Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, February 16, 2013

Chuyển Động Ngoại Giao Dồn Dập Ở Đông Nam Á


Subject: Tr : Fwd: FW: Chuyển Động Ngoại Giao Dồn Dập Ở Đông Nam Á-Đào Văn Bình-aksl
Sent: Fri, Feb 15, 2013 9:47:25 AM


 
 
 
Chuyển Động Ngoại Giao Dồn Dập Ở Đông Nam Á
Đào Văn Bình
February 9, 2013
Thế giới mà chúng ta đang sống phát triển bởi tham-dục và hủy diệt bởi tham-dục, không đứng yên một chỗ mà luôn luôn biến đổi.
 
Theo Dịch Lý của Đông Phương sự thay đổi đó vận hành theo nguyên lý: Thái Cực sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng; Tứ Tượng Sinh Bát Quái và Bát Quái sinh… Tùm Lum. Khi cái “Tùm Lum” ra đời thì thiên hạ đại loạn. Lúc đó thế nào cũng có một quốc gia mới nổi lên, gồm thâu thiên hạ và chu kỳ Thái Cực lại bắt đầu.
 
 
Kể từ khi Liên Bang Xô-viết xụp đổ vào năm 1991, Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành siêu cường “Độc Cô Cầu Bại” thế Lưỡng Cực tan biến và thế giới hình hành thế Thái Cực hay Đơn Cực. Mỹ giống như thiên tử nhà Chu cách đây khoảng 1000 năm trước Tây Lịch, bá chủ thiên hạ, chư hầu răm rắp tuân lệnh. Thế nhưng theo lẽ tự nhiên của trời đất, con cháu nhà Chu do bất tài, nhu nhược hoặc hoang dâm vô độ, nhà Chu dần dần suy yếu.
 
 Khi thiên tử suy yếu – bây giờ gọi là suy thoái, chư hầu lợi dụng xưng Bá, thôn tính các nước nhỏ, kéo theo một thời kỳ chiến tranh kéo dài hơn 200 năm, từ năm 403 trước Tây Lịch gọi là Xuân Thu Chiến Quốc và chấm dứt vào năm 221 trước Tây Lịch khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc chấm dứt thế loạn “ Tùm Lum”.
 
Dĩ nhiên trong 200 năm đó, thiên hạ điêu linh, dân tình khốn khổ, “ đống xương vô định đã cao bằng đầu”. Thế nhưng bao nhiêu học thuyết về ngoại giao, chính trị, quân sự, kể cả những chiến lược mà nước nhỏ dùng để giữ nước, các gương sáng ngời về lòng yêu nước như Phạm Lãi của nước Việt, các thiên tài ngoại giao, quân sự, trị quốc như Quản Trọng, Tô Tần, Trương Nghi, Nhạc Nghị và tư tưởng như “Bách Gia Chư Tử” cũng đều sản sinh trong thời kỳ này.
 
 Các nhân vật gần như huyền thoại đó vẫn sống mãi trong tâm tưởng mọi người và các học thuyết đó vẫn còn là kim chỉ nam cho chính sách ngoại giao, quân sự, trị quốc cho nhân loại ngày hôm nay.
 
Vào năm 1972, do nhu cầu chia rẽ Khối Cộng Sản và làm suy yếu Liên Bang Xô-viết, cặp bài trùng Nixon- Kissinger đã “chơi con bài Hoa Lục” bằng cách đá người đàn em chống cộng lừng lẫy là Tưởng Giới Thạch ra khỏi Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và rước Mao Trạch Đông ngồi vào đó, kể cả việc làm ngơ để Hoa Lục cưỡng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam để chứng tỏ “thành tâm thiện chí” với ông bạn mới. Khác với Mao Trạch Đông còn do dự và “bế quan tỏa cảng”, Ô. Đặng Tiểu Bình nhìn xa trông rộng, tương kế tựu kế, theo kế sách “nhập nô xuất chủ”. Năm 1979 ông qua Mỹ để bình thường hóa ngoại giao với Hoa Kỳ và “mở tung cánh cửa”.
 
 Thế giới, nhất là Hoa Kỳ khen ngợi Ô. Đặng Tiểu Bình hết mình. Tiếp theo đó tư bản Mỹ, kỹ thuật Mỹ, công ty Mỹ ào ào đổ vào để khai thác tài nguyên thiên nhiên, biến khối 1.3 tỉ người thành thị trường công nhân rẻ mạt chế hàng cho Mỹ, vừa làm giàu cho chính quốc vừa đem về cho dân Mỹ xài chơi cho sướng.
 
Ước mơ của Hoa Kỳ và Tây Phương kể như thành tựu. Liên Xô xụp đổ, Hoa Lục “gia nhập cộng đồng thế giới” rồi đây thiên hạ thái bình, còn lo gì nữa? Ô. Bill Clinton là người sung sướng nhất, được hưởng cái khoái cảm “Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng”. Giống như Ngô Phù Sai năm xưa ngất ngưởng với Tây Thi ở Cô Tô Đài, ông “tình tứ” với Cô Monica Lewinsky ngay tại Phòng Bầu Dục – nơi ban bố những quyết định liên quan đến vận mệnh của thế giới. Còn Ô. Bush Con tự coi mình là “võ lâm chí tôn” không cần mạng lệnh của Liên Hiệp Quốc, với Anh Quốc, sau này thêm NATO đem quân vào Iraq và Afghanistan và như thế lao vào hai cuộc chiến vô cùng tốn kém về nhân mạng và của cải, kéo dài đã hơn 12 năm mà Ô. Obama gỡ chưa ra.
 
Nước Mỹ đâu có ngờ trong khi Hoa Kỳ tự thị (dưới thời Ô. Clinton), sa lầy trong hai cuộc chiến (dưới thời Ô. Bush Con), Đặng Tiểu Bình và các người kế vị là Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào đã âm thầm luyện thành công môn “Hấp Tinh Đại Pháp”. Cái độc địa của môn võ công này là thu hết nội lực của đối phương để biến thành nội lực của chính mình, đến một lúc nào đó đối thủ bủn rủn cả chân tay rồi thành phế nhân. Hàng Made in China rẻ rề được các công ty bán lẻ khổng lồ của Mỹ như Wal Mart, Target, Best Buy, Costco v.v… đem về bán cho dân xài lại khiến công ty Mỹ phá sản.
 
Dân Mỹ có thói quen thấy hàng rẻ thì ùn ùn kéo đến mua, nhiều khi dẫm đạp lên nhau mà chết – chẳng hạn như trong ngày Black Friday, không kể tự ái dân tộc hay quyền lợi quốc gia gì cả. Trong khi họ than thiền về nạn thất nghiệp nhưng lại không biết đâu là nguyên do của thất nghiệp. Ông Tàu chứ còn ai nữa? Thế cho nên một số nhà bình luận nói rằng “Kẻ thù của nước Mỹ chính là tư bản Mỹ”.
 
 
Hiện nay giới tư bản Mỹ chỉ chiếm 1% nhưng thâu tóm 90% tài sản đất nước.
Hệ thống truyền thông Mỹ, phim ảnh Mỹ, chính trị gia Mỹ lúc nào cũng nhồi vào đầu óc người dân, “Mỹ Number One”, “Mỹ lãnh đạo thế giới”. Chuyện hàng Made in China có tràn ngập thị trường Mỹ chỉ là “ba cái lẻ tẻ”, nhằm nhò gì, ”think tank” của Mỹ tính hết cả rồi. Lợi dụng quan hệ hợp tác chiến lược với Mỹ, Hoa Lục học hỏi, kể cả ăn cắp lẫn sao chép siêu kỹ thuật để chế tạo vũ khí hiện đại xuất cảng và chống Mỹ.
 
 Tiền lời bán vũ khí, tiền lời bán hàng do công ty Mỹ sản xuất tại Hoa Lục đem cho Hoa Kỳ vay, rồi mua công khố phiếu rồi trở thành chủ nợ của Hoa Kỳ. Thật trớ trêu! Sách lược vĩ đại hay “diệu kế” của Nixon-Kissinger 40 năm sau trở thành”Con Ngựa Thành Troie”!
 
Vào đầu thập niên 1990 khi Hoa Lục đã xây dựng xong hệ thống quân sự khổng lồ tại Đảo Hải Nam, trên biển cũng như dưới lòng đất, Hoa Kỳ vẫn còn đắm chìm trong “giấc mơ vàng” hợp tác chiến lược với Tàu.
 
 
Lúc đó nếu có nhà bình luận nào nói rằng Hoa Lục sẽ là đối thủ hoặc xa hơn là kẻ thù của Hoa Kỳ thì lập tức bị gán cho nhãn hiệu bảo thủ và thiển cận. Chỉ tới năm 2009 khi Hoa Lục trình Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ Đường Lưỡi Bò gom hết Biển Đông vào lãnh thổ của mình thì Hoa Kỳ mới giật mình, hối hả rút quân khỏi Iraq, Afghanistan trong kế hoạch gọi là “Xoay Trục”, tức tái phối trí lực lượng tại nơi mà Hoa Kỳ đã bỏ lại khi tháo chạy khỏi Việt Nam năm 1975.
 
 
Để đối phó với kế hoạch “Xoay Trục” của Mỹ, về mặt ngoại giao Hoa Lục tung tiền “mua” Thái Lan, Kampuchea, trung lập hóa Miến Điện khiến khối ASEAN rạn nứt. Về mặt quân sự cho tàu hải giám, tàu ngư chính tiếp tục uy hiếp Việt Nam, Phi Luật Tân trên biển. Hành động nguy hiểm nhất của Hoa Lục mà cả thế giới đều thấy rõ là biến Hoàng Sa (ngụy danh Tam Sa) thành bộ chỉ huy quân sự kiểm soát Biển Đông, ban bố lệnh kiểm tra, lục soát các tàu qua lại trên vùng biển này, cho in bản đồ có hình Lưỡi Bò trên sổ xuât cảnh, công bố bản đồ trong đó toàn bộ Biển Đông khoanh vùng bởi Đường Lưỡi Bò thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời mở mặt trận thứ hai tại Biển Hoa Đông, uy hiếp Nhật Bản. Phong trào bài Nhật mới đầu tưởng chỉ là thủ đoạn hù dọa nay trở thành “vũ khí kinh tế” chống Nhật và chiến tranh Trung-Nhật có nguy cơ bùng nổ.
 
Nhật sợ quá vội vã lên kế hoạch phòng thủ và cũng “xoay trục” như Mỹ. Trong cuộc phỏng vấn với tờ New York Times trước khi từ nhiệm, Bà Hilary Clinton nói rằng Trung Quốc thật sự tạo ra một mối lo (cho Hoa Kỳ và thế giới). Một siêu cường như Hoa Kỳ, giống như thiên tử Nhà Chu mà phải “lo ngại” sức mạnh của Hoa Lục thì đó không phải là chuyện đùa rỡn.
 
 
Sự “xoay trục” của Nhật giống như Liên Minh Lục Quốc chống Tần năm xưa. Các chiến lược gia Nhật Bản nhận thấy việc đối đầu với Hoa Lục là chuyện dài “ngàn năm” cho đến khi nào Hoa Lục thay đối chính sách và dù có thay đổi chính sách thì Hoa Lục vẫn chơi lá bài “nước lớn” tức “kẻ cả”.
 
Dù liên minh Mỹ-Nhật có đó nhưng nó chưa đủ sức để chống Tàu. Nếu Hoa Lục khống chế được Đông Nam Á, chắc chắn Nhật Bản phải đầu hàng hoặc liên minh với Mỹ để mở cuộc chiến tranh tổng lực để tìm sinh lộ. Kế sách tối hảo vừa lợi vừa ít gây tổn hại cho Nhật là liên kết với Đông Nam Á và làm cho các nước này mạnh lên. Khi họ mạnh lên về quân sự và kinh tế, với tinh thần độc lập tự chủ, chính Đông Nam Á sẽ là “ràng rào tự nhiên” ngăn chặn Hoa Lục. Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, Úc Châu, Ấn Độ và cả thế giới thấy rõ điều này.
 
 
Về chiến lược ngăn chặn Trung Quốc – nói Đông Nam Á là nói về “diện” còn “trọng điểm” chính là Việt Nam chứ không phải Phi Luật Tân. Chỉ cần mất phần còn lại của Trường Sa, dù Phi Luật Tân còn đó, Đông Nam Á coi như thuộc về Hoa Lục. Lúc đó Hoa Kỳ phải lui về cố thủ ở Guam và như thế chiến tranh đã sát nách lãnh thổ Hoa Kỳ, đó là cơn ác mộng của Ngũ Giác Đài. Chính vì thế mà chỉ hơn tháng vừa qua, người ta đã chứng kiến những chuyển động ngoại giao dồn dập đổ về Đông Nam Á:
 
-Ngày 10/1/2013 Bộ Trưởng Quốc Phòng Ý Đại Lợi thăm và hội đàm với Tướng Phùng Quang Thanh. Hai bên cam kết hợp tác trong lãnh vực đóng tàu, đào tạo và tiếp đón sĩ quan Việt Nam tu nghiệp tại Ý.
 
 
-Ngày 6/1/2013 Tân Bộ Trưởng Nhật Ô. Fumio Kishida họp với Ngoại Trưởng Phi Luật Tân trong chuyến công du đầu tiên bàn về hợp tác an ninh hàng hải trên Biển Đông và cung cấp cho Phi 10 tàu tuần duyên.
 
 
-Ngày 15/1/2013 Phó Tổng Thống Ấn Độ Hamid Ansari thăm Việt Nam đồng thời kết thúc Lễ Kỷ Niệm Năm Hữu Nghị Ấn-Việt. Cuộc viếng thăm cho thấy Ấn Độ muốn thắt chặt thêm quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
-Ngày 16/1/2013 Chủ Tịch Quốc Hội Nam Hàn thăm Việt Nam. Theo thống kê trong nước, cho tới ngày hôm nay, Hàn Quốc là nhà tài trợ cho Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Nhật Bản.
 
 
-Ngày 16/1/2013 Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe chọn Việt Nam để thực hiện chuyến công du đầu tiên khi ông vừa nhậm chức chưa đầy một tháng, tình hình trong nước vẫn còn bề bộn, Senkaku vẫn sôi động.
 
 
Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ô. Abe tập trung vào viện trợ và an ninh Biển Đông. Còn chuyến viếng thăm Thái Lan và Nam Dương sau đó chỉ tập trung vào thương mại, đầu tư. Tưởng nên nhắc lại đây, vào ngày 29/12/2012 ngay khi được tin Ô. Abe được chọn làm thủ tướng, Ô. Nguyễn Tấn Dũng- Thủ Tướng Việt Nam đã gọi điện thoại chúc mừng và đàm đạo điều này cho thấy Việt Nam đánh giá cao quan hệ hợp tác chiến lược với Nhật và nhất là lập trường cương quyết không tương nhượng Hoa Lục trong cuộc đối đầu tại Senkaku của Ô. Abe. Nhân định về chuyến viếng của Ô. Abe, Báo điện tử Người Lao Đông viết như sau, “Việc Thủ tướng Shinzo Abe chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tiên trong chuyến công du đã thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận quốc tế.
 
 
 Đài BBC dẫn lời giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cho rằng trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam có lẽ là nước có quan hệ an ninh thân cận nhất với Nhật Bản. Trong tám đối tác chiến lược đã được thiết lập của Việt Nam thì Nhật Bản đứng thứ hai chỉ sau Nga. Ngoài ra, Nhật Bản là nước tài trợ ODA (Official Development Assistance) lớn nhất của Việt Nam, nhà đầu tư Số 1 tại Việt Nam và là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam”.
 
 
-Cũng trong thời gian này, BBC tiếng Việt đưa tin, “ Trong lúc tân thủ tướng Nhật Bản, ông Shinzo Abe chuẩn bị cho chuyến thăm Đông Nam Á, bắt đầu bằng Việt Nam tuần này, Hoa Kỳ cũng gửi một phái đoàn quân sự và an ninh cao cấp sang Đông Bắc Á trong mối lo ngại về tình hình khu vực. Cùng lúc, khối ASEAN tiếp tục đề cao quy tắc ứng xử cho khu vực Biển Đông và tiếp tục đối thoại với Trung Quốc. Chuyến thăm của các quan chức Mỹ, gồm Thứ trưởng Ngoại giao Kurt Campbell và Thứ trưởng Quốc phòng Mark Lippert cùng giám đốc châu Á trong Hội đồng An ninh Quốc gia Daniel Russell sang Tokyo và Seoul là để bàn với tân nữ tổng thống Hàn Quốc và tân thủ tướng Nhật Bản về an ninh vùng.”
 
 
-Ngày 17/1/2013 Ô. Nguyễn Phú Trọng-Tổng Bí Thư Đảng CSVN lên đường thăm Vương Quốc Bỉ, Liên Hiệp Âu Châu, hội kiến với Thủ Tướng Ý Đại Lợi và sau đó thăm Anh Quốc hội kiến với Thủ Tướng Cameron. Theo báo chí trong nước, tại Bỉ, hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác trao đổi thương mại và đầu tư trong các lĩnh vực Bỉ có thế mạnh như phát triển hải cảng, tiếp vận, giao thông vận tải, công nghệ xanh, công nghệ cao, kỹ nghệ hàng không- không gian, công nghiệp nặng và y tế.
 
Ô. Nguyễn Phú Trọng cũng đã chứng kiến lễ ký một số văn kiện hợp tác Việt-Bỉ, như hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu, mở rộng khu công nghiệp và Hải Cảng Vũ Đình (Hải Phòng), hợp tác giữa Việt Nam với vùng Flanders. Tại Ý Ô. Nguyễn Phú Trọng đã hội kiến với Thủ Tướng Monti. Hai bên đã ra Tuyên Bố Chung thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, Bản Ghi Nhớ giữa hai Bộ Quốc Phòng; Bản Ghi Nhớ về hợp tác và tương trợ hành chính trong lĩnh vực quan thuế; Bản Ghi Nhớ về hợp tác giữa Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam và Tập Đoàn Dầu Khí Italia; Trao giấy chứng nhận đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí cho Tập Đoàn Dầu Khí Italia các Lô 114, lô 120 và lô 105-110/04 ngoài khơi Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Nam.
 
Tại Anh Quốc, Thủ Tướng Cameron và Ô. Nguyễn Phú Trọng đã thảo luận và nhất trí về các biện pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước, nhất là trên các lĩnh vực thương mại, hàng hải, tài chính ngân hàng, giáo dục… phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai nước lên 4 tỷ USD trong năm nay.
 
Anh Quốc cũng mong muốn Việt Nam đóng vai trò mạnh mẽ và xây dựng hơn trong khu vực cũng như trên thế giới và Anh Quốc sẽ hỗ trợ Việt Nam hoàn thành trách nhiệm này giống như lời tuyên bố của Ô. Panetta – Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ trước đây. Do đó người ta dự đoán có thể quân đội Việt Nam sẽ tham gia lực lượng LHQ gìn giữ hòa bình trong tương lai.
 
Dù đề tài nhân quyền được nêu ra tại Nghị Viện Anh, việc Âu Châu nồng nhiệt tiếp đón Ô. Nguyễn Phú Trọng – đã đi cùng nhịp với lời kêu gọi “Âu Châu cũng phải tăng cường hợp tác với Mỹ để bảo đảm ổn định tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và đây cũng là lợi ích của Châu Âu” (RFI) của Phó Tổng Thống Joe Biden trong Hội Nghị An Ninh Munich ngày 2/2/2013.
 
 
-Ngày 18/1/2013 Bà Cristina – nữ Tổng Thống Argentina thăm Việt Nam. Cuộc thăm viếng chỉ giới hạn trong khuôn khổ thương mại, đầu tư và liên kết ngoại giao.
 
 
-Ngày 23/1/2013 tại Nam Vang, Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Trung Quốc, Tướng Thích Kiến Quốc, ký một thỏa thuận giúp huấn luyện lực lượng vũ trang Campuchea với Bộ Trưởng Quốc Phòng Tea Banh, đồng thời bàn giao 12 chiếc trực thăng đa năng Zhi-9 do Trung Quốc sản xuất trong đó có 4 trực thăng chiến đấu. Kampuchea đã dùng khoản viện trợ 195 triệu đô-la từ Trung Quốc để mua số trực thăng vũ trang này.
 
 
Cũng có tin Trung Quốc cho không để lôi kéo Kampuchea vào quỹ đạo của mình. Cộng thêm với việc mua sắm 100 xe tăng, 40 xe bọc thép mới đây, những chuyển động về mặt quân sự của Kamphuchea đã khiến Thái Lan lo ngại. Xong Việt Nam cũng phải dè chừng Trung Quốc lại chơi “lá bài Khờ Me Đỏ” để thọc vào biên giới phía nam Việt Nam.
 
-Ngày 4/2/2013 nhân dịp tham dự lễ hỏa thiêu Cựu Hoàng Norodom Sihanouk tại Nam Vang, Ô. Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc hội đàm với Thủ Tướng Pháp Jean Marc Ayrault. Ô. Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Pháp, một đối tác ưu tiên của Việt Nam tại châu Âu.
 
-Trong khi những chuyển động ngoại giao tập trung vào Việt Nam và Phi Luật Tân như thế thì vào ngày 4/2/2013 BBC đưa tin, “Tân Hoa Xã cho hay ba khu trục hạm đã rời Cảng Thanh Đảo ở phía đông tỉnh Sơn Đông hôm thứ Ba 29/1 để tham gia các hoạt động tập trận ở Nam Hải (Biển Đông) và Tây Thái Bình Dương. Hãng tin nhà nước Trung Quốc cho biết thêm rằng các hoạt động trên sẽ diễn ra ở Hoàng Hải, Biển Hoa Đông, Biển Đông, Eo Biển Miyako, Kênh Bashi và vùng biển phía đông Đài Loan.” điều đó cho thấy lò lửa Đông Nam Á đang âm ỉ lại mỗi lúc được đổ thêm dầu.
 
 
 
Cả thế giới đang căng thẳng chờ đợi một biến cố có tầm vóc “thể kỷ” chưa biết nổ ra lúc nào. Quốc Hội Mỹ chưa bao giờ phải họp để bàn tới “Vấn Đề Trung Quốc” nay trong cuộc điều trần để chuẩn nhận tân ngoại trưởng, Ô. John Kerry đã phải xác định sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong những ngày tháng tới như sau “ Tiếp tục tái cân bằng và củng cố quan hệ với Trung Quốc cũng như tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” sang Châu Á Thái Bình Dương.”
 
Trong bối cảnh “Xuân Thu Chiến Quốc” ngày hôm nay – Việt Nam, do rất nhiều yếu tố như: địa lý chính trị, lịch sử và trật tự thế giới mới, đã chủ trương hợp tác cũng như hợp tác chiến lược với tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng “không liên minh với ai để chống ai” khác hẳn với Phi Luật Tân. Phi Luât Tân, do truyền thống và lịch sử đã vạch một chiến tuyến rõ ràng, nương tựa vào sức mạnh Hoa Kỳ là chính và không cần hợp tác chiến lược với Nga, Ấn Độ, Úc, Âu Châu.
 
Trong khi Phi Luật Tân có “trụ Mỹ” để bám, còn Việt Nam thì “không bám” vào trụ nào. Chính vì thế mà một số người cho rằng Việt Nam đã “Lăng Ba Vi Bộ” tức chính sách ngoại giao và quốc phòng chênh vênh, không rõ ràng. Thế nhưng theo Wikipedia tiếng Việt, “Lăng Ba Vi Bộ là cách di chuyển bộ cước tạo ra một ảnh ảo khiến đối phương chỉ tấn công vào ảnh ảo, nên đương sự luôn dễ dàng thoát hiểm.” Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm nhờ học được bí kíp này mà sống sót. “Lăng Ba Vi Bộ” trong sách lược ngoại giao chính là thế ngoại giao “động”.
 
Vì chuyển động giống như “đu dây” nên “ảo”, vì ảo nên “thấy vậy mà không phải vậy”. Nõi rõ hơn ““Lăng Ba Vi Bộ” là liên kết với nhiều nước khiến kẻ thù phân tâm vì phải đối phó với nhiều mặt trận – giống như đứng giữa nhìn chiếc đèn cù chạy chung quanh mình.
 
Thực tế, nhìn vào chính trường quốc tế bây giờ, các nước lớn cũng thi triển bí kíp “Lăng Ba Vi Bộ”. Hoa Kỳ buổi sáng bay qua Bắc Kinh họp “hợp tác chiến lược” với Hoa Lục, buổi tối quay về Ngũ Giác Đài bàn kế hoạch “xoay trục” hợp tác chiến lược với Úc Châu, Nhật Bản, Ấn Độ, nay thêm Âu Châu để “đốn ngã” ông bạn “hợp tác chiến lược” của mình. Nhật Bản vẫn coi mối quan hệ với Trung Quốc là trọng yếu nhưng liên kết với Hoa Kỳ, Anh Quốc, Ấn Độ và ngày nay với Việt Nam, Phi Luật Tân để đối phó với Trung Quốc. Ấn Độ cũng hợp tác chiến lược với Hoa Lục nhưng hối hả liên minh với Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam để ngăn ông “Con Trời”.
 
Còn Âu Châu, tuy nương tựa vào Hoa Lục để tồn tại kinh tế, cũng bắt đầu nhòm ngó xuống Đông Nam Á để tiếp tay với Hoa Kỳ trong kế hoạch “xoay trục”. Còn Thái Lan thì “sớm nắng chiều mưa”, “Lăng Ba Vi Bộ” còn hơn Việt Nam nữa, vừa đưa Ô. Obama cửa trước đã rước Ô. Ôn Gia Bảo cửa sau. Tất cả đều tung hỏa mù, để tạo ra một “không gian ảo” nói khác đi một “mê hồn trận” để tự vệ, để sinh tồn, để bao vây hoặc đánh lừa đối thủ.
 
Khi một nước lớn nuôi tham vọng bất chính, chẳng hạn như nước Tần năm xưa thì thiên hạ đại loạn. Ngày nay các cường quốc đang tìm cách ngăn chặn một thứ “Tần Thủy Hoàng mới” bằng chiến lược ngoại giao giống như Thời Xuân Thu Chiến Quốc. Chuyện Hoa Lục “trỗi dậy” không một ai cản được mà chỉ là làm sao ngăn chặn những hậu quả thảm khốc của nó – trước mắt cho Đông Nam Á rồi cho cả thế giới.
 
Những biến chuyển ngoại giao và quân sự dồn dập trong thời gian qua chỉ phản ảnh cái thế loạn “Tùm Lum”. Phải chăng đây là chu kỳ biến dịch của Trời Đất? “Mười phần chết bảy còn ba. Chết hai còn một mới ra thái bình”?
 
 
Trong cơn lốc kinh hoàng này, trong cái thế “ngàn cân treo sợi tóc” này, các nước nhỏ muốn tồn tại cần có những nhân tài kiệt xuất như Quản Trọng, Phạm Lãi, Nhạc Nghị, Tô Tần, Trương Nghi…phải lấy sức mình là chính cùng sách lược ngoại giao linh động. Nghi ngờ quá thì không làm được chuyện gì, mà cả tin quá thì chết. Phải “biết” như Lão Tử nói, “biết thì sống”.
 
Đào Văn Bình
 


 
 
 

VIỆT KIỀU, CON BÒ SỮA VÀ BÒ THỊT.


 


VIỆT KIỀU, CON BÒ SỮA VÀ BÒ THỊT.

-Thạch Sanh -


     Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau chuyến hải hành thập tử nhất sinh trên biển đông hay bằng đường bộ xuyên qua đất Miên,  những người sống sốt đến các trại tỵ nạn vùng Á Châu, hầu hết những người Việt Nam bỏ nước ra đi tìm tự do đều phải thông qua các cửa ải cần thiết và bắt buộc, trước khi đi định cư:

-Phải được Cao Ủy Liên Hiệp Quốc công nhận là người tỵ nạn, sống trong tình trạng vô tổ quốc, phải đi tìm nơi an toàn vì bất đồng chính kiến, bị đàn áp, bức hại, tự do tín ngưỡng bị chà đạp, tánh mạng nguy hiểm...tức là những người tỵ nạn không thể sống dưới chế độ cộng sản, nếu ở lại là nguy hiểm, đương nhiên là người tỵ nạn không bao giờ sung sướng để ra đi tìm nơi sống, ho bị buộc phải ra đi, dù yêu mến quê hương, đành phải bỏ lại sau lưng tất cả... sau khi khai báo, được cứu xét, nếu hội đủ điều kiện, sẽ được cấp thẻ Tỵ Nạn, kèm theo văn bản:" Reason leaving Vietnam", tức là" Lý Do rời Việt Nam", có chữ ký đương đơn và được cứu xét mức độ thành thực, hợp lý của từng trường hợp. Lý do càng chính đáng, thì sớm được công nhận.

-Bước kế tiếp là được các nước đệ tam nhận đi tỵ nạn, hầu hết các nước là Hoa Kỳ, Úc, Canada, một số ước Âu Châu....các nước dựa bào văn bản của Liên Hiệp Quốc, nhưng phải trải qua cuộc phỏng vấn và nếu suông sẽ, được nhận, đoạn chờ ngày đi định cư.
   
Nếu bất cứ ai thành thật khai báo là: sau khi định cư, tôi sẽ về thăm quê hương... đương nhiên là người ấy nằm chờ ngày bị trục xuất về sống với chế độ cộng sản mãi mãi.

Tuy nhiên, sau khi đến các nước đệ tam định cư, trong những người bỏ nước ra đi tìm tự do, trở thành người tạm trú, họ tự ý xé bỏ căn cước tỵ nạn để trở thành Việt Kiều, được chế độ cộng sản coi là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, sinh sống ở ngoài nước. Thậm chí, đáng phỉ nhổ là trong thời kỳ còn cấm vận, đã có một số người Việt tỵ nạn, có người chưa có tư cách thường trú nhân, dùng Visa để làm giấy tùy thân, trở về, họ luồn qua cửa sứ quán ở Thái Lan và lén xin chiếu kháng về Việt Nam, thành phần nầy rất đáng nghi ngờ, có khi là gián điệp cài sang, nên dễ dàng tiếp cận với sứ quán Việt Cộng, được chấp nhận lén nhập cảnh.

Tình trạng tự xé bỏ thẻ tỵ nạn gia tăng, nhất là sau khi Mỹ xã vận năm 1994, do tổng thống Bill Clinton, tiến đến quan hệ ngoại giao và thành phần tỵ nạn cộng sản trở thành Việt kiều gia tăng hàng năm, những ngày tết âm lịch, các chuyến phi cơ đầy ém những người mới ngày nào bỏ chạy, nay hồ hởi phấn khởi quay về, nhiều Việt kiều phải đặt mua vé trước, có khi trả giá chợ đen. Làn sóng tìm vế quê hương để hưởng chùm khế ngọt, tìm về cây đa đầu làng, bến đò xưa... đã và đang được đảng cộng sản khai thác triệt để, thu tiền hối lộ từ phi trường đến khi về địa phương, tất cả mọi nơi đều phải chi và có khi phải luồn cuối nhục nhả để sống tạm an thân trong lúc quay về Việt Nam. Nhiều người hốt hụi, dành dụm cả năm, chỉ sau một chuyến về quê, trở thành tay trắng, chưa kể đến vay nợ ngân hàng, về nước ngoài cày tiếp...như vậy Việt kiều cũng trở thành lao nô cao cấp của đảng cộng sản, nếu trở về hàng năm. Đừng tưởng là sống ở nước ngoài mà không bị đảng bốc lột tận xương tủy, chỉ vì dại dột mang đầu về cho Việt Cộng cạo, đó là đàn bò sữa, được nuôi béo ở các nước Tây Phương, và trở về Việt Nam, bị Việt Cộng đè ra vắt sữa.
   
Đảng cộng sản nhận ra hơn 4 triệu người Việt hải ngoại giàu có, nhiều nhân tài, thế là họ đổi giọng từ: đĩ điếm du côn thành khúc ruột nghìn dậm nối liền. Lý ra đi chỉ có một lý do: không sống được dưới chế độ cộng sản, nhưng nay trở về với nhiều lý do: cha mẹ già yếu, tang chế, anh em đau yếu, làm mả, tảo mộ, cưới gã cháu...trong xã hội Việt Nam, chưa bao giờ thấy những người Việt sống ở nước ngoài có tình sâu nghĩa nặng, hiếu thảo như thế.

Song hành là có những người về làm ăn như Nancy Bùi, Carina Hoàng Oanh....là những gương thành công hiếm hoi, trong khi nhiều người làm ăn bị đánh tư sản, bỏ của chạy lấy người như: Trịnh Vĩnh Bình ( Hoa Lan),  Nguyễn Trung Trực (Úc Kiều), Nguyễn An Trung ( Nhật kiều), Trần Văn Trường ( Mỹ kiều), nhiều nhà văn như Đặng Văn Nhâm, Trần Đại Sỹ, Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, ĐLT. v.v.... thành phần Việt kiều đã mang về cho đảng và nhà nước hàng tỷ Mỹ Kim hàng năm, số lượng tăng dần, năm 2011 tăng đến 9 tỷ, bằng 8 % GDP. Nhờ Việt kiều, bán lao nô, nô lệ tình dục... đã giúp cho chế độ cộng sản vững chắc, dù chế độ độc tài nầy đã hội đủ điều kiện sụp đổ. Việt kiều là con bò sữa, cung cấp nguồn ngoại tệ đáng kể cho chế độ cộng sản, nhưng nếu cần, cộng sản giết luôn bò sữa để ăn thịt.
   
Người Việt ra đi ào ạt và trở về rần rộ, làm cho các nước lỡ nhận định cư chán ngấy, những người dân các nước Tây Phương hoài nghi khi gặp nhiều người Việt tỵ nạn, sau lời chào hỏi xã giao, thay vì hỏi sức khỏe...thì họ hỏi:" có về Việt Nam chưa?"...khi trả lời là có, người nước ngoài thường tỏ ra khinh dễ, thật là nhục nhưng nhiều người tưởng là hay, tốt...
   
Tại Pháp Quốc, cơ quan OFRA ( Office Francais de protection des Réfugies Apatride) đã tước quyền nhiều người tỵ nạn vì đã về thăm Việt Nam. Điều nầy được ghi rõ ràng trong giấy "titre de voyage" ( còn gọi là giấy thông hành cho người tỵ nạn) là có quyền đi du lịch trên thế giới trừ "Việt Nam". Những người bị truất quyền tỵ nạn, họ tự lo về tư cách di trú, tức là phải quan hệ với sứ quán Việt Cộng để xin gia hạn visa (đây là cơ hội để sứ quán kiếm khá nhiều tiền qua thủ tục hành chánh nầy) và họ phải tự tìm việc, chính phủ Pháp đỡ gánh nặng về y tế, các vấn đề khác, trong lúc nền kinh tế khó khăn. Đây là cơ hội để sứ quán hái ra tiền từ thành phần Việt kiều, nên những người bị lâm vào hoàn cảnh nầy phải làm việc kiếm sống và vừa phải nộp tiền cho sứ quán để được gia hạn, họ trở thành lao nô ngay tại đất tạm dung. ( Xem phần phụ đính dưới đây )

Hàng ngũ Việt kiều càng gia tăng, kẻ lợi đầu tiên là chế độ Hà Nội, họ không cần đầu tư, nhiều may rủi, nhưng có hàng trăm ngàn người từ các nước tư bản, mang tiền về nộp, không lao động nhưng lại vinh quang, ngồi không lại huy hoàng. Cái lợi thứ hai là đảng cộng sản tước bỏ thẻ tỵ nạn, do những người trở về, tình nguyện trở thành công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, tình trạng song tịch là con dao hai lưỡi cho Việt kiều, đó là những ai trở về an toàn, được nhà nước ghi nhận và họ có khả năng thông báo với các nước mà Việt kiều định cư, để gom dân lại, sau nầy sẽ mang lại nhiều lợi nhuận không ngờ.

    Đánh vào quyền lợi mà hầu hết các nước Tây Phương đặt thành trọng tâm, cũng sẽ có ngày, chế độ Hà Nội đưa danh sách Việt kiều cho các nước để minh xác là dân của chế độ cộng sản Việt Nam, từng trở về Việt Nam ở, sinh sống, làm ăn mà không bị bắt bớ, giam cầm, giết hại, như những người tỵ nạn đã khai với cao ủy Liên Hiệp Quốc và các nước tạm dung.

   Khi các nước Tây Phương lâm vào hoàn cảnh khó khăn, khủng hoảng kinh tế....họ có thể tước quyền tỵ nạn, khi dựa vào công ước Liên Hiệp Quốc ký tại Geneve ngày 28-7-1951 và lật lại hồ sơ, văn bản" Lý Do rời Việt Nam" được người tỵ nạn lý tên, cam kết: không sống được với cộng sản. Nếu quyền tỵ nạn không còn, tức là những ai về Việt Nam an toàn trước đó, sẽ tự lo tình trạng di trú qua việc liên lạc, khẩn cầu sứ quán ( họ kiếm tiền qua dịch vụ nầy) và các nước Tây Phương đang gặp khó khăn kinh tế, sẽ không có trách nhiệm giúp đỡ về y tế, dịch dụ, lo việc làm như là công dân nước họ.

   Cả cộng sản lẫn các nước Tây Phương đều có lợi khi họ dùng quyền, luật pháp để tước quyền tỵ nạn. Khi cộng sản gặp khó khăn, khó cựa quậy về kinh tế, họ yêu cầu các nước trả dân về và không cấp hay gia hạn chiếu khán cho những người bị tước quyền tỵ nạn như ông Nguyễn Văn Tuyển...lúc đó, những Việt kiều chỉ còn con đường là bán hết tài sản, trở về Việt Nam sinh sống, nơi nầy, họ bị đánh tư sản lần nữa và có thể bị tù vì tội vượt biên theo bọn tư bản phản động. Đây là những điều có khả năng xảy ra, nằm trong dự đoán và nước đi đầu là Pháp Quốc, nên Việt kiều là những người vui một phút, hận ngàn năm, âu cũng là luật nhân quả nếu sau nầy có những diễn biến do tác động kinh tế gây ra./.

THẠCH SANH.
31.05.2012

 

Xã hội dân sự như một khu vực thứ ba


 

 

Xã hội dân sự như một khu vực thứ ba

  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

CỠ CHỮ
17.01.2013
Từ chỗ được hiểu là xã hội loài người nói chung, như một hình thức đối lập với trạng thái tự nhiên hoang dã, thời cổ đại và trung đại, xã hội dân sự dần dần được hiểu là một không gian sinh hoạt của các công dân trong mọi lãnh vực, từ kinh tế đến chính trị; sau đó, từ đầu thế kỷ 19, nó loại trừ dần yếu tố chính trị; và cuối cùng, từ đầu thế kỷ 20, loại trừ cả yếu tố thị trường kinh tế.

Như vậy, theo cách hiểu chung hiện nay, xã hội dân sự là xã hội trừ chính trị và trừ thị trường. Lý do, như Alan Wolfe chứng minh (1), cả chính trị lẫn thị trường đều là những lực lượng tàn phá. Trong chính trị, con người không được đối xử như những con người thực sự và toàn diện: Họ chỉ được nhìn như những kẻ cai trị và những người bị trị; ngay trong chế độ dân chủ, họ cũng chỉ được nhìn chủ yếu như những công dân và những cơ hội; họ nối kết với nhau vì những lợi ích tức thời hoặc dưới áp lực của quyền lực. Có thể nói, trong chính trị, con người chỉ có một kích thước duy nhất: quyền lực. Con người được phân chia theo quyền hoặc hành xử theo những quyền lực mà mình có hoặc không có. Trong thị trường cũng vậy: Con người được chia thành hai hạng: con buôn và khách hàng; cả hai đều đuổi theo các quyền lợi riêng. Sự nối kết của họ chỉ có tính chất tạm thời. Xã hội dân sự thì khác, ở đó, mọi người đến với nhau một cách vô vị lợi, xuất phát từ một thôi thúc bên trong khiến họ muốn hội nhập vào xã hội để tương tác với người khác. Và giúp đỡ người khác, nếu cần.

Có thể nói xã hội dân sự mở ra một kích thước khác trong đời sống xã hội để xã hội thực sự là một xã hội, một không gian sinh sống của con người với tư cách con người tự do, liên đới và trách nhiệm, ở đó, họ vừa được ra khỏi không gian hạn hẹp của gia đình vừa thoát ly khỏi sự khống chế của quyền lực và quyền lợi. Ở đó, họ vừa là công dân vừa là con người cùng lúc. Với tư cách công dân, họ có thể tranh đấu để bản thân mình cũng như các công dân khác được sống như những con người thực sự. Với tư cách con người, họ có thể đi đến giúp đỡ những quốc gia khác như điều chúng ta thấy trong các tổ chức từ thiện quốc tế.

Với cách hiểu như thế, nhiều người xem xã hội dân sự như một khu vực thứ ba (the Third Sector) trong xã hội. Cách gọi này được ra đời và trở thành phổ biến vào năm 1973 khi Theodore Levitt xuất bản cuốn The Third Sector: Tactics for a Responsive Society và Amitai Etzioni xuất bản cuốn The Third Sector and Domestic Missions. Cả hai đều gây tiếng vang và có ảnh hưởng lớn không những đến các ngành nghiên cứu chính trị học, xã hội học mà còn đối với những nhà hoạt động xã hội cũng như những người hoạch định chính sách ở các quốc gia Tây phương. Từ đó, các văn kiện chính phủ cũng như sách giáo khoa ở nhiều nước thường chia sinh hoạt quốc gia thành ba khu vực chính: khu vực công (public sector), khu vực kinh tế tư nhân (private economy) và khu vực thứ ba với “những tổ chức do dân chúng thành lập trên căn bản tự nguyện và nhắm đến các mục tiêu xã hội và cộng đồng” (2).

Đặc điểm nổi bật nhất của khu vực thứ ba là vai trò trung gian. Nhưng là trung gian của những gì? Trước, ở thế kỷ 19, với Hegel, đó là trung gian giữa gia đình và nhà nước; ở đầu thế kỷ 20, với Antonio Gramsci (1891-1937), giữa không gian công cộng (bao gồm nhà nước và thị trường) và không gian riêng tư của gia đình và bạn bè. Tuy nhiên, sau này, hầu như tất cả mọi người đều hiểu đó là sự trung gian giữa nhà nước và thị trường, giữa nguy cơ trở thành áp chế của nhà nước và tính chất vô cảm của thị trường (3).

Còn được gọi dưới nhiều tên khác nhau như “khu vực phi lợi nhuận” - nonprofit sector - hoặc “khu vực phi chính phủ” - nongovernmental sector (NGOs)- hoặc “khu vực tự nguyện” - voluntary sector, khu vực thứ ba bao gồm nhiều tổ chức với những kích thước, mục tiêu và tính chất khác nhau, như các trung tâm từ thiện, các quỹ xã hội (foundation), các hội đoàn, nghiệp đoàn thuộc các lãnh vực chính:
 
  • Kinh tế (các mạng lưới hoặc hội đoàn thương mại hoặc sản xuất)
  • Văn hoá (các hội đoàn tôn giáo, sắc tộc, cộng đồng nhằm bảo vệ các quyền, giá trị, niềm tin và biểu tượng của mình)
  • Thông tin và giáo dục (nhằm sản xuất và phân phối tin tức, kiến thức và ý tưởng đến người khác)
  • Liên quan đến quyền lợi hay sở thích (các nhóm bảo vệ hoặc tranh đấu cho sở thích hoặc quyền lợi của mình, như các nghiệp đoàn, các hội cựu chiến binh, các hội nghề nghiệp…)
  • Phát triển (các tổ chức tìm kiếm, tập hợp và đào luyện nhân lực, đặc biệt, những người có tài năng để nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng)
  • Các phong trào tập trung vào một vấn đề nào đó, ví dụ, để bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu thụ, quyền của phụ nữ, của các sắc tộc thiểu số, của người khuyết tật hay chống lại nạn kỳ thị trong xã hội hoặc nạn bạo hành trong gia đình, v.v.
  • Các nhóm dân sự nhắm đến việc tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, chống tham nhũng, chống chiến tranh, v.v. (4)

Danh sách ở trên dĩ nhiên không đầy đủ. Không thể đầy đủ. Khác với hai khu vực còn lại - khu vực nhà nước và khu vực thị trường - vốn là những thực thể gắn liền với những thiết chế rõ ràng, khu vực thứ ba, như một khu vực trung gian, vừa đa dạng vừa không ngừng biến dịch không những theo thời gian mà còn theo không gian. Dù vậy, theo Salamon và Anheier, tất cả các tổ chức thuộc khu vực thứ ba đều phải đáp ứng được năm tiêu chí chính:
 
  1. Phải là một tổ chức chính thức;
  2. Phải riêng tư, nghĩa là không thuộc về chính phủ;
  3. Phải thực sự phi lợi nhuận, nghĩa là số lợi tức thu nhập được, bất kể từ nguồn nào, nếu có, chỉ được dùng để đầu tư và phát triển thêm chứ không được chia cho người sáng lập hay các thành viên;
  4. Phải tự quản (nghĩa là độc lập với nhà nước và thị trường); và
  5. Mọi sự tham gia đều có tính chất tự nguyện. (5)

Xin lưu ý là các tiêu chí trên chỉ được áp dụng một cách chặt chẽ ở Mỹ và những quốc gia chịu ảnh hưởng của Mỹ. Ở một số quốc gia ở châu Âu, người ta tin khu vực thứ ba không phải là một không gian biệt lập mà thực chất chỉ là một sự lai ghép (hybrid), đan kẽ giữa hai khu vực công và tư, bởi vậy, họ chấp nhận là thuộc khu vực thứ ba một số tổ chức có quan hệ chặt chẽ với nhà nước (chuyên về phúc lợi xã hội) cũng như với các tổ chức thương mại (như các tổ hợp hay các quỹ tương tế có mục đích phục vụ xã hội) (6). Từ kinh nghiệm ở Nga trong giai đoạn chuyển tiếp từ thời cộng sản sang hậu-cộng sản, T.H. Rigby cho tính chất tự trị của xã hội dân sự là một ý niệm rất tương đối (7). Quan niệm này được hầu hết các nhà nghiên cứu về xã hội dân sự ở châu Á đồng ý (8).

Điều quan trọng nhất ở khu vực thứ ba không phải là ở cấu trúc mà là ở quan hệ hay ở tinh thần của nó. Olaf Corry phân biệt hai cách tiếp cận khái niệm khu vực thứ ba: Một cách được gọi là bản thể luận (ontological approach) tập trung vào việc nhận diện khu vực thứ ba là gì; một cách được gọi là nhận thức luận (epistemological approach) tập trung vào việc phân tích các tổ chức thuộc khu vực thứ ba này vận hành như thế nào, được hiểu và phát huy ý nghĩa như thế nào. Từ góc độ bản thể luận, khu vực thứ ba là một thực thể; từ góc độ nhận thức luận, nó là một tiến trình. Từ góc độ bản thể luận, nó là một cơ chế; từ góc độ nhận thức luận, nó là một vùng tương tác, đối thoại, thậm chí tranh chấp giữa các hệ thống và các lực lượng khác nhau (9).

Nhìn từ góc độ bản thể luận, khu vực thứ ba đúng là một… khu vực, nghĩa là một cái gì hữu hình với những ranh giới cụ thể. Nhưng nhìn từ góc độ nhận thức luận, chúng ta dễ dàng thấy ngay cái được gọi là khu vực thứ ba ấy không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm xã hội dân sự. Đó là lý do tại sao Antonin Wagner cho đó là hai khái niệm khác nhau dù rất gần gũi và có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau (10). Trong bài “Third Sector and Civil Society” trên trang nhà của Social Economy and Civil Society, người ta cũng nhấn mạnh: “Đây là hai khái niệm không đồng nghĩa mặc dù cả hai chia sẻ nhiều khía cạnh trùng lấp lên nhau.” (11) Augustus Richard Norton quan niệm xã hội dân sự là một cái gì lớn và rộng hơn một tập hợp các hình thức đoàn thể khác nhau: Nó bao gồm cả những tinh thần và tính chất mà thiếu chúng, xã hội chúng ta hiện nay sẽ không khác gì các chế độ phong kiến ngày xưa. Trong đó, quan trọng nhất là tinh thần công dân và, trong tinh thần công dân, quan trọng nhất là thái độ bao dung, sẵn sàng chấp nhận những khác biệt và cũng sẵn sàng chấp nhận sự thật là không phải vấn đề gì cũng có một câu trả lời duy nhất đúng đắn (12).

Có thể nói khu vực thứ ba chỉ là xác trong khi xã hội dân sự mới thực sự là linh hồn. Không có linh hồn nào thực sự tồn tại ngoài thể xác (ít nhất qua những gì loài người có thể kinh nghiệm được) nhưng thể xác thì có thể không có linh hồn: Có những hình thức thuộc khu vực thứ ba không phải là xã hội dân sự nhưng xã hội dân sự nào cũng đòi hỏi được thể hiện qua các hoạt động tự nguyện, phi lợi nhuận và phi chính phủ (với những mức độ khác nhau). Cũng có thể nói, yếu tính của khu vực thứ ba là tình nghĩa và tinh thần trách nhiệm với đồng nghiệp, đồng bào hoặc đồng loại, còn yếu tính của xã hội dân sự lại là lý tưởng về tự do, bình đẳng và dân chủ. Khu vực thứ ba thuộc về hiện tại; xã hội dân sự hướng tới tương lai.

Trong cái gọi là tương lai ấy, lý tưởng quan trọng nhất là dân chủ.


(Đây là bài thứ ba trong loạt bài về “Xã hội dân sự”. Kỳ tới: “Xã hội dân sự như một tiến trình dân chủ hóa”)

***
Chú thích:
 
  1. Alan Wolfe (1989), Whose Keeper? Social Science and Moral Obligation, Berkeley: University of California Press, tr. 12.
  2. Olaf Corry, “Defining and Theorizing the Third Sector”, in trong cuốn Third Sector Research do Rupert Taylor biên tập (2010), University of Witwatersrand xuất bản tại Gauteng (Nam Phi), tr. 13.
  3. Olaf Corry, trong bài dẫn trên, nhận xét: đáng lẽ gọi là khu vực thứ tư vì phải kể đến gia đình và gia tộc, tr. 11.
 
  1. www.march.es/ceacs/publicaciones/working/archivos/1997_101.pdf -
  1. Lester Salamon & Helmuk Anheier, “In search of the non-profit sector I: The question of definitions”, Voluntas số 3, 1992, tr. 125-151.
  1. Adalbert Evers & Jean-Luois Laville (2004), The Third Sector in Europe, Cheltenham: Elgar Publishing Limited, tr. 13.
  1. T.H. Rigby, “The USSR: End of a Long Dark Night?”, in trong cuốn The Development of Civil Society in Communist Systems do Robert F. Miller biên tập (1992), Sydney: Allen and Unwin, tr. 11-14.
  1. Xem cuốn Civil Society in Southeast Asia do Lee Hock Guan biên tập (2004), Institute of Southeast Asian Studies xuất bản tại Singapore hay cuốn Civil Society in China do Timothy Brook & B. Michael Frolic biên tập (1997) M.E. Sharpe xuất bản tại New York.
  1. Olaf Corry, bài đã dẫn, tr. 12.
  1. Antonin Wagner,  “Third sector and/or Civil society: a critical discourse about scholarship relating to intermediate organisations”, Voluntary Sector Review, số 3, 2012, tr. 299-328.
  1. http://www.secs.unibo.it/SECS/research/Third_Sector_and_Civil_Society.htm
  1. Civil Society, A Reader in History, Theory and Global Politics do John A. Hall & Frank Trentmann biên tập (2005), Palgrave xuất bản, tr. 278.

Bốn cô gái Việt đang gặp nguy hiểm ở Nga


 

Bốn cô gái Việt đang gặp nguy hiểm ở Nga


Thanh Trúc, phóng viên RFA

2013-02-15

Bốn thiếu nữ Việt Nam bị gạt bán vào một ổ mãi dâm ở Moscow. Họ tìm cách trốn nhưng bị bắt lại và bị chủ chứa khống chế khiến người nhà ở Việt Nam phải lên công an rút đơn tố cáo.


AFP photo

Gái mại dâm ở Nga đang bị cảnh sát kiểm tra giấy tờ. Ảnh mang tính minh họa.

 


Bị buộc làm gái mãi dâm


Đây là bốn trong số mười lăm thiếu nữ ở vùng quê Việt Nam, bặt tin từ lúc sang Nga hồi tháng Tư 2012, đến tháng Giêng 2013 thì báo cho gia đình biết họ vừa trốn thoát khỏi nơi mà họ bị buộc làm gái mãi dâm do một phụ nữ Việt ở Moscow điều hành.

Bà Nguyễn Thúy An, còn gọi là An Ọt, là tên của người phụ nữ đã mua và buộc các cô hành nghề mãi dâm ở Moscow, cũng như vừa rồi bắt các nạn nhân trở lại để khống chế nhằm ém nhẹm sự việc.

Ngay khi được CAMSA, Liên Minh Bài Trừ Nạn Nô Lệ Mới Ở Á Châu, cung cấp những thông tin này, đường dây liên lạc được nối về nhà bà Lệ Thủy ở Gò Quao, Kiên Giang, Rạch Giá. Bà Lệ Thủy xác nhận về trường hợp con gái tên Huỳnh Thị Bé Hương như sau:

Ban đầu người ta nói là kêu nó đi lao động nước ngoài ba tháng về, giống như qua bển làm nhà hàng. Đi một năm mấy không có tin tức gì về hết trơn, giờ nó trốn được thì nó nói bị người ta bán cho mãi dâm mà nó không làm là người ta đánh, trốn ra được bốn đứa rồi bây giờ tụi nó bị bắt lại rồi.

Hôm trước trốn ra được thì nó kêu tui đi báo công an, tui đi rồi, bên công an liên lạc với bên Nga  rồi liên lạc với đại sứ quán mà bây giờ tự nhiên người ta biết địa chỉ tụi nó trốn mà người ta bắt lại rồi. Ở bển giờ nó bị người ta khống chế người ta biểu nó rút đơn lại. Nó kêu tui lên công an rút đơn lại đó.

Được hỏi người nào ở Việt Nam đã rủ rê Bé Hương và những cô khác đi Nga làm việc mà rốt cuộc lại đưa các cô vào đường mãi dâm, bà Lệ Thủy nói đó là một người tên Nữ:

Đi một năm mấy không có tin tức gì về hết trơn, giờ nó trốn được thì nó nói bị người ta bán cho mãi dâm mà nó không làm là người ta đánh, trốn ra được bốn đứa rồi bây giờ tụi nó bị bắt lại rồi.
Bà Lệ Thủy

Tên Nữ là vợ của Sơn Chùa ở Rạch Giá mà giờ nó trốn mất tiêu rồi. Nghe công an nói người ta biết rành vợ chồng đó, cũng có tiền án dữ lắm.

Vào lúc cùng với ba cô gái kia trốn ra được, ngoài việc kêu về Việt Nam nhờ mẹ đi báo công an, đồng thời gọi cho một nhân viên Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Nga để xin được giúp đỡ, Huỳnh Thị Bé Hương còn gọi điện cho người chị của cô ở Hoa Kỳ và kể hết mọi việc. Từ Houston, tiểu bang Texas, chị của Bé Hương tên là Danh Hui, thuật lại:

Sau cuộc gọi của nó với cái ông làm ở bên Lãnh Sự Quán Việt Nam ở Nga đó thì cuối cùng lại nghe tin là nó bị bắt lại. Bà chủ của nó bắt lại là bà Thúy An, bà An Ọt đó, ở tại thủ đô Moscow. Dân làm ăn ở đó bất cứ ai có máu mặt mà hỏi An Ọt ai cũng biết. Hiện tại nó bị uy hiếp, nó gọi điện thoại về Việt Nam báo với mẹ là rút đơn không được thưa kiện nữa.

Vì lo sợ cho sự an toàn của con gái, mẹ của Huỳnh Thị Bé Hương cho hay đã lên công an rút đơn thưa kiện về.

Cũng từ Gò Quao, Kiên Giang, Rạch Giá, mẹ của nạn nhân thứ hai, bà Ngọc, cũng xác nhận tuần trước, khoảng 24, 25 Tết, con gái bà là Lê Thị Thu Linh đã điện về  báo vừa trốn thoát khỏi nhà chứa của bà Thúy An bên Nga. Thế nhưng:

Nó mới gọi hồi nãy nè, nói nó bị bắt lại rồi, giờ nó bị không chế ở bên nước Nga, mình nạp hồ sơ hết rồi giờ nó kêu rút hồ sơ lại hết, rút hết giấy tờ mình thưa đó.

Bà Ngọc cũng cho biết thứ Hai tuần tới bà sẽ lên đồn công an rút hết hồ sơ thưa kiện.

Số phận các cô sẽ ra sao


Qua tìm hiểu vụ việc, liên lạc với ông Nguyễn Công Triều, người ở Đại Sứ Quán Việt Nam bên Nga, để hỏi về bốn thiếu nữ trốn thoát gọi đến cầu cứu nhưng chưa được giúp thì đã bị bắt lại:

Tôi là Triều đây. Tôi xin hỏi này, bà ở Thái Lan thật hay bà đang ở Nga?

Thanh Trúc: Tôi đang ở Thái Lan.

Ông Triều: Số này là số của Nga chứ không phải số của Thái Lan, cho nên tôi chỉ hỏi là bà quan hệ thế nào với những người đó và bây giờ bà nói tình trạng những người đó như thế, nói thẳng thông tin đi, những cô nào chạy ra, cứ nói đi?

Thanh Trúc: Thưa ông, tôi là nhà báo ..

Ông Triều: Nhà báo thì tôi không nói chuyện với bà…

Lần theo những thông tin mà  thân nhân các cô gái biết được hoặc đã báo tin, đường dây là được nối về bà Nga của Interpol Viêt Nam ở Hà Nội, người biết rõ vụ việc:

Bà Nga: Tôi đang ở Hà Nội, tôi là ở bên Interpol Viet Nam. Việc các cô bị bắt lại thì bên chúng tôi cũng biết hết rồi, bây giờ chúng tôi đang xử lý thông tin theo nhiều kênh để tìm cách giải cứu các cô ra và bắt đối tượng, còn cụ thể như thế nào thì chúng tôi cũng không thể nói cho các chị biết tại vì từ khi chúng tôi nhận được tin thì cũng đã có rất nhiều thông tin nó lộ lọt dẫn đến tình trạng nạn nhân bị bắt lại. Chúng tôi đang cố gắng hết sức để tìm mọi cách đưa các cô ấy trở về Việt Nam. Chỉ nói được như thế thôi.

Thanh Trúc: Theo như lời trình bày của thân nhân, nếu họ thấy công an không giải quyết cấp thời rồi con của họ bên Nga bị khống chế như vậy thì..

Bà Nga: Một mặt là như thế nhưng một mặt là theo đơn của gia đình thì chúng tôi vẫn tiếp tục giải cứu các cháu. Hôm qua thì mẹ của Hương vẫn liên lạc lại cho chúng tôi và đề nghị như vậy mà.

Thanh Trúc: Thưa cứu người là chuyện cấp bách, Thanh Trúc cũng có gọi điện thoại qua bên Đại Sứ Quán ở Moscow, trước đó các nạn nhân có gọi điện cầu cứu với ông Nguyễn Công Triều, nhưng khi Thanh Trúc xưng là nhà báo thì ông Nguyễn Công Triều cúp máy. Thái độ này có vẻ khó hiểu thưa chị?

Chúng tôi chỉ cung cấp cho các chị biết bây giờ các cơ quan điều tra đang vào cuộc, kể cả Đại Sứ Quán của Việt Nam ở bên Nga đang cố gắng hết sức giải cứu các cô.
Bà Nga, Interpol Viêt Nam

Bà Nga: Chị thông cảm là vì chúng tôi đang trong giai đoạn điều tra và đang rất khẩn trương. Chẳng hạn nếu mà thông tin lộ lọt ra ngoài thì cũng rất nguy hiểm đến tính mạng của các cô ấy. Chúng tôi chỉ cung cấp cho các chị biết bây giờ các cơ quan điều tra đang vào cuộc, kể cả Đại Sứ Quán của Việt Nam ở bên Nga đang cố gắng hết sức giải cứu các cô. Interpol của Việt Nam cũng đã phối hợp với Interpol của bạn để mà có những biện pháp cần thiết. Mọi người cứ yên tâm là như thế, bây giờ chúng tôi cũng không thể lộ lọt được thông tin gì.

Cái việc các cô sang bên đấý hoàn toàn là  tự nguyện,  còn bây giờ các cô chẳng may bị như thế và các cô đã có đơn thì các cơ quan chức năng Việt Nam đang khẩn trương giải quyết.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn những lời giải thích của chị.

Bà Nga: Nếu có thông tin gì mới nhất liên quan đến các cô thì chúng tôi sẵn  sàng chia sẻ thôi.

Thanh Trúc, từ Thái Lan, sẽ  tiếp tuc theo dõi câu chuyện để tường trình đến quí vị.

Theo dòng thời sự:




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link