Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, March 30, 2013

Cộng Sản Việt Nam Bắt Đầu Lệ Thuộc Vào Cộng Sản Trung Quốc Từ Bao Giờ


Cộng Sản Việt Nam Bắt Đầu Lệ Thuộc Vào Cộng Sản Trung Quốc Từ Bao Giờ


Nhân Chuyện Đòi Sửa Đổi Hiến Pháp

Đọc Lại Tập Tài Liệu Liên Hệ Tới Các Cô Vấn Tầu Ở Việt Nam Trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất (1946 – 1954)

 


Đây là những bài viết của “một số lão đồng chí đã từng cộng tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập của tập tài liệu có nhan đề Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp (Hồi ký của những người trong cuộc) do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy với Dương Danh Dy cũng là người hiệu đinh.
 
Bản dich này không ghi nơi xuất bản cũng như tên nhà xuất bản với lý do được viết là tài liệu lưu hành nội bộvà được gửi từ trong nước ra hải ngoại qua thư điện tử. Cũng vậy, ghi là nội bộ nhưng sách cũng không được ghi rõ là nội bộ của cơ quan nào. Dương Danh Dy là một nhà nghiên cứu được nhiều người tin cậy. Ông đã từng giữ chức Bí thư thứ nhất tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở Bắc Kính và Tổng Lành Sư ở Quảng Châu, Trung Quốc. 

Tập tài liệu này dày 280 trang qua thư điện tử và gấp đôi tức 560 trang theo khổ sách in nhỏ, gồm tổng cộng 10 bài, thêm hai trang “Lời Cuốí Sách”. Tất cả đều ít nhiều được phổ biến trên một vài trang mạng ơ Hải Ngoại nhưng không thường trực. Tác giả đầu tiên là La Quý Ba, ngưòi được Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc bí mật cử sang Việt Nam đầu năm 1950 làm đại diện liên lạc giữa Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau này là Đại Sứ đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc ở Việt Nam.
 
 Bài này ngắn và có tinh cách tổng quát, được viết để tưởng nhớ Mao Trạch Đông. Tác giả thứ hai là Trương Quảng Hoa. Ông  này xuất thân làm công tác ở văn phòng cố vấn quân sự của Đoàn, lo về thống kê nên nắm vững tình hình giao nhận vật tư để báo cáo cho lãnh đạo của Đoàn. Trương Quảng Hoa có cả thảy bốn bài, đồng thời giữ vai trò sửa chữa và hiệu đính, kể cả sửa chữa và hiệu đính cho phần “Đại Sử Ký” tức phần niên biểu các sự kiện chính ở cuối sách trong đó có bài viết tổng quát và một bài viết về vai trò có tính cách quyết định của tướng Trần Canh trong trận Đông Khê – Thất Khê.
 
Chủ trương của Trần Canh cũng như của các cố vấn Tầu đối nghịch với chủ trương ban đầu của các chỉ huy trưởng Việt Minh, trong đó có các Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 102 Nguyễn Hữu An và Trung Đoàn 88 Thái Dũng. Người có bài thứ ba là Vu Hoá Thuần, víết về Vi Quốc Thanh trong cả hai trận Đông Bắc và Điện Biên Phủ, một vai trò cũng quyết định giống như vai trò của Trần Canh trong chiến dịch Đông Bắc. Vương Nghiên Tuyền nguyên ở trong ban tham mưu của Tướng Trần Canh và là cố vấn cho Đại Đoàn 308 trong thời chiến tranh chống Pháp, năm 1956 lại trở sang Vịêt nam làm tổ trưởng Tổ Chuyên Gia Quân Sự cho đến năm 1957.
 
Ông này có hai bài dài và coi như nòng cốt của tập sách. Tiếp theo là các bài của Độc Kim Ba và của Như Phụng Nhất mà tiểu sử không được ghi dù là gián tiếp. Cuối cùng là một niên biểu liệt kê theo ngày tháng tiến trình hoạt động của Đoàn Cố Vấn Trung Quốc từ ngày được thành lập, từ tháng Giêng và tháng Hai năm 1950 cho đến trung tuần tháng Ba năm 1956.

Nói tới Chiến Tranh Pháp – Việt Minh (1946 – 1954) không ai là không biết tầm quan trong của viện trợ của Cộng Sản Trung Quốc cho Cộng Sản Việt Nam kể từ sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được toàn thể Trung Hoa Lục Địa, hay chậm hơn và đúng hơn chút nữa là từ trung tuần tháng 8 năm 1950, khi hai đoàn cố vấn quân sự, một do Vi Quốc Thanh và Đặng Dật Phàm cầm đầu từ Quảng Tây và một do Trần Canh hướng dẫn từ Vân Nam đến bộ chỉ huy tiền phương của Việt Minh ở Quảng Uyên, Cao Bằng và được Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh đón tiếp và thuyết trình. Đây là thời điểm then chốt. Nó mở đàu cho một giai đoạn mới trong lịch sử Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất, trong đó viện trợ của Trung Quốc đóng vai trò quyết định.
 
Sau thời điểm này quân đội của Tướng Giáp không còn phải “chiến đấu trong vòng vây”, không còn chỉ đánh du kích nữa mà đã chuyển sang vận động chiến rồi sau đó là công kiên chiến để đánh bại địch quân của họ, theo sách lược của Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc.  Hồi ký của các nhà lãnh đạo Việt Minh trong đó có Tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, có Đặng Văn Việt,Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174, con Hùm Xám của Đường Số 4, đều nói tới nguồn viện trợ duy nhất và thiết yếu này nhưng nói tương đối ít. Những chiến thắng của Việt Minh từ các trận Đông Khê và Cao Bằng trong chiến dich Việt Bắc tới trận Điện Biên Phủ theo các chỉ huy người Việt này là do sự hoạch đinh chiến lược và chiến đấu của chính người Việt. Các cố vấn Trung Quốc trong tập Ghi Chép Thực kể trên đã gần như nói ngược lại.
 
Không những thế họ còn viết nhiều hơn nữa, không riêng về quân sự như cung cấp dư dả súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng, soạn thảo tài liệu huấn luyện, tái tổ chức lại quân đội với chủ trương đặt nặng vai trò của chinh trị trong quân đội, thành lập và võ trang những đại đơn vị mới như các Đại Đoàn 316, 320, 325, 351  và một trung đoàn công binh bên cạnh các đại đoàn 304, 308, 312 và một số trung đoàn đã có từ trước, mà còn giúp Việt Minh giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chánh, đặc biệt là về tiền tệ, lương thực để Việt Minh từ thế gần như thụ động, bị bao vây trên nhiều mặt trận, sang chủ động làm chủ chiến trường. Các cố vấn Tàu còn cho biết họ đã soạn thảo các chiến lược và trực tiếp tham gia chiến trận cùng với quân đội của Tướng Giáp từ đó đã giúp cho Cộng Sản Việt Nam toàn thắng.

Một cách tóm tắt, khi đọc tài liệu này ta có thể ghi nhận được những sự kiện sau đây:

Thứ nhất: Viện trợ của Trung Quốc cho Cộng Sản Việt Nam là do Cộng Sản Việt Nam yêu cầu qua văn thư của Hồ Chí Minh và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương gửi Mao Trạch Đông và Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Sự kiện này đã xảy ra tiếp theo hai chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào đầu tháng Giêng năm 1950 và vào mùa đông năm 1951. Lần đi thứ nhất, khi Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh thì Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã đi Moscow để ký Hiệp Ước Tương Trợ Đồng Minh Hữu Nghị Trung – Xô từ trước nên họ Hồ chỉ được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp rồi sau đó được Lưu Thiếu Kỳ thu xếp để sang Moscow.
 
Câu hỏi được đặt ra là trước khi đi Mao và Lưu có biết là Hồ sẽ sang Bắc Kinh hay không?
 
Câu hỏi được đặt ra nhưng câu trả lời phần nhiều là có. Nếu vậy tại sao hai người lại không đợi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh để rồi cùng đi? Câu trả lời phần nào có thể được thấy nếu người ta theo dõi những gì đã xảy ra sau đó. Thứ nhất là trong buổi tiệc do Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô tổ chức để khoản đãi Hồ Chí Minh khi họ Hồ mới tới Moscow tối ngày 6 tháng Hai năm 1950, Staline đã không đến dự và Staline chỉ tiếp ông này nhiều ngày sau đó và tiếp ở phòng làm việc của mình với sự có mặt của nhiều ngưới khác trong đó có cả Vương Gia Tường là đại sứ Trung Quốc ở Liên Xô.
 
Thứ hai là trong buổi tiếp tân chiêu đãi trọng thể dành cho Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai và toàn thể các đoàn viên phái đoàn Trung Quốc, Hồ Chí Minh cũng được mời, có thể là không chinh thức vì chuyến đi của ông là bí mật. Lợi dụng cơ hội này và khi Staline rất vui, Hồ Chí Minh đã ngỏ ý xin được ký một hiệp ước tương tự như hiệp ước Trung – Xô Mao Trạch Đông đã ký với Staline trước đó. Staline đã từ chối. Trương Quảng Hoa đã kể lại cuộc đối thoại giữa hai người như sau:

Staline rất vui, trong bữa tiệc luôn luôn trò chuyện với khách. Hồ Chí Minh nắm lấy thời cơ này cười hỏi Staline: “Đồng chí còn có chỉ thị gì nữa đối với công tác của Việt Nam chúng tôi không?” Staline cười: “Tôi làm sao có thể chỉ thị cho đồng chí, đồng chí là Chủ tịch nước, quan còn to hơn tôi mà!””

“Hồ Chí Minh lại nói: “Các đồng chí đã ký hiệp ước với Trung Quốc, nhân tôi ở đây, chúng tôi cũng muốn ký một hiệp ước!” Staline nói: “Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích như thế nào?””

“Hồ chí Minh nói: “Điều đó rất dễ, đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao?”

Staline cười lớn nói: “Đó là quá sức tưởng tượng đặc bịêt của người phương Đông các anh” (trang 21).

Họ Trương ghi tiếp là “Rất nhiều người dự tiệc cũng đều  cười vang lên”.”Chi tíết này chứng tỏ cuộc đối thoại giữa Hồ Chí Minh và Staline là công khai trước mặt mọi người. Nhưng xét toàn bộ người ta thấy Staline tỏ ra rất lạnh nhạt, không tôn trọng Hồ Chí Minh, đã mỉa mai khi trả lời những câu hỏi nghiêm chỉnh và quan trọng của họ Hồ. Không những thế Staline còn đem những đề nghị của Hồ ra làm trò cười cho những người có mặt trong buổi chiêu đãi  và thẳng thừng từ chối những lời yêu cầu của họ Hồ, trong đó có đề nghị ký một hiệp định là điều ông này rất mong muốn. Tại sao vây?
 
Theo Trương Quảng Hoa Staline lo lắng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tôc, là Ti Tô thứ hai. Nhưng đọc kỹ chi tiết hơn, người ta thấy hai điều. Một là Staline có chủ trương muốn Hồ Chí Minh đẩy sớm hơn và mạnh hơn cách mạng xã hội và kinh tế thay vì chỉ lo đánh Pháp để sớm tiến tới chủ nghĩa vô sản và hai là Staline đã cùng Mao Trạch Đông, và ngay cả trước đó không lâu, Lưu Thiếu Kỳ trong một chuyến đi bí mật sang Nga, đã từng thảo luận và đồng ý với nhau về vai trò viện trợ cho Cộng Sản Việt Nam của Trung Quốc rồi.
 
Đây là lý do chính và Hồ Chi Minh khi được các lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc thu xếp cho sang Nga chỉ là để nghe một chuyện đã được sắp xếp rồi.  Riêng về cá nhân Hồ Chí Minh, xuyên qua cuộc đối thoại này, người ta thấy phần nào bản chất thực tế, kiên nhẫn, chịu đựng, quyền biến đến độ lì lợm, sẵn sàng dùng những biện pháp lừa dối như ông đã thường làm ở Việt Nam của ông. Cuối cùng thì chuyến đi Liên Xô của Hồ Chí Minh hoàn toàn thất bại, không giành được gì từ phía Liên Xô, không được Staline coi trọng như Mao Trạch Đông để từ đây Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam phải nghe và hoàn toàn trông cậy vào viện trợ của Trung Quốc. Vận mệnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng và vận mệnh của dân tộc Việt Nam cũng như lãnh thổ Việt Nam nói chung, có thể đã bị quyết định ngay từ chuyến đi của Hồ Chí Minh này.
 
Nói như vậy là vì khi làm cố vấn bắt buộc chuyên gia Trung Quốc phải nghiên cứu địa hình, địa diện, các cao điểm chiến thuật, chiến lược, trục lộ giao thông cùng các tiềm năng khác có thể khai thác… bằng chính tai mắt và khối óc của mình, chưa kể khi họ vạch và làm đường và khi khí giới, quân trang quân dụng được  vượt qua biên giới, chở sang cho Việt Minh. Các cao điểm chiến lược, các cột mốc biên giới hẳn khó lọt qua con mắt của các chuyên gia quân sự Trung Quốc ngay từ thời điểm này để chuyển về cho Trung Ương Đảng của họ, không cần phải đợi tới bốn chục năm sau.

Về chủ trương giữ bí mật cho những chuyến đi của Hồ Chí Minh và sau này là về Đoàn Cố Vấn Trung Cộng cũng là điều người ta cần chú ý. Phía nào thực sự chủ trương giữ bí mật và tại sao phải giữ bí mật? Câu hỏi cần phải đươc đặt ra, cũng như Hồ Chí Minh có hứa hẹn gì với Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc để đánh đổi lấy viện trợ của Trung Quốc không? Cũng vậy có thật viện trợ này là không hoàn trả và hoàn toàn vô vị lợi dựa trên nghĩa vụ quốc tế giữa các đảng cộng sản hay không hay ngược lại, có liên hệ gì tới sự nhượng bộ của Cộng Sản Vịêt Nam đối với Cộng Sản Trung Quốc sau này không? Về điều này người đọc nên để ý tới sự gợi ý của Staline là Trung Quốc giúp cho Vịêt Nam một con gà thì Việt Nam có thể trả lại cho Trung Quốc một trái trứng.
 
Con gà là quân sự, là kinh tế, tài chinh, là lương thực, là tiền tệ, con trái trứng là cái gì? Cũng vậy, sự giữ bí mật này có liên hệ gì tới cách giải thích sự thỏa hiệp với Pháp của Hồ Chí Minh hồi năm 1946 trước đó, đại khái là thà ngửi c… thằng Tây ít năm còn hơn là làm nô lệ thằng Tầu thêm một ngàn năm nữa hay những gì họ Hồ và Đảng Cộng Sản đã lên án phía Việt Quốc, Việt Cách mấy năm trước đó?
 
Hay giữ bí mật theo yêu cầu của Nga và của Tầu hay tất cả? Người viết sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác. Cũng cần phải để ý tới sự kiện là thời điểm của cuộc viếng thăm là đầu năm 1950, lúc Liên Xô sau thế chiến thứ hai chưa đủ mạnh và Cộng Sản Trung Quốc chỉ mới lên cầm quyền ớ Trung Hoa Luc Địa không được bao lâu. Cả hai lúc đó đều không muốn gây chuyện trực tiếp với Pháp và gián tiếp với Hoa Kỳ.

Thứ hai:  Viện trợ cho Việt Nam không phải chỉ vì nhu cầu của Vịêt Nam mà cả Trung Cộng vì Trung Cộng cũng có nhu cầu đánh đuổi quân Pháp nhằm bảo đảm biên giới phía Nam của mình chống lại tàn dư của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Điều này cũng được các tác giả nói tới. Chiến dịch Đông Bắc và sau này đánh Tây Bắc và sang Lào thay vì đồng bằng sông Hồng mà các cố vấn Trung Quốc đã bắt ép các nhà chỉ huy quân sự Việt Minh phải chấp nhận cũng nhằm mục tiêu này.    

Thứ ba:  Có một sự khác biệt về chủ trương chiến lược và chiến thuật giữa các cố vấn  Trung Quốc và các tướng tá Việt Minh và phía Việt Minh bị bó buộc phải nghe theo trong đó có mục tiêu tấn công như đánh để tiêu diệt địch hay đánh để chiếm các cứ điểm hay các thị trấn? địa điểm tấn công, đánh nơi nào trước, Cao Bằng hay Đông Khê, đồng bằng sông Hồng hay Lai Châu, Tây Bắc và Lào? đánh nhưng vẫn phải lưu tâm tới hoàn cảnh của các chiến sĩ anh em, đồng bào của mình hay đánh để thắng với bất cư giá nào?
 
 Cuối cùng các cố vấn Trung Cộng khi không thuyết phục các tướng tá Việt Minh đuợc đã luôn luôn báo cáo về cho Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông để Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc liên lạc với Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh và cuối cùng các cố vấn Trung Quốc đã luôn luôn thắng thế. Chủ trương của họ đã được Hồ Chí Minh và Trung Ương Đảng Cộng Sản Việtt Nam chấp nhận, đồng thời may mắn cho họ, kết quả đã là chiến thắng. 
 
 Đọc các bài víết này người ta có cảm tưởng là các chiến thắng của Việt Minh từ Đông Bắc đến Điện Biên Phủ hoàn toàn là do công lao của các cố vấn Trung Quốc, từ đầu đến cuối, từ hoạch đinh chiến lược, lựa chọn địa điểm dể đánh đến trực tiếp tham gia theo dõi, chỉ huy trận đánh và trực tiếp can thiệp ngay khi cần. Các tướng tá Việt Nam đều là thiếu kinh nghịêm, nhút nhát, không dám chấp nhận gian khổ. Chẳng hạn như trong chiến dịch Việt Bắc, Trần Canh và Vi Quốc Thanh đã nghiên cứu tỉ mỉ phòng tuyến Quốc Lộ 4 của Pháp để đưa ra đề nghị đánh Đông Khê trước thay vì Cao Bằng. Đề nghị này đã được Hồ Chí Minh lúc đó lên thị sát mặt trận, trực tiếp phê chuẩn thay vì qua Tổng Tư Lệnh Võ Nguyên Giáp. Họ Hồ còn chỉ thị thêm rằng: “Chiến dich này chỉ được thắng, không được thua!”,  đúng như chủ trương của Trần Canh.
 
Lý do là vì Hồ đã quen bíết Trần Canh từ lâu trước đó, từ năm 1925 – 1926, đã yêu cầu Mao Trạch Đông cử Trần Canh sang giúp và tin cậy ở Trần Canh đồng thời biết rõ nhu cầu Trung Viện.  Chỉ được thắng, không được thua hay thắng bằng bất cứ giá nào, bất kể sự hy sinh của binh sĩ là chủ trương của Trần Canh, khác với chủ trương của Võ Nguyên Giáp và của Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 Đặng Văn Việt. 
 
Trong trận Đông Khê khi vị Trung Đoàn Trưởng này vì bộ đội của mình bị thương vong quá nhiều định rút lui, Vi Quốc Thanh đã điện thoại cho cố vấn Trương Chí Thiện của trung đoàn này, thúc đẩy vị chỉ huy của trung đoàn này, điều chinh bố trí và đánh tiếp. Giữa Trần Canh và Võ Nguyễn Giáp tối ngày 4 tháng 10 năm 1950 cũng đã tranh cãi nặng nề qua điện thoại khi quân Việt Minh tấn công chiếm núi Cốc Xá sau ba ngày liên tiếp và bị thiệt hại nặng, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Việt Minh ra lệnh cho bộ đội tạm ngưng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn. Tranh cãi nặng qua điện thoại đến độ Trần Canh có lúc đã nói to: “Nếu trận này không đánh nữa thì tôi xin cuốn gói chuồn.” và nói tiếp: “Vào  giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi”, đồng thời dập mạnh điện thoại xuống.
 
Nhưng rồi sau đó Trần Canh đã liên lạc thẳng với Hồ Chí minh và Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Kết quả là Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho bộ đội tiếp tục, còn Mao Trạch Đông thì khuyến cáo phải nhanh chóng tiêu diệt địch cho dù thương vong quá lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (trang 41). Những chi tiết này ít ra Tướng Giáp và Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 là những nhân chứng còn sống có thẩm quyền xác hay phủ nhận, đồng thời cũng có quyền giữ im lặng.

Thứ Tư:  Trong việc giúp Việt Minh huấn luyện và tổ chức lại quân đội, các cố vấn Trung Cộng còn giúp và rất có thể đã áp lực các nhà lãnh đạo của đảng này  thực hiện một cuộc chỉnh huấn với chữ dùng trong tài liệu là chỉnh quân chính trị. Công tác này đã được các cố vấn Trung Cộng lưu ý từ ngay những ngày đầu, nhưng mãi đến mùa hè và mùa thu năm 1953 mới trở thành qui mô toàn diện.
 
Nó nằm trong chủ trương cách mạng căn bản của Mao Trạch Đông và luôn cả của Staline qua khuyến cáo của Staline khi Staline tiếp Hồ Ghí Minh hồi đầu năm 1950, với những dấu hiệu đầu tiên đã lộ rõ qua những nhận xét của các cố vấn Trung Quốc về các cấp chỉ huy của bộ đội Việt Minh khi họ thấy những vị chỉ huy này có trình độ học vấn cao, ghi chú nhanh,học giỏi, nhưng nặng đầu óc tư sản, nhút nhát, sợ gian khổ, sợ khó khăn, không có tầm nhìn chiến lược…” trong khi các binh sĩ cấp dưới ít học và không được thăng thưởng.
 
Những ngôn từ như tố khổ, giác ngộ giai cấp đã được Vu Hóa Thầm nhắc tới trong bài viết của tác giả này (trang 63).
 
Chiến dịch chỉnh huấnquân sự, chính trị qui mô này đã được phối hợp với phong trào cải cách ruộng đất lúc này đang được tiến hành ở các cứ địa của Việt Minh ở Việt Bắc. Những sĩ quan xuất thân là các sinh viên, học sinh, những thành phần trí thức, quan lại, tư sản đã tham gia Vệ Quốc Đoàn từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo thuần túy chỉ vì yêu nước, không còn được phục vụ như xưa nữa. Ngay danh xưng Vệ Quốc Đoàn cũng bị thay thế. Một giai đoạn trong cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Minh đã đi qua, kèm theo với tất cả những gì đẹp đẽ nhất và lãng mạn nhất của nó.
 
Trung Đoàn Trưởng Đặng Văn Việt, Con Hùm Xám Của Đường Số 4, thay vì trở thành tướng vì đã đánh bại không phải một mà hai đại tá của quân Pháp theo tiêu chuẩn của Hồ Chí Minh khi ông này phong cấp đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, đã bị gửi qua Trung Quốc làm tân khóa sinh của một trường sĩ quan. Cũng may là họ Đặng hãy còn tốt phước do cha mẹ ông bà để lại, được để cho sống sót.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật phải chăng vì danh xưng Vệ Quốc Đoàn không còn dược dùng nữa, những bài hát tràn ngập lòng yêu nước đại loại như:

Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi
Nào có mong chi đâu ngày trở về.
Ra đi, ta đi bảo tồn sông núi.
Ra đi, ra đi thề chết chớ lui..                                                      

Phan Huỳnh Điểu
Đoàn Vệ Quốc Quân

hay những bài thơ đẹp và vui tươi  như:

Đoàn Vệ Quốc áo đen
Vượt qua sườn Tam Đảo
Sau những ngày dông bão.
Việt Bắc giặc lui rồi
Lũ tàn quân xơ xác
Chiến sĩ ta reo cười
Chim rừng vang tiếng hát.
Các anh như bầy chim,
Nẻo rừng sâu bay tới.
Huyện Tam Dương im lìm
Bỗng dưng vào đại hội.

Tác giả không rõ

và:

Đêm Liên Hoan! Kìa trông: đêm liên hoan
Đầu người nhấp nhô như sóng bể ngang tàng 
Ta muốn thét như vỡ tung lồng ngực 
Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn

Hoàng Cầm
Đêm Liên Hoan  

sau những năm này không còn được ai sáng tác nữa hay có sáng tác cũng chẳng bao giờ được phổ biến. Tất cả chỉ còn là một hoài vọng để cho những người lính già lâu lâu ngồi nhớ lại kể cho nhau nghe hay viết cho nhau đọc. Chỉ tiếc rằng cái đẹp vừa hào hùng vừa lãng mạn của thời trai trẻ mà chính họ cũng như thời thế đã tạo được cho họ đã không toàn vẹn như cái đẹp của người lính già thuở Bình Mông ngày trước:

Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
Lính già phơ tóc bạc,
Kể chuyện thủa Nguyên Phong

Trần Nhân Tông
Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng
Ngô Tất Tố dịch

Lý do rất đơn giản: Vệ quốc sao được khi người ta chủ trương tin tưởng và tranh đấu cho một mục tiêu, đó là

Dựng một ngày mai tình thương rắc gieo
Phá tan biên cương loài người sống thân yêu.

Việt Lang
Đoàn Quân Đi

Tiếc thay tất cả chỉ nằm trong mơ ước của những trai trẻ đương thời như tác giả đã tiểu tư sản thơ mộng hóa trong bốn câu kết của bài ca

Đoàn quân đi giữa sóng biên cương xuân về mùa thắm
Tôi thấy những nàng khan hồng lệ thắm
Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa
Em vẫn mong chờ 
tới ngày ấy đôi ta cùng mơ.

Trên đây chỉ là một vài nhận xét mà người đọc tài liệu này đọc  và nhận ra được. Hy vọng những tài liệu này cũng như những tài liệu tương tự sẽ được phổ biến rộng rãi hơn và được nhiều người đọc hơn, nhất là những người được các tác giả của những hồi ký này bằng cách này hay bằng cách khác nói tới, hầu có thể đóng góp thêm sự thực về một giai đoạn cực kỳ khó khăn và cực kỳ phức tạp và tế nhị nhưng không phải là không có những nét đẹp riêng của lịch sử Việt Nam trước khi mọi sự trở thành đen tối như người ta thấy sau này vì dù sao đây mới chỉ là tiếng nói của một phía. Điều đáng tiếc là cho đến nay hầu như tất cả đều im lặng, một sự im lặng đáng sợ.

 Phạm Cao Dương
--

Biển Đông : Hải quân Trung Quốc thị uy ngay trước cửa Malaysia


 

Vô Thường - Vật Đổi  Sao Dời - Bien Xanh Hoa Ra Ruong Dau !
Công trình Dựng Nước của Tiền-Nhân như Dã Tràng Xe Cát Biển Đông.
Đau đớn thay !
TheKhiemTran.

From: Trinh Huynh
Subject: Đại nguy biến tại Biển Đông : Trung cộng lợi dụng thế mạnh ở Đông Nam Á còn lỏng lẻo yếu kếm nhằm thực hiện giấc mộng Đại đông Á dưới sự thống lĩnh của Đại Hán quốc xã fát xít ( chính sách Đại Phục Hưng TQ của Tập Cập Bình)

 

 

---------- Forwarded message ----------
From:

Đại nguy biến tại Biển Đông : Trung cộng lợi dụng thế mạnh ở Đông Nam Á còn lỏng lẻo yếu kếm nhằm dần dần thực hiện giấc mộng Đại đông Á dưới sự thống lĩnh của đế chế Đại Hán quốc xã fát xít;theo gương mẩu Đức quốc xã (1933-1945) ở Âu châu ( chính sách Đại Phục Hưng TQ của Tập Cập Bình). Theo nghiên cứu và điều tra của chúng tôi,phe quốc xã ở Bắc kinh đang ở thế mạnh và dự trù 10 -15 năm tới khi hải và không quân TC hùng mạnh; PIB /GDP Tàu hơn Mỹ sẽ tiến công nắm giữ Biển đông và khống chế toàn bộ khối ĐNA; Việt Nam (như nước Áo từng bị sát nhập vào Đế chế Đức quốc xã ngày 13/8/1938) có khả năng sát nhập vào TC cùng với Lào và Miên. các nước ĐNA còn lại sẽ hợp tác với Đế chế đai hán quốc xã; Úc sẽ hợp tác để chia quyền lợi,theo đường lối H.White-Keating; Hoa kỳ sẽ chia ảnh hưởng với Bắc Kinh theo đại chiến lược Kissinger et al ; Ấn độ, Nhật bản,Âu châu...cũng " thời thế thế thời, phải thế !!...".

Chỉ còn sinh lộ cuối cùng: nhân dân VN đoàn kết cảnh giác thế giới xây dựng lục lượng tiến cộng: (sơ lược)
 
 -  Xây dựng khối Diên Hồng Đại Việt trong ngoài nước nhằm thay đổi thể chế hiện hành thành một chế dộ tự do dân chủ độc lập đối với TC.
 - Tích cực vận động củng cố khối ĐNA sớm trở thành một Cộng đồng kinh tế, chính trị,ngoại giao và an ninh quốc phòng.  
 -  Tích cực ủng hộ các lực lượng dân chủ tiến bộ TQ; kháng chiến Tây tạng;Tân cương,Mông,Thanh;Pháp luân công,Giáo hội Cộng giáo thàm lặng,nông dân TQ...
 -  Tích cực ủng hộ mọi nổ lực phục hồi kinh tế tài chánh của Mỹ,Liên Âu;Nhật bằng đại chiến dịch tẩy chay hàng hoá chế tạo tại TQ,áp lực Bắc kinh tăng giá trị đồng Yuan và tôn trọng các qui luật quốc tế về thương mại,lao động,tự do thông tin;bảo vệ môi trường thế giới...ủng hộ mau chống thành lập khối TPP (TransPacificPartnership) không có TQ.
Sơ lược kính báo.
GS NGUYỄN Thái Sơn.
Chủ tịch Hiệp hội Interface Francophone, Paris.
Cố vấn khoa học và ngoại giao Hàn Lâm viện Địa chính trị Paris.

Biển Đông : Hải quân Trung Quốc thị uy ngay trước cửa Malaysia

Rạn san hô James Shoal, bên bờ biển Malaysia
Rạn san hô James Shoal, bên bờ biển Malaysia
DR

Trong số các nước có tranh chấp với Trung Quốc tại vùng Biển Đông, trong thời gian gần đây, Malaysia luôn cố tránh trực diện với Trung Quốc. Thế nhưng lập trường đó như vẫn không giúp Kuala Lumpur tránh khỏi việc bị Bắc Kinh khiêu khích. Ít ra đây là kết luận có thể rút ra được từ sự kiện Hải quân Trung Quốc không ngần ngại đến phô trương thanh thế hôm qua 26/03/2013, ngay tại một rạn san hô ở vùng cực nam Biển Đông mà Malaysia tuyên bố chủ quyền, nhưng bị Trung Quốc yêu sách.

Hành trình cũng như hoạt động của đội tàu thuộc một lực lượng đặc nhiệm đổ bộ được trang bị đầy đủ vũ khí, đã được báo chí Trung Quốc quảng bá rầm rộ. Tiểu hạm đội gồm 4 chiến hạm do chiếc tàu đổ bộ Tỉnh Cương Sơn (Jinggangshan) dẫn đầu, đã đến khu vực rạn san hô James Shoal, chỉ cách Malaysia 80 km, cách Brunei gần 200 km, nhưng cách xa bờ biển Trung Quốc đến 1.800 km, và nằm gần sát đường 9 đoạn mà Trung Quốc vẽ ra để đòi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biẻn Đông.
James Shoal, là một rạn san hô ngầm ở khoảng 22 mét dưới mặt nước ở phía nam Biển Đông, được Malaysia đòi chủ quyền dưới tên gọi Beting Serupai theo tiếng Mã Lai, nhưng bị Trung Quốc tranh chấp dưới tên tiếng Hoa là Tăng Mẫu ám sa/Chiêm Mỗ sa (Ceng mu an).
Trong một bản tin công bố hôm qua, Tân Hoa Xã đã mô tả cảnh quân lính Trung Quốc cũng như thủy thủ đoàn tập hợp trên boong tàu Tỉnh Cương Sơn, một trong 3 chiếc tàu đổ bộ của Trung Quốc có chiều dài 200 mét, để cam kết « bảo vệ Biển Đông, duy trì chủ quyền đất nước và phấn đấu thực hiện giấc mơ một nước Trung Quốc hùng mạnh ».
Trả lời nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, trong số đề ngày 27/03/2013, chuyên gia phân tích quốc phòng cao cấp Gary Li, thuộc hãng tư vấn IHS Fairplay tại Luân Đôn, nhận định : « Đây là thông điệp mạnh mẽ khác thường : Lực lượng đặc nhiệm này được gởi đi, trong khuôn khổ một vai trò tác chiến mới, khác với các vụ tuần tra trước đây của Hải quân Trung Quốc trong khu vực ».
Nhà phân tích ghi nhận là lần này « không phải chỉ là một vài chiếc tàu, thâm nhập vào chỗ này hay chỗ khác, mà là nguyên một chiếc tàu đổ bộ loại thiện chiến, chở theo thủy quân lục chiến cùng thuyền cao tốc chạy trên đệm hơi, được những tàu hộ tống hạm thuộc loại tốt nhất trong hạm đội Trung Quốc đi theo ». Không chỉ thế, lực lượng đặc nhiệm đổ bộ này còn được chiến đấu cơ phản lực đi theo bảo vệ.
Đối với ông Gary Li, một hành động phô trương lực lượng như vậy – cả về số lượng lẫn chất lượng - chưa từng diễn ra ở một khu vực xa xôi tận miền cực nam Biển Đông này.
Theo báo South China Morning Post, hình ảnh lưu truyền trên mạng Internet cho thấy thủy quân lục chiến Trung Quốc ào ạt đổ bộ lên bờ biển, với sự hỗ trợ của tàu chạy bằng đệm hơi và trực thăng xuất phát từ chiếc Tỉnh Cương Sơn. Cuộc tập trận trải dài trong nhiều ngày, trong đó lực lượng đổ bộ đã ghé qua tất cả các đảo mà Trung Quốc đã giành được ở Trường Sa, trong đó có các đảo/đá đánh chiếm của Việt Nam cách đây 25 năm.
Thông tin về vụ tàu đổ bộ Tỉnh Cương Sơn xuất hiện trong vùng James Shoal tối hôm 26/03 đã khuấy động giới chức quân sự trong khu vực. Một tùy viên quân sự theo dõi sát tình hình đánh giá rằng đó quả là một hành động phô trương chủ quyền khiến ai cũng phải bàn tán.
Đối với quan sát viên này : « Trường Sa là một chuyện, nhưng thị uy tại khu vực James Shoal lại là một chuyện khác hẳn. Một lần nữa Trung Quốc cho thấy là họ không ngại ngùng gì trong việc gởi một thông điệp đến cả vùng Đông Nam Á, trong năm mà Brunei làm chủ tịch ASEAN »

Không phải thay đổi là rối loạn xã hội


 

Không phải thay đổi là rối loạn xã hội


BS Nguyễn Quang Bình Tuy


Tướng Tô Lâm đã lập luận nếu “đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” thì sẽ mắc phải “các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổn định chính trị, xã hội của đất nước”. Tôi xin phản biện ý của Tướng Lâm chung quanh vấn đề “thay đổi”.

Thay đổi từ trên cao xuống là thay đổi khôn ngoan nhất, không đổ máu và không gây rối loạn xã hội như người ta lo sợ. Myanmar là một thử nghiệm thành công, nên theo cách của họ. Đừng chủ quan rồi khư khư giữ lấy ghế của mình, để đến khi mất kiểm soát mới tính tới nhượng bộ (như Syria, Lybia thì đến độ không có đường lui để giữ mạng sống, buộc phải giữ “tới cùng”) thì không phải là cách làm khôn ngoan. Không một người dân nước nào muốn sống trong xã hội bị rối loạn, bất ổn, bạo lực, chiến tranh… Nhưng nếu bị buộc phải làm điều đó để có một tương lai tươi sáng hơn, thì họ sẽ làm, dù biết rõ phải hy sinh, nhưng khát vọng “tương lai tươi sáng hơn” giúp họ có nhiều nghị lực hơn gấp nhiều lần để làm bất cứ điều gì. Minh chứng cho điều này là các cuộc đánh giặc ngoại xâm, mà gần nhất là Pháp, mặc dù Pháp có cả trăm năm đô hộ với vũ khí hiện đại, nhưng cũng không làm họ nhụt chí. Chẳng phải họ muốn có một tương lai tươi sáng hơn cho không chỉ con cháu họ mà cho dân tộc ViệtNam mai sau hay sao? Họ hy sinh cả cuộc đời, hy sinh nhiều người trong gia đình, cũng là mong có được “tương lai tươi sáng hơn” cho con cháu, chứ bản thân họ cũng đâu có sống được bao lâu sau chiến tranh?

Tại sao chúng ta tốn trí tuệ, sức lực và cả xương máu để “giành độc lập cho dân tộc” nhưng rồi lại gắn thành quả ấy chỉ cho một nhóm “giai cấp”? Nay nhóm giai cấp này đã trở nên quyền lực và giàu có, và trở thành “nhóm lợi ích”. Nếu biết tình hình như hiện nay, chắc chắn không ai hy sinh cho cuộc chiến đó, bởi nó đã thành vô nghĩa, bởi những mục tiêu cao cả ban đầu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” cho “cả dân tộc Việt Nam” nay chỉ còn thu nhỏ cho “nhóm lợi ích” đó, bỏ mặc những lực lượng xã hội khác. Chẳng phải mục tiêu của chúng ta là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” đó sao? “Dân giàu” khác xa với “nhóm lợi ích giàu”. Nay chúng ta đã và đang xây dựng một xã hội “nhóm lợi ích giàu”, không khác gì “cường hào ác bá” thời phong kiến, chỉ thay đổi hình thức và tên gọi mà thôi.

Thay đổi mà người dân mong đợi là tạo một xã hội tốt đẹp hơn, có nhiều sân chơi hơn cho nhiều người chứ không giành đặc quyền cho một nhóm người, xã hội mà mọi người đều có cơ hội làm giàu, miễn là họ “có tài”, chứ không phải “có quyền” và “có đặc quyền” như hiện nay. Nếu nhiều người giàu lên vì có quyền (điển hình là “nhóm lợi ích”) thì không được xã hội kiêng nể, trọng vọng mà trong thâm tâm người dân là khinh miệt họ, bởi biết rõ tiền họ có là do bòn rút, do “trộm cắp”, “cướp giật” và “hợp thức hóa” mà ra, chứ không phải do “tài năng”.

Nếu có ai đó nghĩ rằng không cần thay đổi, như hiện tại là tốt rồi, thì hãy nhìn sang các nước lân cận, không cần nhìn sang Âu Mỹ làm gì, và chỉ ra có nước nào nghèo và lạc hậu hơn Việt Nam trong số 10 nước Đông Nam Á không? Dân ở nước nào “sướng” hơn? Có một cán bộ tập kết cao cấp tôi kêu bằng Thím Ba (bạn thân của ba mẹ tôi), đi Thái Lan chơi (năm 2012) nhờ có con làm cho công ty nước ngoài có tiền tài trợ cho ba mẹ đi du lịch. Khi qua Thái Lan, Thím Ba nói với cậu con trai: “Sao dân người ta sướng quá, mà dân mình khổ quá vậy con?”. Tôi nghe kể mà ứa nước mắt, bởi đó cũng là cảm giác của tôi cách đây gần 20 năm khi mới vừa bước xuống sân bay Bangkok (lúc đó phải khai là “thất nghiệp” mới được đi nước ngoài, còn trí thức thì khó khăn lắm, gần như không thể đi). Một cảm giác như vừa trong môi trường thiếu oxy ngột ngạt bước vô phòng dưỡng khí. Trước đây, nói tới nước “có vấn đề”, nhất ASEAN, thì ai cũng nêu đích danh Myanmar. Nhưng nay thì ViệtNam đã thay vào chỗ đó, mặc dù không ai nêu tên chỉ mặt. Lãnh đạo các nước cũng tế nhị, nhưng họ cũng rất mong muốn Việt Nam “thay đổi” để ASEAN hùng cường, có sức nặng hơn trên trường quốc tế. “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu xem ASEAN là “gia” (một gia đình), trong gia đình còn có “đứa con” “khác người”, thì “ra ngoài đường” nói ai nghe, ai nể?

Thay đổi có “dễ sợ” như một số người vẽ ra không? Mà ngay khi họ vẽ ra điều đó, tôi tin chắc một ngày nào đó, họ sẽ phản đối lại chính điều họ đã vẽ ra, bởi lúc đó họ không còn hưởng lợi từ cái họ đã vẽ ra đó nữa. Mỗi người một nghề, một năng khiếu bẩm sinh. Làm sao để mỗi người phát huy hết khả năng của mình để đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội, kể cả chính trị. Chính trị, kinh tế, nghệ thuật, kỹ thuật… đều phải có khiếu thì mới đạt đỉnh cao, đóng góp mới nhiều. Liệu những người phản đối thay đổi bây giờ, rồi con cháu họ có được như họ không, có khả năng làm chính trị như họ không hay lại thích nghệ thuật? Vậy thì cớ sao lại phải bảo vệ cái ghế ấy cho con mình, trong khi nó không có khả năng và cũng không thích ngồi cái ghế đó. Nó có thể làm cái khác tốt hơn nhiều, trở nên giàu có hơn và được xã hội trọng vọng hơn. Con cái trong một gia đình không nhất thiết phải theo nghề cha mẹ, đôi khi “tréo cẳng ngỗng” đến nỗi cha mẹ không nghĩ tới. Tôi tin là các bậc từng làm cha làm mẹ cũng thấu hiểu điều này, bởi con người sinh ra có một thiên hướng nghề nghiệp bẩm sinh, chỉ cần gặp môi trường thuận lợi, nó sẽ đâm chồi nẩy lộc và cho trái ngọt, hơn cả mong đợi. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh” là vậy. Có thiên tài nào trên thế giới là con của một thiên tài không?

Vậy, xin phân tích thêm những khái niệm còn chưa rõ, mà nhiều người đôi khi còn nhầm lẫn.

  1. 1.     Đảng phái chính trị có bất biến theo thời gian?

Phải nói ngay, đảng phái chính trị phải thể hiện là “trí tuệ” chứ không phải thể hiện “bạo lực, cơ bắp, hay vũ lực”!

Đảng phái là tập hợp một nhóm người gọi là “tinh túy của xã hội”, có khả năng đưa ra một cương lĩnh để lèo lái đất nước. Cương lĩnh, đường lối của một đảng phái nếu phù hợp với xu thế và nhu cầu của xã hội vào một giai đoạn nhất định, thì sẽ được lòng dân và dân hết lòng ủng hộ, bao bọc, che chở, và nhờ đó có đủ sức mạnh để thực hiện ý chí đó. Hay nói cách khác, nếu chỉ dựa vào sức lực của “một nhóm đảng viên” mà không có sự ủng hộ của dân, thì đảng phái đó cũng không làm được gì, cho dù có “quyết liệt” tới đâu, cương lĩnh có hay cách mấy.

Như vậy, công việc của đảng chủ yếu là “lãnh đạo” nhà nước, còn nhân dân mới là “người làm trực tiếp”. Nếu ai từng lãnh đạo điều hành công ty hay bất kỳ tổ chức nào (kể cả bệnh viện, trường học) thì sẽ thấy tầm quan trọng của “sức dân” như thế nào, và lãnh đạo phải mẫu mực và có đủ tầm, đủ tâm như thế nào thì mới tạo được sức mạnh cho tổ chức. Đừng dùng cách tuyên truyền kiểu “bịt tai che mắt” lỗi thời để áp dụng cho thời đại thông tin ngày nay. Bởi không khó để kiểm chứng thông tin chỉ qua vài cái nhấp chuột. Nếu là lãnh đạo, cần thận trọng trong từng lời nói, cử chỉ, hành động. Đừng ngây thơ nghĩ rằng “dân ngu” không biết gì, và phát ngôn và cư xử coi thường người dân, để rồi một ngày nào đó mới vỡ lẽ và tiếc rẻ “phải chi…”.

Trong quá khứ một đảng phái tốt, không nhất thiết hiện tại nó tốt. Nó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tập hợp quần chúng của đảng đó, khả năng chọn lãnh đạo là người tài trí đủ tầm và có tâm… Đó mới là sức sống của một đảng phái chính trị. Trong quá khứ, một đảng phái tập hợp được nhiều trí thức (kể cả du học nước ngoài), nhiều thành phần tiến bộ (kể cả tư sản) vào đảng và họ đã làm nên kỳ tích bởi thuyết phục được toàn dân chung sức chung lòng chống ngoại xâm. Dân thấy rõ điều đó. Nhưng hiện tại, đảng đó có lãnh đạo khác, con người khác, ban lãnh đạo đảng không phải là những tinh túy của đảng, và nội bộ đảng viên ai cũng thấy rõ điều đó. Hậu quả là ngay trong đảng cũng không đồng lòng, nói chi đến kêu gọi dân đồng lòng? Dân im lặng không phải là đồng ý, mà vì họ không muốn ảnh hưởng “miếng cơm manh áo”, vì họ sợ bị hành hung, sợ “bạo lực công quyền” mà thôi. Lãnh đạo phải sáng suốt nhận ra điều đó, thì mới là lãnh đạo có tầm và có tâm, xứng đáng lãnh đạo đất nước. Bản thân từ “chính trị” nên hiểu là “trị vì đất nước một cách chính danh” chứ không phải “tà trị” tức là “trị vì đất nước bằng bạo lực, uy hiếp, dọa dẫm”.

Không một đảng phái nào ở Mỹ khi vận động tranh cử lại đi nói “Washington từng là người của Đảng Dân Chủ (ví dụ vậy), ông ấy từng có công lập quốc, hãy bầu cho chúng tôi, chúng tôi là bản sao của ông ấy”. Thay vào đó, họ phải chứng tỏ tổ chức hiện tại của họ có đủ trí tuệ, đủ nhân lực, đủ tài, đủ phẩm chất để làm những gì người dân đang mong mỏi, đang khát khao muốn có. Việc lấy hình ảnh tốt đẹp trong quá khứ để che chắn cho thực tại thối nát (và có nguy cơ tan rã vì chính các thành viên trong đảng không còn thấy lý tưởng tốt đẹp nữa, không cảm thấy tự hào khi đứng trong tổ chức nữa, và họ cũng cảm thấy e ngại khi đi ra đường, khi về gia đình, cộng đồng) là điều tối kỵ trong chính trị. Thay vì phải “thể hiện” và “quyết tâm” làm trong sạch nội bộ, làm thuyết phục dân bằng cách đưa những gương mặt tiến bộ lên, thì họ đang “tô vẽ, sơn phết” bên ngoài cho thấy đẹp. Tiếc thay, những cách tô vẽ đó không thể nào qua được mắt dân, bởi chẳng ai “ngu” như người ta nghĩ.

  1. 2.     Chính trị khác Nhà nước và Quân đội: chiến lược và chiến thuật – hành động

Chính trị khác Quân đội ở chỗ, chính trị đưa ra chiến lược, còn quân đội thi hành chiến lược đó. Chính trị sẽ có tầm bao phủ tất cả các lĩnh vực của một đất nước: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh, quân đội… Như vậy quân đội cũng như các lĩnh vực khác, là một bộ phận để thực thi các chiến lược của chính trị. Chính trị mà đại diện là “chính phủ” có thể thay đổi, mục tiêu cuối cùng là để chọn lựa một chiến lược tốt nhất thông qua việc nhân dân lựa chọn một đảng chính trị tốt nhất với cương lĩnh rõ ràng nhất.

Bản chất của chính trị là phải thay đổi, vì chiến lược quốc gia sẽ thay đổi theo từng thời kỳ, cần có một nhóm đủ tầm và đủ tâm để điều hành giai đoạn đó và đưa ra chiến lược phù hợp. Chiến lược không đúng, không sai, chỉ có chiến lược phù hợp với giai đoạn lịch sử nhất định, để giải quyết vấn đề của đất nước, của dân tộc, với mục tiêu tối thượng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bởi thế nên mới có cạnh tranh chính trị, bàn luận công khai mà không bị quy chụp kết tội là “phản động”, để mọi người, mọi giới, mọi tầng lớp trong xã hội soi xét để chọn cái nào có lợi nhất cho xã hội vào thời điểm đó. Cái khác là không đánh giá quá khứ đúng sai, mà đang tính những sách lược tương lai, đang vạch ra một con đường sáng cho mọi người, cho dân tộc mình bước tiếp.

Trong khi đó, quân đội là bất biến, với mục tiêu là bảo vệ đất nước, chủ quyền, chống ngoại xâm, giữ hòa bình để đất nước phát triển. Khi đất nước bình yên phát triển, thì chính sự giàu có chung của xã hội, sẽ có phần của quân đội trong đó, mà cụ thể là bản thân quân nhân, con cháu của quân nhân cũng sẽ được sống trong sung sướng.

  1. 3.     Sự nguy hiểm của chính trị hóa quân đội

Bản chất của quân đội của bất kỳ nước nào cũng không có chính trị. Việc chính trị hóa quân đội có nghĩa là một nhóm chính trị nào đó nắm quyền điều hành quân đội để bảo vệ lợi ích chỉ của nhóm chính trị đó thôi. Việc trao cho Tổng thống quyền “tổng tư lệnh tối cao” khác hoàn toàn với việc “chính trị hóa quân đội” như hiện nay. Bởi vì Tổng thống là của đất nước, của dân, phụng sự vì dân vì nước, cho dù khi tranh cử là đảng viên của một đảng phái nào đó. Nhưng khi làm Tổng thống, ông không có quyền dùng quân đội để bảo vệ và phục vụ lợi ích của riêng đảng của mình. Tổng thống Ai Cập Mursi mắc phải sai lầm này, và đã bị phản đối.

Có lập luận cho rằng “các đảng phái đều có âm mưu tranh giành quyền điều hành quân đội”, phi chính trị hóa quân đội là “mắc bẫy”. Thực ra cách nói này không đúng, và sai về bản chất vấn đề. Việc phi chính trị hóa quân đội cũng giống như việc gỡ bỏ “vòng kim cô” trên đầu của quân đội mà thôi. Khi đó, quân đội sẽ không bị sai khiến bởi một đảng phái nào đó để phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của riêng đảng phái đó, bảo vệ sự tồn vong của nhóm người đó (thiểu số) và vô tình quay lưng lại với nhân dân (đa số). Nhiệm vụ cao cả và thiêng liêng bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân (trong đó có gia đình và người thân của quân nhân) nay không còn.

Nếu lập luận rằng “còn Đảng, còn ta” thì e rằng không thuyết phục. Bởi “Đảng” là đảng, còn “ta” là ta. “Ta” từ nhân dân mà ra, sinh ra để bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Việc trả quân đội về “dân sự”, không “chính trị hóa” sẽ tăng quyền lực thực sự cho các chỉ huy, và có sức mạnh vượt bậc, không bị “một người không có chuyên môn, không biết gì về quân sự” “cỡi đầu cỡi cổ”.

Nếu chính trị hóa quân đội, thì mỗi đảng được lập ra sẽ kèm theo việc lập quân đội riêng để tăng sức mạnh cho đảng đó, nghĩa là sẽ dẫn tới nội chiến! Lúc đó, sức mạnh trí tuệ của đảng được thay thế bằng sức mạnh vũ lực của quân đội. Tức là thay vì thể hiện “trí tuệ hơn người”, thì các đảng phái sẽ tranh nhau thể hiện “cơ bắp hơn người”. Thế thì đất nước rơi vào nội chiến lần nữa chăng?

Các đảng phái tranh nhau bằng trí tuệ, chứ không phải tranh nhau bằng vũ lực. Một khi đã thể hiện vũ lực thì chỉ chứng tỏ cho dân thấy “trí tuệ mình kém hơn người khác”, và không tự tin nghĩ rằng mình sẽ thắng bằng trí tuệ.

  1. 4.     Thay đổi từ cấp càng cao (chủ động thay đổi) thì càng ít rối loạn và ngược lại

Myanmar đã khôn ngoan, rất khôn ngoan để chọn một lối thoát cho sự bế tắc của họ. Cho đến giờ, sự thay đổi đó chưa tạo ra một rối loạn nào, mà ngược lại tăng uy thế trên trường quốc tế. Từ một nước bị cô lập, bị “đội sổ” trong 10 nước ASEAN, nay Myanmar đã thay đổi. Vậy ai sẽ thay thế? Việt Nam! Nói tới nước “có vấn đề” trong ASEAN, mọi ánh mắt đều dồn về “Việt Nam”. Những ánh mắt e ngại của cộng đồng quốc tế đã chuyển từ Myanmar sang Việt Nam. Sự thay đổi này không có ai “giật dây” cả, mà họ thấy cần thiết, thấy có lợi cho dân, và là lối thoát an toàn cho những lỗi lầm trước đây. Tại sao chúng ta cứ khư khư, liệu giấu mãi sai lầm được không? Sự khoan dung của người Việt sẽ an toàn cho tất cả, để cùng tự hào và không mặc cảm khi đi ra các nước.

Các nước bị rối loạn hầu hết là thay đổi chậm, và tệ hơn là thay đổi “từ dưới lên”. Bởi vì khi càng cố giữ, càng tỏ ra bạo lực, thì càng gây thù oán, càng xa dân mà thôi. Khi không có một đảng phái nào nổi trội hơn hẳn, ắt sẽ rối loạn. Cũng như phân tích trên, đảng phái cần được đa số dân ủng hộ thì mới “làm được việc”. Nếu để càng lâu, uy tín của Đảng Cộng sản (hiện nay đang ưu thế) ngày càng thấp sẽ là mối nguy cho xã hội. Thay đổi cũng chính là cơ hội để Đảng Cộng sản tự thay đổi chính tổ chức của mình, để trở nên vững mạnh và được dân tín nhiệm, thì cơ hội cầm quyền là chắc chắn. Khi nào Đảng Cộng sản còn kể công quá khứ, mà né tránh hiện tại, thì khi đó sẽ không thuyết phục được dân theo.

Một sự thay đổi gây rối loạn nữa là do gian lận và mất đi nền tảng pháp lý xã hội. Cứ nhìn những gì chính quyền đang đề nghị (công an được bắn trực tiếp vào dân khi “chỉ cần có dấu hiệu chống người thi hành công vụ”) cho thấy xu hướng bạo lực hóa xã hội ngày càng tăng. Đó là mầm mống của áp bức và bạo lực tự phát sẽ diễn ra. Lúc đó không còn luật pháp (mà hiện nay đã không còn), mọi người hành xử theo cảm xúc, miễn cho mình đúng thì có quyền bắn người khác (kể cả dân sẽ bắn công an – ai biết được!). Khi có nhiều người bức xúc và “chống người thi hành công vụ” thì nên xem lại đội ngũ “công chức” có hành xử đúng mực không. Bản thân “người thi hành công vụ” cũng phải làm đúng luật thì mới “tâm phục khẩu phục” được. Cứ hỏi cánh tài xế xem, có bao nhiêu biển báo giao thông bất hợp lý trên đường quốc lộ, và họ đã bị công an “làm tiền và móc túi” như thế nào, họ sẽ kể cả mấy ngày, nghe không hết. Tại sao phải tạo “nhiều cái bẫy” để công an kiếm tiền như vậy? Nhiều “cái bẫy” rõ đến mức chẳng cần học hành gì cũng biết.

  1. 5.     “Thay đổi” chứ không phải “lật đổ”, không có nghĩa Đảng phải “chết”

Nếu Đảng Cộng sản chủ động thay đổi, đừng xem thường những ý phản biện, rồi mở chiến dịch công kích và bôi nhọ, thì sẽ tốt hơn nhiều. Đừng phản ứng thái quá, bởi lãnh đạo càng cao thì phải càng sáng suốt, lời nói “trước sau như một”, đừng tỏ ra bất nhất như vừa rồi. Các ông hãy hóa trang là người dân thường, đi uống cà phê, đi ăn bình dân… sẽ thấy cả mấy bác xích lô cũng bàn chuyện thay đổi. Tại sao chúng ta quy chụp, trích đoạn để bôi nhọ? Tại sao không cho đăng toàn văn những góp ý, rồi làm một cuộc khảo sát nghiêm túc “Bạn thấy có cần giữ điều 4 không?”, sẽ nhận được câu trả lời ngay. Để đỡ tốn kém, có thể khảo sát trên VNExpress cũng được. Tôi tin là chỉ trong vòng 1 ngày, sẽ có đầy ắp bình chọn. Điều đó cho thấy người dân quan tâm tới chính trị, tới đại cuộc quốc gia, tới tồn vong dân tộc đến mức nào.

Thay đổi tức là “cho phép người khác được nói” khác ý mình mà không bị cầm tù, không bị kết tội. Để qua đó đo lường được sự cần thiết như thế nào, chứ không phải chỉ nói những gì ta muốn nói. Không ai có thể “lật đổ” được Đảng Cộng sản hiện nay, vì những “lực lượng phản động” đã đi nước ngoài hết rồi. Sao lại phải sợ một người chỉ nói mà không có súng đạn trong người? Không lẽ họ nói quá đúng hay sao mà chúng ta lại úp úp mở mở, không công khai toàn văn “họ đã nói gì”?

Nếu Đảng Cộng sản khởi xướng thay đổi bằng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, để rồi thấy “nguy cơ”, rồi “bịt miệng” lại hết, e rằng sẽ không ổn trong tình hình hiện nay. Thay vào đó, khôn ngoan hơn, tỏ ra mình có trí tuệ hơn người, bằng cách “tự thay đổi mà không cần một áp lực nào”, mới là thượng sách. Lúc đó, tôi tin rằng nhiều người sẽ vẫn bầu cho Đảng Cộng sản, chứ không phải một đảng phái nào khác, mà mình cũng không cần “ép dân bầu cho mình” bằng cách giữ điều 4. Tôi tin tỷ lệ đó vẫn là hơn 90%. Lúc đó công trạng của Đảng Cộng sản vẫn được giữ nguyên vẹn, chứ không khéo sau này, dân “tự xử” thì họ chỉ kể tội, mà quên công lao của Đảng Cộng sản là giành độc lập và thống nhất đất nước.

Đảng Cộng sản nếu chủ động tạo thay đổi, sẽ mãi “sống” trong lòng dân tộc, chứ không bao giờ “chết” như nhiều người lo sợ.

  1. 6.     Gốc rễ của rối loạn xã hội sau chính biến: gian dối và tái lập lợi ích nhóm

Các cuộc chính biến gây rối loạn xã hội, nếu nhìn kỹ thì là do không có một nhóm nào áp đảo các nhóm còn lại, và xã hội đã bị chia rẽ nhiều, hoặc do gian lận với nhau, hoặc do quân đội can thiệp và thiên vị cho một nhóm chính trị nào đó.

Như đã nói trên, chính trị là phải thể hiện “trí tuệ”, phải “đấu trí” chứ không phải “đấu cơ bắp”. Khi tình hình ổn định, nên chủ động tạo ra cuộc đấu trí thực sự, chứ đừng để xã hội dẫn tới một cuộc “đấu súng” do bức xúc không được giải quyết thỏa đáng. Kinh nghiệm các nước cho thấy, rồi tới lúc quân đội cũng sẽ đứng về lẽ phải, về chính nghĩa, khi họ được biết rõ tình hình.

Sự gian dối, vì lợi ích cục bộ của nhóm mình, của riêng đảng mình… sẽ dẫn tới rối loạn sau bất kỳ một cuộc cách mạng nào, cho dù nó nhân danh mỹ miều đến mấy, để lôi kéo mọi người hy sinh giành thắng lợi. Nhưng trước sau thì người dân cũng biết, và động thái phản ứng lại, đòi thay đổi của các cựu đảng viên Cộng sản, các đảng viên hiện tại… là minh chứng cho điều đó. Đảng Cộng sản ngày càng xa dân, ngày càng gần quân đội. Đó là một sai lầm chiến lược. Và đó cũng là gốc rễ của sự chia rẽ, của rối loạn xã hội. Đảng Cộng sản cho rằng phi chính trị hóa thì quân đội sẽ trở thành “quân đánh thuê”. Nhưng đánh thuê cho ai? Cho nhân dân sao? Còn nếu chính trị hóa như hiện tại thì quân đội không phải là phục dịch, nô lệ cho Đảng Cộng sản sao? Mà nói trắng ra là toàn thể quân đội chỉ phục vụ cho một nhóm người cầm quyền của Đảng Cộng sản, những người có lợi ích, gọi là “nhóm lợi ích”. Quan hệ như vậy là “chủ tớ” rồi. Há chẳng phải là “đánh thuê” cho Đảng Cộng sản sao?

  1. 7.     Thay đổi quan điểm quản lý quân đội, chứ không thay đổi bản chất quân đội

Thay đổi được kêu gọi là phi chính trị hóa quân đội, có nghĩa là trả quân đội lại về cho nhân dân – người chủ của đất nước. Tre già măng mọc, quân đội luôn từ nhân dân mà ra, luôn có sức mạnh của tuổi trẻ, trí tuệ của người già.

Quân đội vẫn là thể thống nhất chứ không hề yếu đi, không hề tan rã, mà ngược lại sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều lần. Bởi ai cũng ở đúng vị trí của họ, nên phát huy hết sức mạnh của mình, và chính vì vậy làm quân đội mạnh mẽ hơn. Việc phong hàm tướng tá không còn dựa vào ý kiến của Đảng Cộng sản, mà dựa vào thành tích và tài năng về quân sự của người đó.

Như vậy tiếng nói của các vị tướng tá sẽ được trọng vọng hơn, có sức nặng hơn, chứ không như hiện nay.

Bản chất quân đội là bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân thì không hề thay đổi. Nếu quân đội lại chỉ bảo vệ Đảng Cộng sản và chống lại nhân dân, đồng nghĩa với phản bội dân tộc, phản bội tổ quốc.

  1. 8.     Thay đổi có lợi cho con cháu của cả Đảng viên, quân nhân

Sự thay đổi sẽ tạo môi trường phát triển tốt hơn về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, chính trị…, sẽ làm nảy sinh ra nhiều nhân tài, và từ họ sẽ tạo ra rất nhiều ngành nghề, nhiều công ăn việc làm. Chỉ cần có tài trong bất cứ lĩnh vực nào, mọi người bất kể nghèo hèn, bất kể địa vị, bất kể xuất thân là gì, miễn là có nỗ lực hết mình, có tài thì ắt sẽ trở nên giàu có. Đó mới là “xã hội dân sự” mà chúng ta cần xây dựng. Không như hiện nay, chỉ dựa vào mỗi quyền lực chính trị thì mới giàu, còn không thì sẽ bị “đập chết”. Hay nói cách khác, nếu bạn không thuộc hai nhóm này thì bạn không thể làm giàu: nước ngoài và tư bản đỏ!

Khi một người giàu có, thì sẽ kéo theo nhiều người khác có thu nhập cao hơn, và nâng mức sống xã hội lên ngày càng cao. Singapore chỉ cần 30-40 năm đã đạt đến thu nhập bình quân đầu người cao nhất nhì thế giới. Người Việt Nam không phải dở, chỉ cần có môi trường tốt, thuận lợi, thì họ sẽ làm việc cật lực để thay đổi cuộc đời. Đó là khát vọng của rất nhiều người Việt. Sinh ra là người Việt, dù ở đâu, cũng phấn đấu để vươn lên vị trí cao hơn, không đời mình thì đời con cháu mình phải đạt được. Đó cũng là ý chí của người Việt. Nhiều người thành đạt ở nước ngoài là vậy. Chỉ cần tạo môi trường tốt!

Có chắc gì con cháu sẽ theo nghề cha mẹ khi nó có một năng khiếu đặc biệt khác, không phải là chính trị? Nó có thể làm giàu bằng chính năng khiếu đó mà không cần dựa dẫm vào quyền lực của cha mẹ? Đó là một xã hội dân sự. Chỉ cần giỏi đá bóng là đủ giàu có, sống xa hoa. Liệu chừng nào cầu thủ Việt Nam có thể sống cả đời bằng chính tài năng của họ?

Sự giàu có chung của xã hội, kéo theo mặt bằng lương cao hơn, và dĩ nhiên lương của quân nhân cũng tăng theo. Chứ không như bây giờ, muốn tăng 100 ngàn là cả một vấn đề. Bởi vì có quá nhiều người đang sống bám vào quyền lực mà không làm gì hiệu quả để sinh ra của cải cho xã hội. Giống như một bầy muỗi hút máu vậy.

  1. 9.     Xã hội dân sự tạo nhiều ngành nghề và tăng cạnh tranh quốc tế và vị thế quốc gia

Khi đã có tự do, sự sáng tạo của người Việt không bị bó hẹp nữa, sẽ bùng phát phát triển kinh tế, chỉ cần trong vòng 10-20 năm sẽ khác xa hiện nay. Nhiều ngành nghề mà người Việt giỏi thì sẽ được phát triển tối đa.

Sự phấn khởi của xã hội lên cao, niềm tin đã có do lãnh đạo tốt, sẽ kích thích họ làm việc. Và lúc đó không cần tuyên truyền “phải yêu nước” thì tự trong mỗi người cũng sẵn có rồi. Tự hào dân tộc lúc nào cũng có. Những ánh mắt e ngại, xem thường người Việt sẽ không còn, và vị thế quốc gia cũng tăng.

Cách đây 20 năm, tôi đến sân bay Bangkok, thấy người Myanmar nghèo khó ốm yếu nhìn mọi người với ánh mắt ái ngại, nhưng giờ họ có thể ngẩng cao đầu, mà không còn bị thế giới coi thường nữa. Đó là sự thay đổi dũng cảm, ngoạn mục, và của người có tầm, có tâm với đất nước, với dân tộc. 

N. Q. B. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link