rất lịch lãm, trẻ và đẹp trai không kém gì tài tử màn bạc. Cha đãi đoàn một bữa cơm khá thịnh soạn. Mọi chương trình đã được hoạch định từ trước cả chỗ ăn chỗ ngủ. Nhưng để khỏi làm phiền nơi tôn nghiêm và có tự do hơn, chúng tôi xin phép cha cho ra nghỉ ở khách sạn bên ngoài.

 


                                                                                                      Nhà thờ giáo sứ Phục Lễ

Đó là một kiểu “nhà nghỉ” ở giữa những con đường lớn. Có nơi treo bảng là “nhà ngủ” cho tiện việc sổ sách. Phòng chật hẹp, cũng có máy lạnh, toilet nhưng có vẻ hơi bầy hầy, bạn kiếm miếng xà bông cũng không ra. Đêm giữa đồng quê nghe ếch nhái kêu cũng vui tai. Tôi chợt nhớ ra là tôi rời quê ra đi vào năm 1950, đến nay đã hơn 60 năm tôi mới được ngủ lại ở chính quê hương mình.

Nhìn khung cảnh đồng quê trước mặt mơ hồ trong ánh đèn đêm, dường như nó vẫn vậy, không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là ở con người. Tôi thật sự xúc động khi nhớ lại những con đường, những mái nhà, những ngôi trường tôi đã từng ê a học và những khuôn mặt từ xa xưa. Tất cả như còn đang lẩn khuất đâu đây và đang chờ đợi ngày chúng tôi trở về.

Nhưng đồng thời với cảm tưởng ấy là ý nghĩ thực tế hơn, có lẽ đây là lần cuối tôi nghỉ lại nơi này. Niềm vui và nỗi buồn đan xen trong cái đêm “hội ngộ” hi hữu này. Đêm đó dù rất mệt nhưng tôi vẫn không tài nào nhắm mắt ngủ yên được.

Sáng hôm sau trở lại nhà thờ Phục Lễ, nghe các giáo dân nói chuyện tôi mới biết giáo sứ này thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Vậy mà từ hôm qua tôi cứ tưởng giáo sứ thuộc huyện khác, mãi đến lúc đó tôi mới biết xã này thuộc huyện mình. Cách huyện lỵ Quỳnh Côi có 4 km, tức là cách làng An Hiệp của tôi 9 km. Bỗng dưng tất vả trở nên thân thuộc quá.

Buổi phát quà tại giáo sứ Phục Lễ

Đúng 9 giờ sáng buổi phát quà bắt đầu ngay tại sân sau nhà thờ Phục Lễ. Chúng tôi thấy việc tổ chức phát quà cho đồng bào nghèo ở một nơi như thế này là rất phù hợp. Nếu tổ chức ở một trụ sở hay ủy ban nào cũng bất tiện vì khẩu hiệu cờ quạt lung tung… Buổi phát quà cho cả đồng bào theo đạo Thiên Chúa và đạo Phật, không hề có sự phân biệt nào. Hơn 100 người đã tề tựu đông đủ, vài người “giàu lắm” cũng chỉ có chiếc xe đạp cũ. Phần quà gồm 2 gói thực phẩm và 100 ngàn tiền mặt.
 
Đến nhận quà, hầu hết là các cụ già, các cô gái và em nhỏ vừa đủ tuổi xách được gói quà khoảng 4 kg. Quan sát những người dân ở đây, tôi không thấy điều gì khác biệt với những người dân ở các địa phương miền Nam mà tôi đã từng đi qua. Có lẽ người nghèo ở đâu cũng giống nhau cả thôi, quần áo “thời đại si đa” đủ mốt, đủ màu, đủ quốc tịch, chữ ăng lê trên ngực áo đủ kiểu kể cả kiểu “I ♥ you” trên áo các em nhỏ chưa đủ lớn khôn. Khác một chút là mùa lạnh nên ai cũng mặc vài ba chiếc áo chằng đụp nên có vẻ có da có thịt hơn.

 


Các cụ già chờ phát quà tại sân sau nhà thờ Phục Lễ

Tôi cũng được anh em cử ra đứng phát tiền sau khi các cụ đã lãnh quà. Có cụ bê không nổi, rớt lung tung, người khác phải tới “khuân” giúp. Có cụ quên cả lãnh tiền, dù đã được nhắc nhở, tôi phải kéo áo cụ lại mời cụ lãnh giùm cho. Có cụ nói “các ông cho nhiều quá, chưa có “ông” nào cho nhiều như thế”.

Tiếng gọi nhau í ới, vài người xúm lại “thồ” mấy phần quà trên chiếc xe đạp cũ. Họ vẫn còn quen với kiểu phương tiện vận chuyển thời chiến tranh đi tản cư, di cư.


Các cô gái cùng nhau đưa quà lên xe đạp “thồ” về nhà

Ngay hôm đó đoàn lại tiếp tục đi đến 4-5 nhà thờ khác nằm trong địa phận cai quản của cha Thao ở giáo xứ này. Đường làng nhỏ hẹp như bờ ruộng, có nơi xe gắn máy đi còn chật.

Chúng tôi cuốc bộ từng chặng chừng 1-2 cây số. Thú thật, nếu không có mấy ông bạn mang giúp hành lý, tôi không đi nổi. Ở nơi nào bà con cũng có vẻ lạ lẫm với đoàn làm từ thiện từ nước ngoài về.

Thậm chí có nhiều người chẳng biết nước Úc ở đâu, nếu không giải thích, họ vẫn cứ nghĩ rằng đó là nước Mỹ. Bà con ở miền này biết đến nước Mỹ và đồng đô la chứ quả tình không biết đồng đô la Úc hoặc đô la Canada.


Cha Thao cai quản 11 nhà thờ tại Quỳnh Châu và tác giả

Xin bạn hiểu là rất nhiều người biết có đồng đô la chứ chưa nhìn thấy hoặc chưa được cầm đến bao giờ. Đó là điều ngược hẳn với dân Hà Nội. Ai cũng biết giá trị của từng đồng đô la và nhiều người định giá trị nhiều món hàng bằng đô la và tiêu bằng đô la mạnh tay hơn các cụ từ nước ngoài về VN đấy. Suy ra từ đấy, ở miền Bắc sự cách biệt về giàu nghèo giữa thành thị và thôn quê quá xa. Xa hơn cả miền Nam.

Trở lại chính nơi chôn rau cắt rốn

Buổi chiều chúng tôi lại lên đường trở về Hà Nội. Trên đoạn đường đó, chúng tôi đi qua huyện Quỳnh Phụ và qua cầu Hiệp. Đúng ra tên huyện cũ của tôi là Quỳnh Côi, nhưng sau này, các ông “nhà nước mới” sát nhập hai huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi là một, đổi thành huyện Quỳnh Phụ.
 
Rồi nhiều huyện, nhiều tỉnh thấy sự cai trị bất tiện nên lại tách lại các tỉnh huyện như cũ. Như Hà - Nam- Ninh, Vĩnh - Phúc - Yên….Nguyên cái việc sửa tới sửa lui này cũng tốn hết biết bao tiền của công sức của nhân dân. Giấy tờ đều phải làm mới để rồi làm lại như cũ. Sự thiếu nghiên cứu, thiếu kinh nghiệm, với những bộ óc thích “đổi mới vô tội vạ” đã làm điêu đứng người dân không ít.

Ngày nay, cái phố huyện nhỏ xíu bây giờ được nâng lên thành thị trấn và đặt lại cái tên Quỳng Côi quen thuộc, nhưng huyện thì vẫn là huyện Quỳnh Phụ.

Đi qua con đường đúng 5 cây số từ thị trấn về phố Bến Hiệp, tôi bồi hồi nhớ đến những năm tháng từ phố tôi đi học trường huyện. Con đường trải đá, hai bên đã mòn nhẵn, mỗi ngày có hai chuyến xe đò chạy từ Bến Hiệp đến tỉnh lị Thái Bình.

Con đường đã in đậm thuở ấu thơ của tôi, thuở mới tập và thích làm người lớn, thuở bắt đầu biết yêu vụng nhớ thầm cô hàng xén hoa khôi của phố Hiệp. Bốn năm dài như thế, mỗi ngày đạp xe đi trên con đường cái quan này. In đậm trong khối óc trẻ thơ của tôi là vào năm 1943, hai bên bờ cỏ, dọc theo con đường này có rất nhiều người chết đói, nằm la liệt bên đường.

 Có những xác chết, vì không chôn kịp, đã cháy đen vì nắng như bị hỏa thiêu. Hầu hết họ là những người từ phương xa đến xin ăn ở huyện tôi. Nhà tôi đã bắt tôi phải nghỉ học cả tháng để tránh bệnh tật lây lan từ quãng đường kinh hoàng này. Bây giờ trở lại, đó là những hình ảnh bi đát nhất vẫn còn như trước mắt tôi.

Chùa làng Sơn Đồng và ông sư tự thiêu

Đi gần hết quãng đường này, chúng tôi vì tò mò ghé vào làng Sơn Đồng thăm ngôi chùa có vị sư mới tự thiêu cách đây hai tháng. Làng này cách làng tôi vài cái bờ ruộng và một lũy tre thưa. Bà chị ruột tôi lấy chồng ở làng Sơn Đồng. Anh chị tôi có chừng 7- 8 đứa con hiện ở cả bên Mỹ. Các cháu đề nghị tôi ghé qua chùa thăm lại cảnh xưa có đúng như bức ảnh đã được đưa lên internet không và lý do nào nhà sư đã tự thiêu.

Chúng tôi đến ngôi chùa Sơn Đồng vào buổi quá trưa “trời không nắng cũng không mưa, chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. Không khí chùa ngoài vắng lặng, không một bóng người. Tôi lần ra phía sau chùa vãn cảnh, bất ngờ gặp được sư thầy, có lẽ là vị sư tạm thời trụ trì ở chùa này sau khi vị sư chính tự thiêu.

 Tôi gợi lại vài kỷ niệm cũ chứng tỏ mình là người cũ của địa phương này. Hồi đó bố tôi thường sai tôi sang chùa này mời cụ sư Hinh sang nhà tôi đàm đạo. Cụ sư Hinh rất phong khoáng trẻ trung nên tôi nhớ mãi tính cách đặc biệt của cụ. Vị sư thầy trụ trì mới này nhận ra ngay tôi là “người nhà”. Vị này tự giới thiệu tên thật là Phạm Tiến Hường.


Sư thầy Phạm Tiến Hường và Văn Quang trước sân chùa Sơn Đồng

Sư thầy ra gặp anh em trong đoàn và thuật lại chuyện vị sư đã tự thiêu. Thầy nói khá chi tiết. Tôi chỉ có thể tóm tắt vài điểm then chốt. Vị sư tự thiêu là thầy Thích Thanh Hoằng; tên tục là Nguyễn văn Mười.

Thầy viết thư tuyệt mệnh nói rằng “Thầy không oán trách phật tử, tự thầy oán trách thầy”.


Vi Túy phỏng vấn sư thầy Phạm Tiến Hường

Nhưng theo thầy Phạm Tiến Hường thì một buổi sáng thức dậy, thầy Thích Thanh Hoằng bị “người ta” lấy hết toàn bộ đồ dùng của thầy, trong đó có cả máy vi tính và nhiều sách vở. Thầy buồn lắm nên tự thiêu.

Tôi không thể suy luận hai chữ “người ta” đây là sư thầy Hường đã ám chỉ nhân vật nào hay cơ quan nào.

Vì một lý do nào đó, thầy Hường cũng chỉ nói hai tiếng “người ta”, nhưng bạn đọc thừa thông minh có thể hiểu đó là ai và tại sao thầy Hường không thể nói rõ hơn được.

Thầy Hường chính là người đã ở bên và giúp đỡ săn sóc cuộc sống cho thầy Thích Thanh Hoằng từ 10 năm nay nên biết rất rõ. Thầy Hoằng đã đổ 10 lít xăng lên người để tự thiêu vào buổi sáng. Sau đó vài ngày, chùa định làm một đám tang lớn nhưng lại được phường xã đề nghị cho đám táng đi vòng quanh con đường phía ngoài chùa rồi an táng thầy phía sau miếng đất của chùa Sơn Đồng.

Cây cầu Hiệp mới, nối liền Hải Dương- Thái Bình

Chúng tôi dừng lại chùa Sơn Đồng khoảng hơn 1 tiếng, buổi chiều anh tài xế trẻ đưa đoàn ra Bến Hiệp. Đây chính là nơi tôi đã sống suốt thời thơ ấu. Dãy phố có chừng vài chục căn nhà lầu, nơi có một số gia đình người Hoa làm ăn buôn bán cùng người Việt. Ngày nay chỉ còn lại là những dẫy nhà tranh hai bên đường. Chỉ có cái cầu Hiệp mới làm xong, đó cũng là đặc điểm nổi bật nhất của tỉnh Thái Bình.

 


Lối lên cầu Hiệp hiện nay

Cầu Hiệp bắc qua sông Luộc, nối liền đường bộ giữa 2 tỉnh Hải Dương - Thái Bình, cầu này thuộc 2 xã Hưng Long (huyện Ninh Giang) Hải Dương và Quỳnh Giao (huyện Quỳnh Phụ) Thái Bình, được khởi công xây dựng từ năm 2008.

 Cầu Hiệp có chiều dài 542,5m, rộng 12m. Buổi chiều trời mưa dăng nhẹ như mưa phùn mùa đông, cây cầu uốn cong nổi lên trên nền trời khá hùng vĩ giữa vùng quê nghèo. Tôi nhớ đến những lần bọn nhóc chúng tôi trần như nhộng, bơi qua sông Luộc giữa mùa nước lớn, dòng phù sa đỏ quạch chảy cuồn cuộn, sang bên kia sông ăn trộm vài trái bắp với cái lý do ngây ngô rằng bắp Hải Dương mới ngon. Và chỉ bơi qua sông chạy trốn về bờ nhà khi có người đuổi theo hô hoán, đứng trên bờ chửi theo. Tuổi trẻ ngỗ nghịch có vài phút sống lại.


Cầu Bo Thái Bình cũ và những cô gái thuở xa xưa

Cây cầu này khiến tôi nhớ tới cây cầu Bo, lối bắt đầu vào tỉnh lỵ Thài Bình, nơi bà ngoại tôi sinh sống. Mỗi lần tôi được “lên tỉnh”, nhìn thấy cây cầu Bo như nhìn thấy môt thiên đường mới. Đó mới là ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi về quê ngoại. Tôi nhớ đến mấy câu vè của bọn học trò vẫn hát om xòm: “Thái Bình có cái Cầu Bo. Đêm đêm trai gái lại bò lên chơi. Cứ 5 mét lại một đôi ...”.

Bây giờ Thái Bính có tới 2 cây cầu Bo, một mới và một cũ, nằm song song, nhưng chuyến đi này tôi không đi qua cầu Bo. Chiếc cầu Hiệp đã thay thế, nhiều xe chạy đường Hà Nội đã thay đổi lộ trình chạy qua đường cầu Hiệp sang Hải Dương ngắn hơn và đường xá tốt hơn.



Buổi tối về đến Hà Nội, chúng tôi quá mệt mỏi chỉ còn nước lăn ra ngủ. Trong chuyến đi của đoàn có một ông bạn từ Cali cũng tháp tùng. Ông Tiến, tục gọi là Tiến râu, người nằm chung phòng với tôi và mang vác hành lý, giúp đỡ tôi rất nhiếu trong suốt cuộc hành trình này. Thế là có cả độc giả từ Mỹ về cùng làm từ thiện cho vui vẻ.

Hà Nội đối với tôi chỉ là một trạm dừng chân đợi tàu xe. Nhưng cũng có nhận xét rất “vô tư” rằng người Hà Nội giàu hơn người miền Nam. Có rất nhiều nguyên nhân lý giải điều này sau khi tôi tìm gặp một vài người bà con, kẻ giàu nứt đố đổ vách, người nghèo kiết xác như đứa cháu tôi ở giữa lòng Hà Nội.

Buổi tối chúng tôi trở về Sài Gòn trên chuyến bay cất cánh vào 19g30 hoàn tất chuyến đi làm từ thiện lần đầu tiên ở miền Bắc.

Thưa thật với bạn đọc, ba hôm sau hai bắp đùi tôi vẫn còn đau, leo lên cầu thang lầu 1 chung cư không muốn nổi. Thế mới thấy rõ mình đã “quá đát” và ngồi tiếc nuối thời trai trẻ. Nhưng dù thế nào tôi cũng bằng lòng với mình vì đã “làm được gì cứ làm, đi được đến đâu cứ đi”. Đó chính là cuộc sống “có lý” của tuổi già, phải không bạn?

Văn Quang

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam


Tội ác của đảng cộng sản Việt Nam

 


Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nguyễn Văn Lợi
(VNN)

Nhắc tới tội ác của Cộng Sản Quốc Tế (CSQT) nói chung và tội ác của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) nói riêng, có thể nói hầu hết mọi người Việt Nam, chẳng còn ai mơ hồ về bản chất tàn bạo của chế độ này, vì không nhiều thì ít, chúng ta đều là nạn nhân của chúng.


Bản chất tàn bạo đó đã được chính ông tổ CS là Mác Lênin xác nhận là rất cần thiết để tiến hành cuộc cách mạng xây dựng nền chuyên chính vô sản.
 
Theo Mác, muốn xây dựng nền chuyên chinh vô sản, cần phải đạp đổ tất cả những gì hiện có, mà muốn đạp đổ mọi thứ thì phải có những con người không có gì cả như tiền của, gia đình, vợ con v.v... để mất. Do đó, cần có một đội ngũ cán bộ xuất thân từ những con người vô sản trong giới bần cố nông và công nhân.
 
 Tuy nhiên, Mác cũng nhận ra rằng, trong giới vô sản cũng có những người lương thiện không thể làm điều ác để có thể đạp đổ tất cả. Cho nên muốn xây dựng chế đô.
 
CS thành công thì phải sử dụng những thành phần bất lương, côn đồ, hung dữ trong giới vô sản, vì chỉ những thành phần này mới có thể tận dụng bạo lực để trở thành cán bộ cách mạng của giai cấp vô sản.

Ta hãy điểm qua một số thành phần lãnh đạo tiêu biểu trong ĐCSVN làm ví dụ. Từ Hồ chí Minh (HCM), lãnh tụ CSVN, với bản chất độc ác lưu manh, lường gạt (mà nhiều người đã biết) giống như tên bạo chúa Stalin, đến ông sú chột Lê Đức Anh, gốc cai thầu chuyên đánh đập công nhân cao su của Pháp.
 
 Từ anh thiến lợn Đỗ Mười với bản chất đồ tể có sẵn đến tên Trần quốc Hoàn, một gã côn đồ lưu manh chuyên nghề đánh thuê chém mướn ở Hải Phòng ta sẽ thấy rõ điểm đó. Điều quan trọng cần biết rõ về HCM khi ông ta chỉ là một tên phản quốc chứ không phải là người thương dân yêu nước như có người lầm tưởng, nên dân tộc ta phải chịu biết bao khổ đau chồng chất suốt 76 năm nay.
 
 Việc HCM là tên phản quốc đã được chính văn khố của Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Bang Sô Viết tiết lộ năm 1991 sau khi Liên Sô sụp đổ. Theo tài liệu ghi rõ thì HCM đã được Đệ Tam CS quốc tế huấn luyện có trả lương kể từ năm 1924 để thi hành việc cộng sản hoá toàn cõi Đông Dương bao gồm cả Mã Lai và Thái Lan theo lệnh của Stalin.
 
Ta cũng thấy rõ nét bản chất phản quốc của HCM khi ông ta xin học trường Pháp để mong làm tay sai cho Pháp nhưng không thành. Cũng với bản chất tay sai, đàn em là Tố Hữu chỉ khóc Stalin khi hắn chết, mà không có một giọt nước mắt cho Tổ Tiên và đồng bào của mình v.v....

Tội ác CSVN kể ra thì nhiều vô cùng tận và toàn là những tội rất nặng, đến nỗi lá rừng ghi không hết và nước đại dương rửa cũng không thể sạch.
 
Đó là những tội ác mang đặc tính diệt chủng chống nhân loại. Những tội điển hình như vụ: Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng, Tết Mậu Thân 1968, Tù Cải Tạo sau 1975, Bán Đất Dâng Biển cho ngoại bang v.v... Dĩ nhiên, chúng ta không thể viết từng chi tiết của mỗi tội cũng như không thể viết hết tội ác của chúng trong phạm vi bài này, mà chỉ có thể kể tóm tắt một số tượng trưng mà thôi.

Tội ác đầu tiên khi HCM vừa áp đặt chủ nghĩa CS trên đất VN là thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930-1931.
 
 Trong thời kỳ này, khẩu hiệu được áp dụng triệt để là: Trí, Phú, Địa, Hào phải đào tận gốc trốc tận rễ. Nghĩa là, CSVN chủ trương là phải tiêu diệt bốn thành phần này thì giới vô sản như bần cố nông và giai cấp công nhân mới lãnh đạo được phong trào CS trên đất nước.
 
 Trong một xã hội dân chủ pháp trị, ai giết vô cớ dù chỉ một người thôi cũng phải đền mạng. Nhưng với xã hội VN ở thời kỳ này, việc giết bốn thành phần trên khi gặp ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào mà không cần xét xử, không cần biết đúng sai tốt xấu, có tội hay không có tội, chỉ là "chuyện bình thường".
 
Chính cái tưởng là chuyện bình thường nhưng vô cùng "dã man" ấy đã nhân tội ác lên đến trăm ngàn lần so với xã hội có luật pháp nghiêm minh.

Tội ác kế tiếp là Cải Cách Ruộng Đất (CCRD) từ năm 1949-1956 ở miền Bắc VN. Với dân số khoảng 16 triệu người thời bấy giờ, CCRD đã giết oan 173,008 thường dân vô tội theo thống kê trong cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000", do Viện Kinh Tế VN CS mới xuất bản trong nước.
 
 Xem thế thì cứ chưa tới 100 người, có một người bị giết. Đây là một thời kỳ kinh hòang cho toàn xã hội miền bắc.

Nói đến tội ác trong CCRD, ông Nguyễn Minh Cần, cựu phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Thành Phố Hà Nội, cho biết là có bốn nét chính nổi bật nhất cần quan tâm. Đó là:

Thứ nhất. Tội tàn sát thường dân vô tội - tội ác chống nhân loại. Người nông dân VN vốn hiền hòa, chất phác, đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp cho đảng, bỗng dưng bị đảng giáng cho một đòn chí mạng. Tầng lớp năng nổ, giỏi, biết làm ăn thì bị gán cho là địa chủ, cường hào ác bá, bị triệt hạ hết đường sinh sống.
 
 Những cán bộ của đảng ở nông thôn, đã từng vì đảng mà chịu nhiều hy sinh cũng bị quy là phản động, gián điệp, Việt gian v.v... để rồi bị trừng trị, bị bắn giết man rợ.

Thứ hai. Tội phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy ngàn năm của dân tộc. Truyền thống hiếu hòa, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, lá lành đùm lá rách đầy tình người, rất đậm đà ở nông thôn VN được dân ta xây dựng hàng ngàn năm đã bi. CSVN phá vỡ trong thời kỳ CCRD.

Thứ ba. Tội phá hoại luân thường đạo lý dân tộc. Trong lịch sử dân tộc VN, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên cách quái đản như trong thời kỳ CCRD.
 
Con cái phải bịa chuyện gian dối đấu tố cha mẹ (mà Trường Chinh đã đấu tố cha ruột đến chết để làm gương). Vợ chồng, anh em phải đấu tố lẫn nhau. Hàng xóm láng giềng phải tìm cách vu khống, nói xấu gây căm thù, giáng hoạ cho nhau.
 
Kẻ bị đấu tố bị trói, bắt quì gục mặt như một tội nhân trước đám đông bao quanh, chịu đủ loại cực hình, phải gọi người đang đấu tố mình là ông là bà và phải xưng là con dù người đó chỉ là đúa con nít hay nó chính là con mình. Người đứng ra đấu tố thì gọi nạn nhân là "mày", là "thằng nọ", "con kia" rồi mắng nhiếc đủ điều thô tục v..v..
 
Cuối cùng nạn nhân bị giết bằng nhiều cách như xử bắn, hay chôn toàn thân xuống đất chỉ hở cái đầu, rồi dùng trâu kéo cầy cho đứt cổ nạn nhân trước sự chứng kiến của quần chúng, kể cả thân nhân cũng buộc phải chứng kiến dể tạo khủng bố tinh thần; nhiều người nhất là trẻ em bắt phải chứng kiến đã khóc ré lên rồi ngất xỉu, nhiều trường hợp người trong gia đình nạn nhân bị điên loạn mất trí, con cái bơ vơ không nơi nương tựa v.v... Thật là một bi kịch hãi hung! cảnh địa ngục trần gian!!!

Thứ Tư. Tội phá huỷ truyền thống tâm linh và văn hóa dân tộc. Trước CCRD, các nhà thờ, nhà chùa, đình làng v.v.. đều có ruộng đất riêng để lo sửa sang tu bổ nơi thờ phượng, cúng tế hàng năm, cũng như nuôi sống tu sĩ, và nhân sự chăm lo việc chung...
 
Nhờ thế hoạt động tôn giáo tâm linh, từ thiện được điều hòa. Với CCRD, ruộng đất bị trưng thu để chia cho nông dân, các nơi thờ tự đình làng trở nên điêu đứng, cuộc sống tâm linh hoàn toàn bị xóa bỏ. Chữ "thiện" chữ "nhân" chẳng còn ai nhắc đến.

Tóm lại trong CCRD, nhiều người vô tội đã chết oan, có người tự tử vì quá sợ hãi, vì bị vu khống. Những tiếng thét oan khiên, máu đổ ra khắp nơi, nước mắt khô cạn vì không còn để chảy. Nhiều người lúc ấy chỉ mơ ước được làm con chó hay con mèo cho yên thân...
 
CCRD là một tội ác phản thiên nhiên, phản vũ trụ, vì nó đã bắt con người, dù có trí khôn hơn con vật, phải giết chết cả những người thân yêu nhất của mình như cha mẹ, vợ chồng con cái. Hành động trên còn thua xa cả loài lang sói, vì lang sói không bao giờ giết chết hay ăn thịt đồng loại.

Những năm 1956-1958, một số đảng viên trí thức như Trần Dần, Nguyễn hữu Đang, Lê Đạt bị bắt giam tù đầy trên 20 năm vì "tội" lập ra tờ báo "Nhân Văn" và "Giai Phẩm". Năm 1959, CSVN thi hành chính sách cướp bóc tài sản và các tư liệu sản xuất dưới hình thức "công tư hợp doanh" ở thành thị và "hợp tác xã nông nghiệp" ở nông thôn.

Năm 1961, CSVN đánh vào các tôn giáo và khủng bố các vị tu hành, phá chùa, nhà thờ hoặc sử dụng vào các mục đích ngoài tôn giáo.
Trong cuộc chiến xâm lăng miền nam trước 1975, VC đã thủ tiêu hàng ngàn viên chức chính phủ VNCH ở vùng mất an ninh.
 
 Đã chôn sống hơn 3000 thường dân vô tội ở Huế hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Đã bắn hỏa tiễn vào đại lộ kinh hoàng giết cả chục ngàn người dân vô tội vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.
 
 Đã pháo kích vào trường Tiểu Học Cai Lậy giết hàng trăm em học sinh trên dưới 10 tuổi vào năm 1974. Có thể nói, người dân miền Nam sợ chúng như sợ thần chết, hễ chúng tới đâu là người ta tìm cách chạy trốn về phía quân đội VNCH để tìm sự che chở.

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, VC hành hạ các quân cán chính VNCH trong các nhà tù nơi rừng thiêng nước độc nguỵ trang là trại cải tạo. Tù nhân bị lao động khổ sai, bị tra tấn, hành hạ đến suy nhược cả tinh thần lẫn thể xác, thần kinh luôn luôn bị căng thẳng, lao động qúa sức lại thiếu ăn, đau không cho thuốc men, khiến cả ngàn người đã bị chết.
 
Mặt khác, theo kết qủa điều tra của hai giáo sư đại học Jackson và Desbarats thì có ít nhất 65,000 người bị hành quyết trong các trại tù từ 1975-1983, đó là con số khiêm nhường, thật ra nó còn ghê gớm hơn nữa. Trong khi chồng bị tù tội, thì vợ con ở nhà bị tịch thu nhà cửa và đuổi đi vùng kinh tế mới, hoặc sống lê lết bên lề đường hay dưới gầm cầu cống rãnh.
 
 Con trai của họ không được vào đại học dù là học sinh xuất sắc, mà bị bắt di lính. Đã có khoảng 60,000 người là con em của thành phần này bị chết trên chiến trường Cambốt hay biên giới Việt Trung, và khoảng hơn 100,000 người bị tàn phế. Trong khi con gái của họ rơi vào cảnh phải làm điếm để phụ giúp mẹ và các em.

Cũng sau một thời gian ngắn cưỡng chiếm miền Nam, CSVN đã biến cả nước thành nhà tù vĩ dại dưới tên "Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam"; chúng tiến hành cải tạo xã hội miền nam, mà theo cựu Đại Tá cộng sản Bùi Tín, thì đó thực chất chỉ là ăn cướp tài sản của nhân dân, xóa sạch nền kinh tế thị trường tiến bộ và phá nát hạ tầng cơ sở có sẵn của miền Nam, khiến cả nước lâm vào cảnh đói nghèo lạc hậu có ảnh hưởng cho đến ngày hôm nay. Ông Bùi Tín còn kết án chế đô.
 
 VC độc ác vô nhân, vì đã hành hạ hèn mạt quân cán chính VNCH khiến nhiều người phải chết trên rừng thiêng nước độc như trên đã nói, đã phá nát nghĩa trang quân đội và thu vàng bán bến, gỉa vờ cho phép người vượt biển ra đi để tịch thu tài sản của họ, nhưng sau đó lại cho lính bắn chìm ghe vượt biển, giết hại nhiều đồng bào vô tội.

Giữa năm 1978, VC mở chiến dịch đánh tư sản mại bản để cải tạo công thương nghiệp, chúng đã ăn cướp tài sản của hơn 40,000 gia đình của người dân miền Nam, khiến họ trở thành trắng tay và phải liều chết vượt biên vượt biển ra đi tìm tự do, tạo nên phong trào thuyền nhân bi hùng nhất trong lịch sử nhân loại; với nửa triệu người chết trên biển cả đã làm rúng động lương tâm nhân loại khi một số quốc gia đã kéo thuyền người tị nạn ra biển không cho cập bến khiến họ phải chết.
 
May mắn thay, Liên Hiệp Quốc biết được chuyện này nên LHQ đã phải họp khẩn ở Geneve ngày 14/11/1978 gồm 71 quốc gia tham dự để tìm phương cách giải quyết.
 
Kết qủa là LHQ đã tuyên bố vấn đề thuyền nhân VN là vấn nạn chung của thế giới và yêu cầu các quốc gia nếu có thuyền nhân cập bến thì phải tiếp nhận và giúp đỡ dưới sự bảo trợ của LHQ

Theo một thư tố cáo chưa được công bố, viết ngày 18/4/04 tại Virginia, HK, mà nhân chứng là Ông Trần H và Ông Hoàng Qúy cho biết thì để tạo lý cớ xâm lăng Cam Bốt năm 1978, CSVN đã đạo diễn tấn thảm kịch cực kỳ dã man, tàn bạo và ghê tởm.
 
Đó là, đêm 18/4/1978, VC đã tập trung mọi người vào các chùa và trường học, không phân biệt già trẻ lớn bé nam nữ và tắm máu 3,157 dân làng Ba Chúc ở biên giới Việt Miên rồi đổ tội cho Khmer Đỏ. Hành động ném đá dấu tay của bọn VC giết người nêu trên là để đánh lừa dư luận. Hành động ấy đã đến lúc cần phải được cho ra ánh sáng để công luận xét xử.

Tội ác kế tiếp là đảng CSVN đã bán đất đai và nhượng biển của tổ tiên cho Trung Cộng. Tội ác ấy đã được Thủ Tướng CSVN Phạm văn Đồng chính thức công nhận qua văn thư nhượng đảo và biển gửi cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu ân Lai ngày 14/9/1958: "Chính Phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa".
 
Với bản chất bán nước của CSVN, ngày 30/12/1999, Hànội đã bí mật ký kết với Trung Cộng Hiệp Định Về Biên Giới Trên Đất Liền. Và ngày 25/12/2000 ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá Trong Vịnh Bắc Bộ. Qua những hiệp định này, Việt Nam đã bị mất về tay Trung Cộng 720 Km vuông biên giới phía bắc VN, và 11.000 Km vuông Vịnh Bắc Việt, mất nguồn cá và các loại hải sản quan trọng nuôi sống dân VN, và mất tìềm năng dầu khí dưới lớp thủy tra thạch trong vịnh. Tội ác bán nước được tiếp diễn khi VC bắt bỏ tù Luật Sư trẻ tuổi Lê Chí Quang khi ông kêu gọi nhà cầm quyền hiện nay trong tiểu luận nổi tiếng "Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều".

Hiện tại, từ kế hoạch xuất cảng lao động ra nước ngoài đến nạn buôn bán phụ nữ làm cô dâu Đại Hàn Đài Loan cũng như nạn buôn bán trẻ em dưới vị thành niên sang Cambốt để làm điếm, mà VC chủ trương để lấy tiền bỏ túi, đang là mối sỉ nhục lớn cho dân tộc VN mà những ai quan tâm đều cảm thấy đau xót. Rõ ràng là nhà nước VC không quan tâm đến dân tộc và đất nước mà chỉ quan tâm làm sao giữ được độc quyền cai trị để có đặc quyền đặc lợi.

Tổng quát, kể từ khi HCM áp đặt chủ nghĩa CS phi nhân bản phản dân tộc trên đất nước ta năm 1930 cho đến nay, Đảng CSVN đã gieo rắc biết bao tai họa cho dân tộc và đất nước mà hậu qủa hiện nay là sự suy đồi về cả vật chất lẫn tinh thần với sáu nan đề chính mà dân tộc VN phải đối diện và giải quyết.
 
 Đó là: tàn phá môi sinh, băng hoại đạo đức, phân cực giầu nghèo, thiệt hại lãnh thổ, bất công xã hội, và thất thoát tài sản quốc gia.

Điều đau xót và đáng quan tâm mà mọi người Việt Nam yêu nước phải suy nghĩ là hiện tại dân tộc và đất nước VN nghèo nàn và tụt hậu nhất so với các nước láng giềng. Chính Thủ Tướng VC Phan văn Khải trong kỳ họp Trung Ương Đảng CSVN từ 6-13/1/04 đã thú nhận trước cử tọa: "...VN cần 20 năm nữa mới theo theo kịp Thái Lan...", nên nhớ Thái Lan trước năm 1975 chả hơn gì nếu không muốn nói là thua VNCH.
 
Tháng 9/05, cũng chính Khải tái xác nhận trước nhiều viên chức chính phủ và một số nhà kinh doanh tại Hànội là VN cần 15 năm nữa mới theo kịp Thái Lan. Ông Khải đưa ra những dữ kiện để hỗ trợ cho kết luận trên như phiá VN có lợi tức bình quân đầu người (BQĐN) là 400 dollars/năm với tỉ số phát triển là 8%, trong khi Thái Lan có lợi tức BQĐN là 1650 dollars/năm với tỉ số phát triển là 5%.
 
Thật ra qua hai lần thú nhận trên ta thấy rõ ông Khải có ba điều sai mà ông ta không biết, Thứ nhất, chưa đầy hai năm (1/04-9/05) mà VN đã phát triển và rút ngắn khoảng cách với Thái Lan được ba năm mà không chứng minh được là không đúng.
 
 Thứ hai, khi có tiền thì sẽ đẻ ra tiền, Thái Lan giầu hơn VN, họ sẽ dùng tiền đó để phát triển nhanh hơn VN gấp nhiều lần, nghĩa là BQĐN của họ sẽ tăng chứ không phải mãi mãi là 1650 đôla /năm để chờ ta theo kịp họ sau 15 năm.
 
Thứ ba, nếu ta lấy các dữ kiện ông Khải cung cấp để làm bài toán thì ta có kết qủa là cần hơn 50 năm chứ không phải 15 năm với điều kiện là các số đó không thay đổi, đây là điều không thể xẩy ra.

Có một điều chúng ta cần quan tâm là lãnh đạo VC xuất thân từ giới nông dân công nhân như trên Mác đã khẳng định, họ chỉ có khả năng bắn giết chứ không có khả năng xây dựng đất nước vì kiến thức kém, nên đất nưóc bị tụt hậu như ngày nay là lẽ đương nhiên, và ông Khải có nhận thức sai cũng chỉ là điều dễ hiểu.

Qua những dữ kiện trên, chúng ta thấy tội ác mà CSVN đã phạm thật vô cùng to lớn, và những tội ác ấy vẫn tiếp tục tái diễn nếu ngày nào CSVN vẫn còn thống trị dất nước.
 
Đây là điều không một người dân VN nào có thể chấp nhận kể cả những đảng viên VC yêu nước dù dã thức tỉnh hay chưa. Điều quan trọng là phải làm sao để mọi người VN nhìn ra để không vô tình tiếp tay nuôi sống chế độ này.
 
Khi mọi người nhìn thấy tầm mức tai hại của những tội ác này thì sẽ nỗ lực tiêp tay gỡ bỏ nó. Mặt khác, với một đất nước mà đa phần là giới trẻ trong khi cộng đồng ở hải ngoại đã bước sang thế hệ thứ ba, thì nhu cầu soi rọi sự thật lịch sử để giới trẻ thấy rõ tội ác của CSVN; và giai đoạn đen tối nhất của lịch sử đất nước trong 7 thập niên qua cần phải được chấm dứt, để đất nước có điều kiện tiến lên ngang hàng với thế giới trong thế kỷ 21 này. Đây là trách nhiệm nặng nề của tất cả con dân VN yêu nước.

Đối với thế giới, những tội ác của CSQT cũng đã gây khốn khổ cho nhân loại không ít, và những tội ác ấy cũng đã bị nhiều người kết án.
 
 Trong tài liệu "Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản" của sử gia Pháp là ông Stephane Courtois, giám đốc nghiên cứu thuộc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu về Khoa Học của Pháp, ông Stephane đã vạch ra một cách chính xác về tội ác của CS.
 
Đây là một bức tranh đen tối của lịch sử nhân loại mà theo ông, phải vạch ra để trả lại danh dự cho những người đã chết vì chủ nghĩa CS. Sau khi liệt kê những lãnh tu.
 
 CS tàn ác nổi tiếng trên thế giới như Lenine, Staline, Mao, Hồ chí Minh, Castro v.v..., ông đưa ra nhận xét: "... Vượt lên trên mức độ tội ác cá nhân hoặc tàn sát cục bộ địa phương theo hoàn cảnh, các chế dô. CS củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị..."

Ngày 25/1/06 vừa qua, Hội Đồng Âu Châu (HĐÂC), một cơ chế gồm 46 nước thành viên, đã thông qua bản Nghị Quyết 1481, nhấn mạnh đến nhu cầu cả nhân loại cần lên án và phơi bầy các tội ác của những chế độ cộng sản toàn trị.
 
Mặc dù Trung và Đông Âu không còn CS, nhưng HĐÂC vẫn có nhu cầu này vì những tội ác CS vẫn chưa được điều tra và những hung thủ chưa bị đem ra xét xử trong khi một số nước vẫn còn bị thống trị của bọn CS ác ôn này nên vẫn là mối đe dọa cho cả nhân loại.
 
Đối với người VN, nhu cầu lên án những tội ác của chế đô. CS không những để cho dư luận toàn thế giới biết dến, mà còn cho chính người VN, nhất là những người còn mơ hồ về tội ác của CSVN giác ngộ.
 
Một lần nữa, kẻ viết xin mọi người cùng tiếp tay phổ biến rộng rãi Nghị Quyết 1481, Qúi vị có thể vô web: queme.com để lấy tài liệu nghị quyết này.

Tháng 12/05 những nhà đấu tranh cho dân chủ của Trung Quốc mới ra mắt một cuốn sách tại Hoa Thịnh Đốn. Sách có tên là "Cửu Bình" tức là chín bài bình luận về những tội ác của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc kể từ khi chúng thống tri. Trung Hoa, mà tác gỉa là những người có qúa khứ là cộng sản.
 
 Trong cuốn đó đã lột hết tất cả những sự lưu manh tàn ác đối với dân tộc Trung Hoa của đảng CS Trung Quốc. Sách được đưa lậu vào lục địa từ Hồng Kông và bí mật chuyển đến tay những đảng viên cộng sản. Kết qủa là chỉ trong vòng một năm rưỡi đã có sáu triệu rưỡi (6.5 triệu) đảng viên, tức khoảng 10% đảng viên trả lại thẻ đảng. Đây là một kết qủa ngoài dự trù.
 
 Việt Nam chúng ta hiện nay cũng không thiếu những nhà đấu tranh cho dân chủ mà qúa khứ cũng từng là đảng viên của CSVN như ông Hoàng Minh Chính, Phạm quế Dương, Bùi Tín v.v... mà đa số là những người đã có những bài viết giá trị.
 
 Nếu tất cả chúng ta, mỗi ngừơi một tay cùng tìm cách chuyển những bài viết của họ vào trong nước cho cán bộ đảng viên VC cùng đọc thì tôi tin cũng sẽ có những người trả lại thẻ đảng như đảng viên Trung Cộng đã làm.
 
Hàn Phi Tử có câu: "Nước mất mà không biết là bất trí. Biết mà không lo liệu là bất trung.
 
Lo liệu mà không liều chết là bất dũng". Qua gần 5000 năm giữ nước và dựng nước, cả ba cái bất trên, dân tộc anh hùng Việt Nam không có cái nào cả.

Từ hồi chủ nghĩa CS xuất hiện trên trái đất gần 100 năm nay, chủ nghĩa ấy đã giết hại hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới.
 
Riêng tại Việt Nam hàng triệu đồng bào thân yêu ruột thịt của chúng ta cũng bị chết tức tưởi bởi chủ nghĩa phi nhân tàn bạo này.
 
 Chính vì nhận thức chính xác như vậy, nên Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gọi chủ nghĩa CS là "Con Quái Vật" (Monster).
 
Tôi đồng ý với danh từ ấy.

Posted by sgpn at 7:20 PM
Labels: Toi ac Cong San


 

Cửu Bình 1: Đảng Cộng Sản là gì?


Cửu Bình 2: Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào?



Cửu Bình 3: Chính quyền bạo lực Đảng Cộng Sản Trung Quốc



Cửu Bình 4: Đảng Cộng Sản một lực lượng phản vũ trụ



Cửu Bình 5: Giang Trạch Dân và ĐCS lợi dụng nhau đàn áp Pháp Luân C


http://www.youtube.com/watch?v=p1BsIXr9nc8


Cửu Bình 6: Đảng Cộng Sản Trung Quốc phá hoại văn hóa dân tộc


http://www.youtube.com/watch?v=NQrBG_AKN8A


Cửu Bình 7: Lịch sử giết chóc của Đảng Cộng sản Trung Quốc


Cửu Bình 8: Bản chất tà giáo của Đảng Cộng Sản



Cửu Bình 9: Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc



__._,_.___

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link