Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, May 11, 2013

Đúng là 1 lũ ăn cướp của dân : vừa ngu vừa ác !


 

Đúng là 1 lũ ăn cướp của dân : vừa ngu vừa ác !




T
ài liệu "Khó Tin" nhưng có THẬT :
VN có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la
Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt - Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.
 
“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty.
 
Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
"Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…
 
 
Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ.
 
Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston.
 
Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
 
Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là “ Giai cấp mới trong các chế độ CS “ cho biết :
 
"Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân.
 
 Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng".
 
"Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.

"Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.
 


"Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.
"..
 
Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.

- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK
.- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK. 
 
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
 
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:

"Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Cựu  Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
CựuThủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Cựu chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
 
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…
 
Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là “bí mật quốc gia”, internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.
 
 
Quan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốcSunday, September 11, 2005
* CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng ...
 
GENEVA 11-9 (NV) - Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc.
 
Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.“Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.”
 
Nhân vật trên tiết lộ.
 
Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường.
 
Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc.
 
Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn.
 
Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.
 
Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ.
 
Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ.
 
Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.“Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.”
 
Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?“Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo.
 
 Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới.
 
Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.
 
Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”.      
 
Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh - anonymous account - ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó...”
 
Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.
 
Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền.      
 
Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005.
 
Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng."Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”.
 
Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.”Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới.
 
 Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”.

Bán Hoặc Cho Thuê Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau.
 
Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển.
 
Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc.
 
 Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la. (NT).

NT


__._,_.___

Con Đường Dẫn Tới Sụp Đổ


 

Con Đường Dẫn Tới Sụp Đổ

              các bạo quyền CS, trước Cơn Lốc

                  Dân Chủ Hoá Toàn Cầu

            

       Tập đoàn chóp bu Bắc bộ phủ vô cùng bối rối đối đầu trước cơn lốc “Cách Mạng Dân Chủ Hoá Toàn Cầu”đang diễn biến tại quốc nội. Bọn thái thú tham nhũng, sâu dân, mọt nước hút máu đồng bào của tập đoàn bạo quyền Nguyễn Tấn Dũng từ thượng tầng trung ương xuống đến phường, xã ngày càng lộng hành.
Chúng ra mặt đấu đá nhau với tập đoàn Chính Trị Bộ Trung Ương Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang bắt nguồn từ nguyên nhân nội tại triệt hạ phe cánh lẫn nhau:

 

   Nguyên Tắc Đảng Lãnh Đạo, Nhà Nước Quản Lý: Nguyên tắc nầy đảng trùm lên trên chính phủ theo truyền thống đảng trị tự xưa nay. Nhưng kể từ khi Hoa Kỳ xã cấm vận, thu nhận CS vào WTO qua sách lược “Cũ cà rốt và chiếc gậy”. Tập đoàn chóp bu bắc bộ phủ dư biết điều nầy Mỹ muốn gì và triệt để khai thác? Nguyên tắc công pháp quốc tế, chính phủ Hoa Kỳ và các chính phủ khác chỉ ký kết khế ước với chính phủ CS là tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu nội các mà thôi. Người ta không cần biết tới tên TBT đảng Nguyễn Phú Trọng, chỉ là một tổ chức đảng phái sinh hoạt chính trị như bao nhiêu các chính đảng khác, không có tư cách pháp quyền đại diện ký kế khế ước.
 
 Do đó, tập đoàn Chính Trị Bộ Trung Ương Đảng CSHN tăng cường cho tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiều quyền hành để ra ngoài ký kết với Mỹ và các nước những khế ước mậu dịch, nhất là từ khi Mỹ xả cấm vận, cho CSHN được hưởng quy chế “Tối Huệ Quốc, cũng như chương trình Thương Mãi Quốc Tế (Word Trade Organization (WTO) ký kết song phương, đa phương những khế ước nhằm kiếm ngoại tệ (dollars) rập khuôn theo quan thầy Tàu đã vứt cái gọi là kinh tế HXCN lỗi thời lạc hậu vào sọt rác từ thời Đặng Tiểu Bình, thay vào đó bằng nền kinh tế thị trường đã cứu nguy sự sụp đổ.
Thế nhưng CSHN cũng rập khuôn, học theo quan thầy, nhưng lại trơ trẽn chế ra những cụm ngụy từ vô nghĩa “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” nghe thật chói tai.

      Vai Trò Đảng Lãnh Đạo Như Một Bóng Mờ:

      Cũng chính sự kiện nầy; vai trò đảng lãnh đạo lu mờ dần vào bóng tối, chỉ còn phảng phất trên lý thuyết. Từ ấy, Nguyễn Tấn Dũng ngày càng củng cố phe cánh tham nhũng từ trên xuống dưới một hệ thống rất chặt chẽ để bảo vệ quyền lực và quyền lợi lẫn nhau qua mặt TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang và còn chơi xỏ lá triệt bồ nhí Trương Tấn Sang là nữ đại biểu quốc hội Đặng Hoàng Yến và thằng em Đặng Thành Tâm cũng ĐBQH cấu kết đường dây tham nhũng hạng nặng . Sang cay cú bèn cấu kết với Trọng trả đủa triệt tên Bầu Kiên đàn em thân tín nhất của Dũng và đứa con gái làm mưa làm gió trong hệ thống tham nhũng tại Sài Gòn Thủ Đô Kinh Tế của bọn ma cô “Tư Bản Đỏ”.
Không dừng lại ở đó, TBT Trọng và CT nước Trương Tấn Sang triệu tập Chính Trị Bộ & Trung Ương Đảng một cuộc họp bất thường với mưu đồ hạ bệ Dũng khỏi chức vụ thủ tướng. Nào ngờ phe cánh thái thú Nguyễn Tấn Dũng đâm chồi, bén rể của cái hệ thống chính quyền thắng thế, mặt khác Dũng ma dáo nhanh chân chạy qua Tàu nhờ quan thầy CT Tập Cận Bình và thủ tướng Ôn Gia Bảo đỡ đầu, bảo hộ nên Dũng vẫn ở thế thượng phong, khiến Trọng và Sang lếp vế. Trong cuộc họp bất thường nầy khiến Trọng bối rối đến nỗi không dám nêu đích danh Dũng ra, mà chỉ ú ớ ám chỉ những sai phạm cần phải sửa sai của đồng chí “X”? đồng chí "X" là đồng chí nào?

      Chưa triệt được Dũng, phe TBT Trọng và CT Sang vận dụng hành lang nguyên tắc đảng lãnh đạo, tước dần  những quyền đã trao cho Dũng để gỡ gạt và dằn mặt tập đoàn đàn em của thái thú Dũng. Cơn sóng ngầm tranh chấp quyền lực phe nhóm tại sào huyệt Bắc Bộ Phủ của bọn chóp bu, bè lũ thái thú bán nước, phản quốc hại dân đến ngày cáo chung. Bọn chúng đang ra sức gây bè kết đảng để triệt hạ nhau theo quy luật “gian hùng” mạnh được yếu thua chờ ngày bộc phát những pha ngoạn mục.

 

      Con Đường Tử Huyệt, Đào Mồ Chôn Chúng:

      Lần đầu tiên và có thể là lần chót; chúng phơi bày bộ mặt tội ác xấu xa trước dư luận quần chúng trong, ngoài nước mỗi ngày tăng thêm sự phẫn nộ.
 Để xoa dịu căm phẫn, chúng đưa dân tộc vào “mê đồ trận” bày ra qủy kế cũ rích; kêu gọi toàn dân góp ý sửa đổi Hiến Pháp. Thì cũng chính mưu ma, chước qủy nầy đang dóng lên “HỒI CHU BÁO TỬ” ĐCS bọn vô thần, bá đạo, mà chúng “LỘNG DÃ THÀNH CHÂN”.

 

      Tất cả mọi tầng lớp trí yêu nước, Hội Đồng Giám Mục Việt và các Hội Đồng Tôn Giáo bạn, các phong trào dân chủ trong và ngoài nước như nước vỡ bờ, như cơn lốc xoáy, như sóng dâng cuồn cuộn hô hào khai tử ĐCS (Điều 4 HP). Sự kiện nầy sẽ biến thành cuộc “CÁCH MẠNG HIẾN PHÁP” cuộc “CÁCH MẠNG DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU” chôn vùi, quét sạch bọn tà quyền CS còn sót lại trên hành tinh nầy tại Á CHÂU (CS Hà Nội, CS Bắc Kinh và CS Bình Nhưỡng)  thắp sáng chân lý:

 

      “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”

                “Ý DÂN LÀ Ý TRỜI”

“Thuận thiên dã tồn, Nghịch Thiên dã vong” @

 

                    Cao Gia/Trúc Giang.

Friday, May 10, 2013

Thế nào là dân chủ hóa?


 

Thế nào là dân chủ hóa?


Ngô Nhân Dụng


Năm ngoái nước Miến Điện (Myanmar) bắt đầu tiến trình dân chủ hóa; sau khi chính quyền quân phiệt mời bà Aung San Suu Kyi và đảng Liên minh Dân tộc Dân chủ do bà lãnh đạo tham dự cuộc bỏ phiếu, dù chỉ bầu có một phần vào Quốc hội.

Hiện tượng này cũng giống như cuộc bầu cử năm 1989 tại Ba Lan, trong đó Công đoàn Đoàn Kết (Solidarnosc) lần đầu tiên tham dự cuộc bầu cử, chỉ bầu 35% Quốc hội (Sejm). Cả hai lần, các nhóm đối lập với chính quyền đều thắng lớn. Năm đó, Ba Lan cũng sống trong tình trạng “thiết quân luật.” Dưới quyền một “Hội đồng Cứu quốc,” hầu hết các bộ trưởng, các chủ tịch địa phương, và phần lớn chức quản đốc các doanh nghiệp nhà nước đều do quân nhân nắm giữ. Các cuộc tranh cử trên diễn ra mặc dù cả cả đảng bà Suu Kyi và công đoàn của ông Walesa đều chưa được công nhận là hợp pháp.

Cả hai cuộc bỏ phiếu trên đều chỉ diễn ra sau khi những người đang cầm quyền tại hai quốc gia đã gặp gỡ, thảo luận với những người đối lập; và tại mỗi nước, chính quyền cũng như bên đối lập đều tin tưởng vào thiện chí của nhau trước khi bắt tay tiến hành dân chủ hóa. 

Miến Điện cũng giống Tây Ban Nha

Tiến trình dân chủ hóa tại hai nước trên được các nhà nghiên cứu chính trị học gọi là “reforma pactada – ruptura pactada,” có nghĩa là “thỏa hiệp để xóa bỏ và để cải tổ.” Danh hiệu này quen viết bằng chữ Tây Ban Nha, bởi vì đã được áp dụng lần đầu tại nước này. Có lẽ việc thay đổi chế độ ở Miến Điện giống trường hợp tương tự ở Tây Ban Nha năm 1976, nhiều hơn là giống Ba Lan năm 1989.

Bởi vì Ba Lan bắt đầu dân chủ hóa do các cuộc đình công làm áp lực của Công đoàn Solidarnosc, được dân cả nước ủng hộ. Năm 2012, Liên minh Dân tộc Dân chủ ở Miến Điện chưa tạo được một thế đối lập rộng rãi như vậy; chính quyền quân phiệt Miến không bị thách thức mạnh mẽ như đòi thay đổi ngay như ở Ba Lan. Có một điểm tương đồng là tại cả hai nước người dân đều lo ngại trước thế lực của nước ngoài, Liên Xô vẫn đè nặng trên vùng Đông Âu và Trung Quốc có thể thao túng chính quyền Miến Điện.

Điểm tương đồng đáng kể nhất là tại Tây Ban Nha cũng như ở Miến Điện, việc khởi động tiến trình dân chủ hóa đều do ý những người đang nắm quyền xướng xuất. Họ không bị một áp lực nào từ quần chúng, như Tướng Jaruzelski tại Ba Lan.

Chính quyền Tây Ban Nha đang đứng vững, dân chúng hài lòng về các tiến bộ kinh tế; Tây Ban Nha cũng không trải qua những cuộc thua trận nhục nhã, như khi cuộc đảo chính để bắt đầu dân chủ hóa diễn ra ở Bồ Đào Nha vào năm 1974, sau khi nước này thất bại trong cuộc chiến giữ thuộc địa tại Angola, Mozambique và Guinea.

 Tây Ban Nha không bị một quốc gia nào nhòm ngó, như những hành động di dân và khai thác tài nguyên mà Trung Quốc đã thi hành đối với Miến Điện. Nếu dân Tây Ban Nha có bất mãn, thì lý do chính là họ thấy quốc gia mình còn quá lạc hậu so với các nước cùng ở phía Tây châu Âu.

Tây Ban Nha còn khác Miến Điện một điều nữa, là tình trạng phe dân chủ chưa được kết tụ lại. Khi bắt đầu thực hiện dân chủ hóa, Thủ tướng Aldofo Suárez không thấy một lãnh tụ đối lập nào có vai trò tiêu biểu như bà Suu Kyi tại Miến.

Nhiều đảng phái đã hoạt động còn đang bị cấm, nhiều lãnh tụ chính trị bị cầm tù nhưng họ không đồng ý với nhau. Đảng Cộng sản vẫn còn theo đường lối Nga Xô không thể hợp tác với đảng Xã hội; lại càng không thể nói chuyện với các nhóm dân chủ khác. Trong số các đảng này không có ai nổi bật lên để có thể coi là đại diện phe dân chủ. Vì thế, ông Suárez không thể mời một nhân vật hay riêng một đảng nào đứng ra thảo luận với mình về một “reforma pactada – ruptura pactada,” để bắt đầu tiến trình dân chủ hóa.

Muốn tìm ra người đối thoại, Suárez thấy chỉ có một cách danh chính ngôn thuận, là tổ chức bầu cử cho dân chúng chọn người đối thoại với mình! Hai lần lên ti vi sau khi nhậm chức vào giữa năm 1976, ông đề nghị với toàn dân cùng bắt đầu dân chủ hóa, và hứa hẹn sẽ tổ chức một cuộc bầu cử Quốc hội trong vòng một năm. Ông cam kết mọi người sẽ tự do bỏ phiếu kín, ai cũng được tranh cử, được thông tin đầy đủ về các ứng cử viên cho dân chúng biết!

Công đóng góp của Aldofo Suárez rất đáng kể; vì không có gì thúc bách chính quyền Tây Ban Nha phải bắt đầu dân chủ hóa ngay. Tướng Franco chết vào cuối năm 1975, sau khi đưa vua Juan Carlos lên ngôi, tái lập chế độ quân chủ lập hiến.

Kinh tế Tây Ban Nha lúc đó đã phát triển đều, trong những năm từ 1961 đến 1970 đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,3%, tốc độ nhanh nhất ở Châu Âu. Dân chúng cũng không mấy người quan tâm đến việc cải tổ chính trị, mà quân đội thì chắc chắn không muốn thay đổi; vì chế độ của Tướng Franco dựa trên quân đội, hậu quả của cuộc nội chiến thời 1930. Nhưng Suárez nhấn mạnh vẫn phải tổ chức bầu cử tự do, vì sau 40 năm “xã hội Tây Ban Nha đã thay đổi”.

Công việc của Suárez khó khăn hơn ông Thein Sein, Tổng thống Miến Điện rất nhiều. Suárez phải vận động ngay trong nội bộ đảng cầm quyền để họ ủng hộ chương trình cải tổ. Trước hết Suárez phải thuyết phục Quốc hội (Cortes) biểu quyết Luật Cải tổ Chính trị, mà đại đa số dân biểu đều thuộc một đảng, Movimiento Nacional.

Khó khăn, bởi vì các đại biểu sẽ phải thông qua một đạo luật mà họ biết trước hậu quả là những địa vị họ được đang hưởng sẽ bị mất. Nhưng đạo luật Cải tổ Chính trị đã được thông qua (425 thuận, 59 chống), vì chính các đại biểu Quốc hội cũng biết “xã hội đã thay đổi”.

Việc thông qua đạo luật Cải tổ Chính trị cốt cho dân chúng và các người đối lập thấy rằng những người cầm quyền thực tâm muốn thay đổi.  Để bảo đảm không ai có thể bị kéo thụt lùi quá trình dân chủ hóa, Suárez còn đưa ra đạo luật ra trưng cầu dân ý vào cuối năm 1976. Có 77% các cử tri hợp lệ đi bỏ phiếu và 94% đồng ý về đạo luật mới này – là những tỷ lệ rất cao.

Một tuần lễ sau đó, Suárez gặp gỡ những lãnh tụ đối lập, dù các đảng phái còn chưa được hợp thức hóa. Ông mời họ cộng tác tham dự cuộc bầu cử; kể cả lãnh tụ đảng Cộng sản Carillo, sau khi ông này mới được thả ra khỏi tù.

Hành động can đảm nhất của Suárez là, vào tháng Tư năm 1977, ông đã chính thức chấp thuận đảng Cộng sản được hoạt động, sau khi họ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật hơn 40 năm. Cuộc nội chiến vẫn còn ám ảnh trong ký ức mọi người dân, nhất là trong quân đội. Các tướng lãnh phản đối mạnh mẽ. Khi Bộ trưởng Hải quân từ chức, không một vị tướng nào chịu lên thay, phải mời một đô đốc hồi hưu ra làm việc. Suárez đã biện hộ cho quyết định của mình; bày tỏ quyết tâm tôn trọng các quy tắc dân chủ: “Tôi không theo chủ nghĩa cộng sản, tôi còn chống lại chủ nghĩa này hoàn toàn.

 Nhưng tôi là một người dân chủ, một người dân chủ thành khẩn. Cho nên tôi tin rằng nhân dân chúng ta đã đủ trưởng thành để sống trong một xã hội nhiều đảng phái. …Trong cuộc sống chung với nhau, một trong số những quyền và bổn phận của chúng ta là chấp nhận ngay cả người đối kháng với mình (adversario). Nếu cần phản đối ai thì phải thực hiện điều đó qua cuộc cạnh tranh, theo cung cách văn minh”. Tháng Sáu năm 1977, cuộc bầu cử Quốc hội tiến hành, mở rộng cho tất cả các đảng. Ngay cả một đảng Tân phát xít (Fuerza Nueva) cũng được chính thức tranh cử và có một người đắc cử, dù đảng này chính thức chủ trương bác bỏ thể chế dân chủ!

Quốc hội được bầu lên đã thảo luận và thông qua một bản Hiến pháp mới; bản Hiến pháp được đưa ra trưng cầu dân ý vào cuối năm 1978 để chính thức ban hành.

Nước Tây Ban Nha đã đi những bước rất nhanh trong tiến trình dân chủ hóa. Và tiến đến trình độ vững chắc; đã được cả xã hội chấp nhận và không ai muốn quay ngược lại tiến trình. Đến năm 1982 khi ông Filipe González, đảng Xã hội, lên làm Thủ tướng thì coi như chế độ dân chủ đã thật sự vững vàng. Một viên đại tá đứng đầu cuộc đảo chính hụt năm 1981 đang bị giam, nhưng tòa án đã phán quyết cho ông ta vẫn được điều động cuộc vận động tranh cử của đảng của ông là Solidaridad Espanola, làm việc ngay từ trong nhà tù!

Quy tắc dân chủ đã được tôn trọng, mà người dân không thiệt thòi gì cả. Đến năm 1985, có 76% dân chúng Tây Ban Nha nói họ hãnh diện về cuộc chuyển hóa từ chế độ độc tài sang dân chủ. Năm 1993, 79% dân chúng đồng ý rằng “Dân chủ là thể chế tốt nhất cho nước ta”.

Chúng ta không thể đoán trước tiến trình dân chủ hóa ở Miến Điện có thể đi nhanh, với những bước vững chắc như ở Tây Ban Nha hay không. Bởi vì dân chủ hóa là một quá trình phức tạp. Không phải cứ xóa bỏ một chế độ độc tài xong là một xã hội bắt đầu trở thành dân chủ.

Nới lỏng tự do chưa phải dân chủ hóa

Một ngộ nhận thông thường là người ta không phân biệt hai thứ trông từ ngoài thấy giống nhau: Nới lỏng tự do không có nghĩa đã là dân chủ hóa; mặc dù chúng ta biết muốn dân chủ hóa thì ngay bước đầu phải nới lỏng tự do.

Tại nhiều nước độc tài, chính quyền có thể ban bố một số quyền tự do cho dân chúng được hưởng, nhưng không chắc từ đó sẽ tiến tới dân chủ hóa. Thí dụ, người ta có thể giảm bớt (hoặc bãi bỏ) việc kiểm duyệt các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, và internet, một hành động mà chính quyền Miến Điện đã làm. Chính quyền Miến Điện đã cho phép cả những người làm báo từ nước ngoài được trở về xuất bản báo ở trong nước. Họ cũng đã trả tự do cho nhiều tù nhân chính trị; đã cho phép dân được tập họp tự do hơn trong các hội đoàn, đảng phái; tóm lại là chấp nhận trong xã hội phải có các ý kiến và tổ chức đối lập. Tất cả các hành động trên có thể gọi là “nới lỏng tự do” (liberalization).

Nới lỏng tự do rất đáng hoan nghênh, nhưng chưa đủ gọi là dân chủ hóa (democratization). Vì dân chủ hóa là một tiến trình chính trị với những đặc tính cụ thể và rõ ràng, không thể thiếu được. Trước hết, dân chủ hóa nghĩa là người dân có khả năng thay đổi những người đang nắm quyền hành. Cụ thể, là phải cho mọi người được tham dự vào những cuộc bầu cử tự do; người dân được lựa chọn, ai thắng phiếu sẽ lên cầm quyền; và luật bầu cử không có các hàng rào chính trị ngăn cản những người ứng cử.

Dân chủ hóa chỉ thành tựu khi nào đại đa số dân chúng và những người hoạt động chính trị thỏa thuận được với nhau về những thủ tục, thể thức để bầu cử những người nắm quyền; khi các chính phủ là do chính người dân bầu lên; khi chính quyền đó có thể đưa ra và thực hiện các chính sách mà không bị một thực thể nào khác chi phối, dù là một đảng chính trị, là quân đội hay một tổ chức nào khác. Quan trọng nhất là trong guồng máy điều hành quốc gia, những người nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tự họ có thể hành động mà không bị chi phối bởi các quyền kia; lúc đó mới có thể coi việc dân chủ hóa đã thành tựu.

Năm 1985 ông Mikhail Gorbachev và Bộ Chính trị đảng Cộng sản Liên Xô đã ban bố các chính sách glasnost và perestroika, dù họ không bị một áp lực bên ngoài nào thúc đẩy; nhưng chủ ý của họ chỉ là nới lỏng các quyền tự do trong xã hội xô viết, chứ không có ý định tiến tới, và chắc chắn không có kế hoạch tiến tới dân chủ hóa. Điều này phải chờ đến năm 1990. Vào năm 1976 Tây Ban Nha thực sự bắt đầu dân chủ hóa ngay, điều này không thể phủ nhận. Miến Điện cũng bắt đầu dân chủ hóa từ năm ngoái, song song với việc nới lỏng tự do.

Vì giới quân nhân ở Miến Điện đã chấp nhận cho những người đối lập được tranh cử, cho dân được bỏ phiếu tự do, ít nhất đã được một lần rồi. Nhưng tại Miến Điện chúng ta còn phải chờ coi bản Hiến pháp độc tài có được tu chính hay không, bà Aung San Suu Kyi có được tranh cử Tổng thống hay không. Vì theo Hiến pháp Miến Điện hiện nay thì một người lấy vợ hay chồng ngoại quốc, con có quốc tịch nước khác sẽ không được phép ứng cử Tổng thống. Phải chờ đến cuộc bỏ phiếu năm 2015 mới biết tiến trình dân chủ hóa tại Miến Điện sẽ đi được thêm bước nào nữa.

Miến Điện và Tây Ban Nha đều đối diện với một vấn để giống nhau, là có các sắc dân thiểu số rất đông, tập trung ở những vùng riêng, thường xung đột với chính quyền của khối đa số, và có nhiều người chủ trương giành quyền tự lập hoặc ly khai. Nếu Miến Điện vượt qua được thử thách đó bằng cách sử dụng các “khí cụ” của thể chế dân chủ, như Tây Ban Nha đã làm được, thì mới có thể coi là tiến trình dân chủ hóa hoàn tất.

Từ việc cho phép người dân bầu cử tự do còn phải đi thêm nhiều bước nữa mới có thể coi là hoàn tất công việc dân chủ hóa. Nhưng sau khi đã hoàn tất rồi, cũng phải thêm nhiều thời gian nữa mới có thể nói là chế độ dân chủ đã vững vàng.

Chúng ta cũng không quên rằng nhiều khi một nước thiết lập thể chế dân chủ rồi sau đó quay ngược lại, sống dưới một chế độ độc tài, như khi Hitler lên nắm quyền trong thể thức bầu cử, dân chủ và tự do, nhưng tự biến thành một nhà độc tài, hậu quả rất tai hại cho dân tộc Đức. Tại Tây Ban Nha, công việc dân chủ hóa có thể coi là hoàn tất khi một Quốc hội, do dân tự do bầu lên, ban hành bản Hiến pháp mới năm 1976. Nhưng phải đến năm 1982, sau khi có một cuộc đảo chính hụt, đảng Xã hội thắng cử và lên cầm quyền thay cho đảng khác, mới coi như thể chế dân chủ tại Tây Ban Nha đã vững vàng, năm năm sau khi bắt đầu. Sau đó, không còn ai muốn nói tới việc đi ngược lại tiến trình dân chủ nữa. Tại nhiều nước khác ở Âu châu như Rumania, Bulgaria, hay ở Nam Mỹ như Brazil, Chile, Argentina, công cuộc dân chủ hóa đã đòi hỏi thời gian dài hơn nữa.

Khi nào thì dân chủ hóa xong?

Khi nào thì một tiến trình dân chủ hóa có thể coi là hoàn tất? Nói theo Giuseppe di Palma, tiến trình này hoàn tất khi nào mọi người mặc nhiên đồng ý rằng thể chế dân chủ là “cuộc chơi duy nhất đáng theo đuổi” (the only game in town), như ông trình bày trong cuốn sách về Chuyển hóa sang Chế độ Dân chủ”, (To Craft Democracies: An Essay on Democratic Transition, Cambridge University Press, 1991).

Dân chủ hóa thành công khi đã thành “luật chơi duy nhất” được mọi người chấp nhận, không ai muốn theo “lối chơi khác” trong cuộc cạnh tranh chính trị.

Chúng ta cần xác định với nhau rằng Dân chủ không phải là một “chủ nghĩa” mà cũng không nên coi là một “lý tưởng.” Nó bao gồm những “luật chơi,” những thủ tục, thể thức do luật định, để người dân tự do lựa chọn họ muốn đưa ai lên nắm chính quyền. Dân Chủ lo giải quyết vấn đề hình thức chứ không phải nội dung của cuộc sống chung trong xã hội. Nội dung của chế độ, sẽ thiên về công bằng xã hội hay ngả sang đề cao tự do; hoặc pha trộn hai khuynh hướng đó theo tỷ lệ nào, các “công thức” pha chế này phải do các đại biểu của dân quyết định, theo đúng các thủ tục dân chủ. Họ sẽ thảo luận với nhau trong thời gian thành lập thể chế dân chủ; rồi sau đó, nếu muốn, người ta sẽ còn thay đổi các công thức cũ để tạo ra những cách pha chế mới. Thể chế dân chủ cho phép một xã hội thay đổi, và chắc sẽ còn thay đổi mãi, vì chúng ta biết cuộc sống loài người luôn luôn biến chuyển.

Nhưng các quyết định trong quá trình thay đổi phải được thực hiện trong vòng các thể thức dân chủ. Khi nào mọi người, hay đại đa số mọi người, đồng ý với nhau là chỉ có luật chơi dân chủ là tiện nhất, thích hợp và đáng theo nhất, khi đó có thể coi là tiến trình dân chủ hóa đã thành tựu.

Phải cẩn thận nhắc nhở lẫn nhau như vậy, vì nhiều người có thể hiểu lầm rằng cứ tổ chức bầu cử tự do xong là đã dân chủ hóa. Bầu cử tự do là điều kiện tất yếu, nhưng không đủ. Thí dụ như ở Chile. Tại Chile, Tướng Augusto Pinochet lên cầm quyền sau một cuộc đảo chính, bản Hiến pháp năm 1980 của ông được chấp thuận trong một cuộc trưng cầu dân ý; trong đó hứa hẹn sau tám năm; nếu được dân đồng ý, mới kéo dài thêm tám năm nữa.

 Năm 1988, ông Pinochet vẫn được Hội đồng Quân đội đưa ra làm ứng cử viên Tổng thống duy nhất, nhưng ông chỉ được 43% số phiếu; và có 55% dân chúng từ chối.

Tuy thể chế dân chủ đã thành hình tại Chile từ năm 1989, nhưng sau đó hơn mười năm vẫn chưa thể coi là tiến trình dân chủ hóa đã hoàn tất; vì những ràng buộc của quá khứ. Mặc dù bị thua phiếu, nhưng Tướng Pinochet đã làm đủ mọi cách để bảo vệ quyền hành. Ông mời các đảng đối lập thảo luận về tu chính hiến pháp, hai bên đã đồng ý thay đổi 54 điều, nhưng còn để lại nhiều điều di lụy về sau. Bản Hiến pháp tu chính được trưng cầu dân ý vào tháng Bảy năm 1989, hơn 91% dân chấp thuận, đến cuối năm thì bầu cử Tổng thống mới.

Ông Patricio Aylwin, đại diện cho 17 chính đảng trong liên minh  Concertación đã đắc cử với 55% số phiếu. Ông cầm quyền bốn năm, liên minh Concertación gồm cả đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và đảng Xã hội tiếp tục nắm quyền; năm 2009 mới có một vị Tổng thống thuộc đảng khác.

Ông Pinochet trao quyền cho vị Tổng thống mới vào năm 1990, nhưng vẫn giữ chức tổng tư lệnh quân đội trong một thời gian dài, mà chính phủ mới không thể thay đổi vì các điều được ghi trong hiến pháp.

Các chức tư lệnh hải quân, không quân và tư lệnh cảnh sát cũng vậy, cho đến năm 1998 mới hết hạn. Ngân sách quân đội cũng được đặt nằm ngoài thẩm quyền của vị Tổng thống dân cử, mà chỉ do vị tư lệnh quyết định. Ông Pinochet còn ảnh hưởng trên Tòa án Bảo hiến, với bảy thẩm phán được ông phong nhậm từ trước, và theo luật họ chỉ về hưu khi đến tuổi 75! Với tư cách “nghị sĩ suốt đời” trong Thượng viện, một địa vị dành cho các cựu Tổng thống, ông được miễn tố, mặc dù rất nhiều người dân muốn đưa ông ra xét xử về các tội về nhân quyền. Phải đến năm 2000, ông mới bị tước mất quyền miễn tố, và Bộ Tư pháp chuẩn bị đưa ông ra tòa. Nhưng sau đó, ông kiện lên Tối cao Pháp viện, và việc truy cứu được bãi bỏ vì tòa án coi là ông bệnh nặng; phần lớn các vị thẩm phán tòa tối cao đều do ông bổ nhiệm từ trước. Năm 2005 ông mới tự bỏ vai trò nghị sĩ suốt đời; một năm trước khi ông chết.

Nhìn vào trường hợp Chile thì chúng ta thấy quá trình dân chủ hóa không thể hoàn tất dễ dàng, khi những người cầm quyền trong chế độ cũ vẫn còn giữ được các đặc quyền. Tại hai nước Bulgaria à Romania sau năm 1989 cũng vậy. Chính những người đang cầm quyền đã quyết định thay đổi chế độ tại hai nước này; sau khi họ lật đổ người cầm đầu đảng ở Bulgaria, và hạ sát lãnh tụ ở Romania. Nhưng nhờ đóng vai chủ động khởi xướng việc thay đổi, họ có thể điều khiển tất cả quá trình dân chủ hóa, trì hoãn việc cải tổ kinh tế, bảo vệ được các đặc quyền của họ và đồng đảng. Vì vậy, tiến trình dân chủ hóa tại hai nước này tiến rất chậm.

Tại Bulgaria, ngay cả khi một liên minh các đảng dân chủ đối lập (Lực lượng Dân Chủ Thống nhất, UDF) thắng cử và lên cầm quyền năm 1992, chính họ cũng không hành sử theo đúng tinh thần dân chủ, vì vẫn muốn “trừng phạt” các nhân vật của “chế độ cũ” bằng những biện pháp không theo đúng quy tắc tôn trọng nhân quyền và thủ tục pháp lý. Chương trình cải tổ kinh tế bị trì hoãn cho đến năm 1997 mới được tiến hành; năm 2002 Hội đồng Châu Âu mới chính thức coi Bulgaria là đang theo kinh tế thị trường. Một hậu quả là nền kinh tế của Bulgaria, cũng như Romania, đều tiến rất chậm so với các nước chung quanh. Năm 2009, Bulgaria là nước nghèo nhất trong cộng đồng Âu châu (EU); ông Ognian Shentov, một nhà nghiên cứu chính trị nhận xét: Cảm tưởng chung của người dân là buồn chán, vì thấy cuộc thay đổi vẫn chưa hoàn tất!”.

Chile may mắn hơn hai nước Bulgaria à Romania ở vài điểm, nhờ di sản của quá khứ thuận lợi hơn cho việc chuyển hóa. Tuy tiến trình dân chủ hóa ở Chile tiến chậm, nhưng tại nước này đã có những yếu tố giúp cho xã hội vẫn tiến bộ mặc dù trên mặt nổi thì thế lực của chế độ cũ vẫn cố duy trì các đặc quyền của họ. Nhìn vào nước Chile, từ trước thời Pinochet đảo chính (năm 1973) người dân đã tạo được tập quán sống theo lối dân chủ. Giới kinh doanh được tự do, các đảng phái chính trị đã thành hình, và một xã hội công dân rất năng động được phát triển với các hiệp hội đoàn thể tự nguyện. Với ba thành phần nằm trong phần nước ngầm ở bên dưới đó, việc thay đổi thể chế chính trị ở mặt nổi chỉ tạo thêm cơ hội cho quốc gia phát triển nhanh hơn và hòa hợp hơn. Ngược lại, hai nước Bulgaria à Romania không có những nền tảng của một xã hội kinh tế (các doanh nghiệp tư), một xã hội chính trị (các đảng phái) mà cũng không có được một xã hội công dân đầy đủ để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa thành công.

 Chỉ sau khi thể chế đã thay đổi, các doanh nghiệp tư và các đảng chính trị ra đời, người dân bắt đầu ý thức quyền công dân của mình bằng việc thành lập các tổ chức, phong trào tự nguyện, khi đó quá trình dân chủ hóa mới được thúc đẩy tiến nhanh hơn. Nhưng cuối cùng thì, sau khi được tự do, người dân nước nào cũng biết phải làm gì để sống xứng đáng trong một ch dân chủ. Vì vậy, bước đầu tiên để dân chủ hóa là phải nới lỏng tự do, trả lại các quyền công dân căn bản cho mọi người.

N.N.D.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

ĐẠI SỨ MỸ TẠI HÀNỘI DAVID SHEAR:VIỆTNAM KHÔNG DÂN CHỦ KHÓ VÀO TPP


LÝ ĐẠI NGUYÊN

 

ĐẠI SỨ MỸ TẠI HÀNỘI DAVID SHEAR:

VIỆTNAM KHÔNG DÂN CHỦ KHÓ VÀO TPP

 

 

Đảng Cộng Sản Việtnam đang họp Hội Nghị Trung Ương lần thứ 7 tại Hànội, từ ngày 02 đến 11/05/2013, để quyết định về nhiều đề mục, trong đó việc Sửa Đổi Hiến Pháp 1992. Chiếu theo phúc trình của Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp, đề nghị xem xét có nên thay đổi Quốc Hiệu, từ “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” trở lại “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay không?
 
Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng, tuyên bố: “… tiếp tục khẳng định Nhà Nước ta là Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo”. Như thế là Hội Nghị chưa có quyết định, Nguyễn Phú Trọng đã ám thị là phải duy trì tên nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, với Điều 4, cướp quyền lựa chọn của toàn thể Công Dân Việt Nam, theo đuổi ảo ảnh xã hội chủ nghĩa chết tiệt, công khai phản Dân Chủ, Nhân Quyền rồi.

 

Chính vị vậy, mà ông Đại Sứ Hoakỳ tại Hànội, David Shear ngày 07/05/13 đã phải nhắc nhở: “Nếu Việtnam không có tiến bộ về Dân Chủ, Nhân Quyền thì sẽ rất khó tìm được sự ủng hộ chính trị để Quốc Hội Hoakỳ phê chuẩn cho gia nhập TPP”.  Ông khẳng định: “sẽ có rất nhiều người ở Quốc Hội Hoakỳ hỏi về những vấn đề liên quan tới dân chủ và nhân quyền của Việtnam khi chính phủ đệ trình TPP cho Quốc Hội Hoakỳ xem xét”. Ông cảnh báo: “Đó là một thực tế chính trị không thể tránh”.
 
Ông không quên nhắc lại: “Dẫu cho bà Clinton không còn làm ngoại trưởng Hoakỳ, nhưng cam kết của Hoakỳ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương không hề thay đổi, biển Đông vẫn là “Lợi Ích Quốc Gia”. Hoakỳ đang theo sát những diễn biến trên biển Hoa Đông và biẻn Đông”. Tuy dùng ngôn ngữ ngoại giao của một Đại Sứ chuyên nghiệp, nhưng đã quá thẳng thừng và minh bạch, dù tối dạ tới đâu, giới cầm quyền ở Hànội cũng phải hiểu rằng, Hoakỳ đã quyết tâm ‘chuyển trục chiến lược’ trở lại châu Á thì không một thế lực nào cản nổi.

 

Hiện nay Hoakỳ là quốc gia đang tích cực vận động để các nước chung quanh Thái Bình Dương thành lập Hiệp Định TPP – Trans-Pacific Economic Partnership Argreement - tức lả Hiệp Định Hợp Tác Kinh Tế Chiến Lược Xuyên Thái Bình Dương. Lúc đầu chỉ có 4 nước Singapore, Chile, Tân Tây Lan, Brunei; đến năm 2008 thêm Hoakỳ, Úc, Peru, Việtnam; năm 2010 Malaysia, Canada và Nam Hàn xin tham dự; mới đây Nhật Bản cũng dự định tham gia.
 
Ngày 21 đến 25/04/13, đại sứ Demetrios Marantis, quyền Đại Diện Thương Mại Hoakỳ đã đến Hànội gặp phó thủ tướng Vũ Văn Ninh của Việtnam, ông Ninh nói: “Việtnam nhận thức rõ ý nghiã và tầm vóc quan trọng của Hiệp Định TPP”. Vậy, liệu trong Hội Nghị Trung Ương 7 này, phe “Chính Quyền” có thắng nổi phe “Đảng Quyền” để đẽo gọt bản Hiến Pháp cho hợp với tiêu chuẩn của Hiệp Định TPP, giống như trong Hội Nghị Trung Ương 6, ‘đồng chí X’ đã thoát khỏi bị kỷ luật hay không? Thực tế thì cánh “Tham Nhũng” ở trong Trung Ương Đảng đương nhiên đang nắm đa số tuyệt đối so với cánh “Bảo Thủ” thân Trungcộng rồi. Tham nhũng chỉ có thể “hạ cánh an toàn” ở nước Mỹ, còn nếu rơi vào tay Trungcộng thì sẽ bị lột sạch, và mạng cũng khó giữ.

 

Nhất là toàn dân Việtnam đã quá chán ghét, đi đến căm thù Cộng Sản, chỉ mong cái đảng ‘ăn bám’ tham nhũng, độc tài, toàn trị, ngu muội cam tâm làm tay sai cho Trung Cộng để Hán Hoá Việt Nam, sớm ra đi. Hiện nay trí thức, giới trẻ, và các tôn giáo đều nhất tề đòi thay đổi Hiến Pháp, trả quyền Lập Hiến về cho toàn dân, không chấp nhận Điều 4 trao quyền lãnh đạo tuyệt đối cho đảng Việt Cộng; phải thành lập hệ thống chính trị Đa Đảng và chế độ Tam Quyền Phân Lập, trả Quân Đội về cho Quốc Gia…Sau kiến nghị của 72 trí thức đã từng đóng góp công sức với Đảng cộng sản, đến phong trào Công Dân Tự Do của Thanh Niên, rồi Hội Đồng Giám Mục của Kytô Giáo Việtnam, một tôn giáo sinh hoạt hợp pháp  đã lên tiếng đòi thay đổi những điều phi lý của Hiến Pháp.

 

Trong tình hình đó, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã đưa ra lời tuyên bố: “Trong tình thế quốc tế hiện nay, cùng tư thế mới, hãy gạt phăng sợ hãi của giới trẻ Việtnam và sĩ phu đất nước, tôi hy vọng và cầu chúc cho ‘Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và Lời tuyên bố của các Công Dân Tự Do sẽ được toàn dân hậu thuẫn, đưa tới việc thực hiện một giải pháp thay đổi tối hậu cho quê hương, như một bửu bối linh diệu”. Tiếp theo là Phật Giáo Hoà Hảo thuần túy cùng nhiều đoàn thể tôn giáo khác và các nhân sĩ độc lập cũng lên tiếng đòi phải triệt để thay đổi Hiến Pháp đúng với một nền Dân Chủ Trọng Pháp của Toàn Dân.
 
Đặc biệt lần đầu tiên chức sắc tôn giáo chính ở Việtnam là Phật Giáo, Kytô Giáo, Tin Lành, Phật Giáo Hoà Hảo và Cao Đài Chính Thống, ra bản tuyên bố chung về việc sửa đổi Hiến Pháp 1992, cho là phải theo nguyên tắc Do Dân, Phục Vụ Dân, Lập Quyền Dân. Với chữ ký của Ht. Thích Không Tánh – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Lm. Đinh Hữu Thoại, Lm. Lê Ngọc Thanh – Dòng Chúa Cứu Thế. Ms. Nguyễn Hoàng Hoa, Ms. Hồ Hữu Hoàng – Giáo Hội Lutheran Việtnam-Hoakỳ. Cụ Lê Quang Liêm - Phật Giáo Hoà Hảo thuần tuý – Chánh trị sự Hứa Phi – Cao Đài Giáo chính thống, Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ toà thánh Tây Ninh. Đây là hiện tượng cao quý tiếp nối truyền thống Văn Hóa Dân Tộc: Viên Dung các Tôn Giáo để phục sự Dân Tộc và giải trừ Quốc Nạn, Pháp Nạn cho các tôn giáo, rất đáng mừng.

 

Ngày 05/05/2013, các blogger Công Dân Tự Do kêu gọi nhau và thanh niên 3 thành phố Hànội, Nha Trang, Saigon thực hiện cuộc Dã Ngoại Nhân Quyền. Ở Hànội khoảng 100 người dến tham dự, ngoài người Hànội, còn có các tỉnh về như Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Giang…Công an có ngăn cản, nhưng anh em cứ tiếp tục nói chuyện với nhau về nhân quyền ở công viên Nghiã Đô.
 
  Ở Nha Trang công an không để cho tụ tập tại công viên Bạch Đằng, khống chế blogger Mẹ Nấm điệu tới nơi tụ họp, buộc mọi người phải phân tán nhỏ, trao đổi trong quán cà phê, có sự hiện diện của cả hai công an. Riêng Sàigòn, họ dùng vòi nước để giải tán những người đi, đứng, ngồi thảo luận tại công viên 30/04,  các blogger Nguyễn Hoàng Vi, Vũ Quốc Anh,  Vũ Sỹ Hoàng bị tịch thu tài sản, đánh đập tàn nhẫn và bắt về đồn công an. Đặc biệt là Ht. Thích Viên Định viện trưởng Viện Hóa Đạo và Tt. Thích Viên Hỷ dự tính lên Thanh Minh Thiền Viện để vấn an Đúc Tăng Thống Thích Quảng Độ, cũng đã bị chặn ngay trước sân chùa Pháp Hoa.
 
Có lẽ cộng sản nghi rằng các Thầy đi tham dự buổi Dã Ngoại Nhân Quyền chăng?
 
Tóm lại ở Việtnam hiện nay “Dân Hết Sợ Đảng”, mà “Đảng Lại Sợ Dân”. “Đảng đòi diệt Tham Nhũng”, thì “Tham Nhũng đang thắng Đảng”.
 
Với tình thế này, cho hay, cuộc hơn thua giữa “Đảng Quyền” và “Chính Quyền” ở Hội Nghị Trung Ương 7, không sao tránh khỏi.  
 
LÝ ĐẠI NGUYÊN -  Little Saigon ngày 077/05/2013.

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link