Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, June 29, 2013

Cái hố sâu 45 năm


 

 

                                                              Cái hố sâu 45 năm 

                                                                        Nguyễn Đạt Thịnh - 29 June 2013

                                    apchjienluoc01

                                                            Hình: Ấp chiến lược thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Tổng thống Obama đang rơi vào cái hố mà 45 năm trước Tổng thống Lyndon B. Johnson đã vấp ngã: Mỹ hóa cuộc hòa đàm về Việt Nam. Khác biệt giữa việc làm của hai vị tổng thống Hoa Kỳ chỉ nằm ở cái tên; ông Johnson đứng ra hòa đàm về Việt Nam, ông Obama cũng đứng ra hòa đàm về A Phú Hãn; cả hai ông này cùng không quan tâm đến người Việt Nam, người A Phú Hãn – những người còn phải ở lại sống trong những điều kiện “hòa bình” mà người Mỹ tạo ra.

Thông thường chiều sâu của cái hố được đo bằng thước, hoặc đo bằng phít, nhưng cái hố bài báo này đề cập là hố thời gian, nên đơn vị đo lường là năm, là tháng. Cái hố sâu 45 năm bắt đầu từ năm 1968, năm quân đội Việt Cộng giải quyết khó khăn tiếp vận bằng quyết định giết hết du kích quân của họ trong trận tổng công kích Mậu Thân.

Năm đó chiến lược “Ấp Chiến Lược” giúp Nam Việt thành công trong việc đem hũ gạo của bác nông dân Nam Việt cất đằng sau những hàng rào phòng thủ của hàng ngàn thôn ấp; hậu quả là những anh du kích Việt Cộng không còn tự do xúc gạo của nông dân Nam Việt để ăn no, rồi đánh phá nền an ninh của Nam Việt.

Không ăn bám vào hũ gạo địa phương được nữa, 80.000 miệng ăn của du kích quân Việt Cộng đặt ra vấn đề tiếp vận nan giải cho Bắc Việt; trong công tác tiếp tế họ không đem thực phẩm xuống sâu được đến cấp thôn ấp, khiến du kích quân đói khổ, nhiều người ra đầu thú chính phủ Nam Việt theo chương trình Chiêu Hồi.

Hà Nội quyết định hủy bỏ hình thức du kích chiến, xua toàn bộ du kích quân Nam Việt vào chiến trường đô thị để một mặt tạo tiếng vang chính trị, mặt khác giải tỏa áp lực tiếp vận.

Đêm 30 tháng Giêng 1968 – đúng giờ Giao Thừa âm lịch – Việt Cộng xua quân đồng loạt tấn công trên 100 thị trấn và 72 quận lỵ. Trừ thị xã Huế, họ không chiếm giữ được một mục tiêu nào lâu hơn 48 tiếng đồng hồ, và chỉ trong vòng vài ngày đầu họ bị đánh bật ra khỏi toàn bộ mục tiêu tấn công với tổn thất rất nặng.

Hiện nay, tài liệu trong văn khố Hoa Kỳ ghi nhận tổng số thiệt hại của Việt Cộng trong 3 đợt tổng công kích là 45.267 địch quân bị giết, 61.267 tên bị thương, và 5.070 tên mất tích.

Việt Cộng tổn thất nặng mà không bại trận nhờ đánh trúng nhược điểm của truyền thông Hoa Kỳ lúc đó: báo chí, truyền thanh, truyền hình Mỹ thi nhau bài bác chiến tranh Việt Nam, thi nhau nói xấu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và thích đánh bóng đối phương.

Nhiều phóng viên truyền hình Mỹ mô tả tình hình Sài Gòn như đang sống dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng trong những ngày đầu năm Mậu Thân, mặc dù bản thân họ vẫn ngồi uống cà phê tại những tiệm Tây trên đường Tự Do, rồi xê dịch, quay phim, chụp hình, trên đường phố Sài Gòn dưới sự hướng dẫn và bảo vệ của binh sĩ và cảnh sát Nam Việt. Họ viết là quân Bắc Việt và quân Việt Cộng chủ động tình hình với sự yểm trợ của thị dân Sài Gòn, trong lúc chính mắt họ chứng kiến cảnh quần chúng bỏ chạy ra khỏi những khu phố bị Việt Cộng xâm nhập.

Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trực tiếp đương đầu với Việt Cộng nhiều hơn quân Mỹ, gánh vác số tử thương lên đến 27.915 chiến sĩ, nhưng vẫn bị truyền thông Mỹ chỉ trích là bỏ chạy trước mũi súng của địch.

Số tử thương của Hoa Kỳ cũng rất nặng: 16.592 người lính Mỹ bị giết – chỉ trong một trận đánh mà Mỹ tổn thất nhiều hơn tổng số thương vong tại A Phú Hãn trong suốt 11 năm chiến tranh; tổn thất lớn này cộng với sự xuyên tạc của truyền thông nói quân Nam Việt không chiến đấu để mặc quân Mỹ đương đầu với Việt Cộng, tạo phẫn nộ cho quần chúng Hoa Kỳ và đưa đến phong trào phản chiến.

Ngày 26 tháng Tám 1968, nhiều áp lực khiến Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc Bắc Việt, không tái ứng cử nhiệm kỳ thứ hai, và đề nghị thương thuyết chấm dứt chiến tranh.

Ngồi vào bàn hòa đàm, phái đoàn Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến việc rút quân Mỹ khỏi Việt Nam trong “danh dự”. Cái “hố” bắt đầu từ đó, từ quan niệm sai lầm của người Mỹ, tưởng là họ có thể Mỹ hóa nền hòa bình Việt Nam như họ đã Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Họ chỉ quan tâm giải quyết những vấn đề của Hoa Kỳ và của Việt Cộng, để mặc mọi khó khăn còn lại cho Nam Việt.

Họ chấp nhận đến cả việc quân đội Bắc Việt có quyền ở lại Nam Việt sau ngày ký hòa ước, nói cách khác chiến tranh Việt Nam chỉ tạm ngưng để quân Mỹ rút lui, sau đó quân Bắc Việt lại tái tục tấn công trong những điều kiện thuận lợi cho chúng hơn.

Thái độ của người Mỹ không quan tâm đến người Nam Việt, những người còn đứng lại chiến trường sau phút toàn bộ lực lượng Mỹ yên lành rút khỏi Việt Nam thật đáng trách.

Giờ này họ đang Mỹ hóa nền hòa bình A Phú Hãn; họ giúp lực lượng Taliban mở văn phòng đại diện tại Doha, Qatar. Phái đoàn Taliban treo bảng hiệu trước văn phòng là Islamic Emirate of Afghanistan (Sứ Quán Hồi Giáo A Phú Hãn).

Chính phủ Hamid Karzai phản đối, đòi hủy bỏ không tham dự hòa đàm với Taliban; Ngoại trưởng John Kerry liên lạc với Taliban yêu cầu sửa lại tấm bảng treo trước văn phòng là “cơ quan hòa đàm”, rồi liên lạc với Tổng thống Karzai yêu cầu tiếp tục xúc tiến cuộc thương thuyết.

Kerry đang bận tíu tít với hòa đàm, việc 50 năm trước Ngoại trưởng Henry Kissinger đã làm, làm sai, và lãnh giải Nobel Hòa bình.

Việc Hoa Kỳ nên làm năm 1973 là thương thuyết với Nam Việt, giúp chúng ta đủ mạnh để tự vệ như chúng ta đã kiến hiệu tự vệ trong cuộc tổng tấn công 1972, và công bố minh bạch với dư luận cuộc dứt chiến của họ tại Nam Việt. Dù họ còn duy trì công tác không yểm, trợ chiến cho Nam Việt thì việc làm này cũng không đủ quan trọng để gây ảnh hưởng cho nội tình Hoa Kỳ.

Đó là một trong hai việc Hoa Kỳ cần làm hiện nay tại A Phú Hãn: công bố chiến thuật không yểm cho A Phú Hãn; việc thứ nhì là công bố đứng ngoài cuộc hòa đàm giữa phe Taliban với chính phủ Karzai.

Hai việc này đặt Hoa Kỳ vào thế dứt chiến và tránh cho Hoa Kỳ trách nhiệm về chế độ sắp tới của A Phú Hãn. Trong cái hố Việt Nam, họ có trách nhiệm về chế độ Cộng Sản hiện ngự trị trên lãnh thổ Nam Việt, vì họ đồng ý cho quân chính quy Bắc Việt ở lại chiến trường sau đình chiến.

Hy vọng Kerry ý thức được là cái giá phải trả cho tội không học bài học vấp ngã 50 năm trước là lại phải vấp và ngã vào cái hố MỸ HÓA HÒA ĐÀM; thất thố này đang đầy ải gần 100 triệu người Việt Nam trong cuộc sống địa ngục Cộng Sản.

Nguyễn đạt Thịnh

                                                                   ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

Nổ lực đòi trả tự do cho Phương Uyên và Nguyên Kha


 


 

Nổ lực đòi trả tự do cho Phương Uyên và Nguyên Kha

Điền Phong


Chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội Hoa kỳ, ông ED ROYCE chất vấn viên chức bộ ngoại giao T.S. Daniel Baer về việc Hoa Kỳ can thiệp thiếu hiệu lực đối với việc chính quyền Việt Cọng bắt giữ và kết án hai sinh viên trẻ yêu nước tại Việt Nam là Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.

Xin mời xem buổi chất vấn :


__._,_.___

UNCLOS 1982: Trung Quốc bội ước


 

TRUNG QUỐC - BIỂN ĐÔNG - 

Bài đăng : Thứ năm 27 Tháng Sáu 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 27 Tháng Sáu 2013

UNCLOS 1982: Trung Quốc bội ước


Quân đội Trung Quốc diễu hành trước một căn cứ hải quân tại Hồng Kông ngày 03/03/2010.

Quân đội Trung Quốc diễu hành trước một căn cứ hải quân tại Hồng Kông ngày 03/03/2010.

REUTERS/Bobby Yip

RFI


Ngày 21/06/2013, Tòa án Quốc tế về Luật Biển – ITCLOS thông báo cho chính quyền Manila biết là đã hoàn tất việc chọn đủ 5 thẩm phán cho tòa án trọng tài, xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc trong hồ sơ tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, mà Manila gọi là biển Tây Philippines.

Cuối tháng Giêng, Manila đã thông báo cho Bắc Kinh biết quyết định đưa hồ sơ tranh chấp ra trước tòa án trọng tài, chiểu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982 mà cả Trung Quốc và Philippines đều là quốc gia thành viên. Trung Quốc đã bác bỏ đơn kiện của Philippines và tuyên bố không tham dự vụ xử.

Trang Tin tức Học viện Hải quân Hoa Kỳ - USNI News, ngày 11/03/2013, có đăng bài của giáo sư Carlyle A.Thayer, chuyên gia về châu Á, với tựa đề : « Trung Quốc đi ngược với Công ước Liên Hiệp Quốc », phân tích vụ kiện này và các hệ lụy.

Ngày 22/01/2013, bà Mã Khắc Khanh (Ma Keqing), đại sứ Trung Quốc tại Philippines đã được triệu lên Bộ Ngoại giao tại Manila và được trao một công hàm thông báo cho bà biết là Philippines tiến hành khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án trọng tài chiểu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển – UNCLOS.

Công hàm bao gồm Thông báo chính thức và Tuyên bố các yêu cầu của Philippines đệ trình lên Liên Hiệp Quốc. Tài liệu này là một sự thách thức đối với giá trị pháp lý của các tuyên bố của Trung Quốc về Biển Đông.

Philippines cũng kêu gọi Trung Quốc từ bỏ « các hoạt động phi pháp xâm phạm các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines ». Chiểu theo UNCLOS, Trung Quốc có 30 ngày để đáp lại bằng cách thông báo việc chỉ định đại diện của mình tại tòa án trọng tài.

Ngày 19/02, đại sứ Mã gặp các quan chức Bộ Ngoại giao, trả lại Thông báo và Tuyên bố về các yêu cầu của Philippines và bác bỏ văn bản này. Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tại Bắc Kinh nói rằng, Tuyên bố các yêu cầu của Philippines là « không đúng về mặt lịch sử và pháp lý và chứa đựng những cáo buộc không thể chấp nhận được chống lại Trung Quốc ».

UNCLOS và trọng tài mang tính ràng buộc

Theo điều 287 của UNCLOS, một quốc gia thành viên tự do lựa chọn một hoặc nhiều hình thức xét xử trong số bốn hình thức xét xử sau đây : Tòa án Quốc tế về Luật Biển -ITCLOS, Tòa án Quốc tế Công lý, tòa án trọng tài hoặc tòa án trọng tài đặc biệt. Nếu các bên tranh chấp không ra được một thông cáo chính thức về sự lựa chọn tòa án, theo điều 287 (3), họ « được coi như đã chấp nhận hình thức trọng tài, chiểu theo phụ lục VII ». Bởi vì cả Trung Quốc và Philippines không ra được tuyên bố chính thức về sự lựa chọn của họ, vấn đề tranh chấp của họ là đối tượng xét xử của tòa án trọng tài (Thực ra, trong Thông báo và Tuyên bố ngày 28/01/2013, Philippines đã cho biết lựa chọn hình thức tòa án trọng tài – RFI).

Bất kể quốc gia nào đã phê chuẩn UNCLOS đều có quyền chỉ định bốn trọng tài trong danh sách của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. Thông thường, tòa án trọng tài bao gồm 5 người rút ra từ danh sách nói trên. Mỗi bên tranh chấp có quyền chỉ định một trọng tài và cùng đồng thuận với bên kia trong việc lựa chọn ra 3 thành viên khác, bao gồm cả chánh án tòa án trọng tài.

Phụ lục VII có những điều khoản liên quan đến các trường hợp một quốc gia không chỉ định trọng tài cho mình trong vòng 30 ngày. Sau khi Trung Quốc bác bỏ, Philippines có hai tuần để đề nghị chánh án Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITCLOS) tiến hành chỉ định số trọng tài cần thiết trong danh sách nói trên. Chánh án ITCLOS có 30 ngày để chỉ định số trọng tài cần thiết.

Một khi được thành lập, tòa án trọng tài tự quyết định các bước tố tụng của mình. Các quyết định này được thông qua với đa số phiếu. Tòa án có thể nghe Philippines điều trần vụ kiện cho dù Trung Quốc từ chối tham gia. Theo Phụ lục VII, điều 9 quy định: « Nếu một trong các bên trong vụ tranh chấp không ra trước tòa án trọng tài hoặc không trình bày các lý lẽ của mình, thì phía bên kia có thể yêu cầu tòa án tiếp tục trình tự tố tụng và đưa ra phán quyết. Việc một bên vắng mặt hoặc một bên không trình bày các lý lẽ của mình không thể là trở ngại đối với tiến trình tố tụng. Trước khi đưa ra phán quyết, tòa án trọng tài phải bảo đảm rằng không những tòa có thẩm quyền xét xử tranh chấp mà còn chắc chắn là đơn kiện có cơ sở thực tế pháp lý ».

Tòa án trọng tài được yêu cầu giới hạn phán quyết của mình « trong nội dung vụ tranh chấp » và « phán quyết là tối hậu và không được kháng cáo… Phán quyết phải được các bên trong vụ tranh chấp tuân thủ ». Thế nhưng, UNCLOS lại không hề có điều khoản nào liên quan đến việc thực thi phán quyết.

Trường hợp Philippines

Phần XV của UNCLOS buộc các quốc gia giải quyết các tranh chấp thông qua các phương tiện hòa bình và trao đổi quan điểm để thực hiện việc này. Philippines lập luận rằng họ đã liên tục trao đổi với Trung Quốc kể từ năm 1995 khi Trung Quốc chiếm đóng bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef – Mĩ Tể tiều).

Tuyên bố của Philippines kết luận : « Trong 17 năm trao đổi quan điểm, tất cả mọi khả năng giải quyết qua đàm phán đã được thăm dò và tận dụng hết ».

Tháng 08/2006, Trung Quốc đã ra một tuyên bố về các trường hợp đặc biệt không nằm trong thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến việc hoạch định biên giới trên biển (lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế - ZEE và thềm lục địa), các hoạt động thực thi pháp luật và quân sự và các tranh chấp dẫn đến việc Hội Đồng Bảo An thực thi chức năng của mình, chiểu theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Philippines đã cẩn thận trong Thông báo và Tuyên bố của mình nói rằng họ không tìm kiếm phán xét của tòa án về các tranh chấp chủ quyền đối với các đảo hoặc hoạch định đường biên giới mà Trung Quốc đã gạt ra khỏi phạm vi thẩm quyền của tòa án trọng tài. Philippines khẳng định rằng các tranh chấp trên biển với Trung Quốc là về « diễn giải và việc các Quốc gia thành viên thực thi nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ UNCLOS » và qua đó, có thể đệ trình một giải pháp.

Vậy Philippines tìm kiếm sự phán xử nào từ phía tòa án trọng tài? Trước tiên, Philippines tìm kiếm một phán xử tuyên bố rằng các vùng biển mà Trung Quốc và Philippines khẳng định có chủ quyền tại Biển Đông là những vùng được quy định trong UNCLOS và đó là lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Trên cơ sở này, Philippines yêu cầu tòa án trọng tài tuyên bố rằng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với UNCLOS và không có giá trị. Hơn nữa, Philippines đề nghị tòa án trọng tài yêu cầu Trung Quốc đưa những vấn đề này vào luật lệ quốc gia, phù hợp với UNCLOS.

Thứ hai, Philippines yêu cầu tòa án trọng tài xác định quy chế pháp lý của các thực thể (đảo, bãi đá lúc chìm lúc nổi và bãi chìm) ở Biển Đông mà Trung Quốc và Philippines tuyên bố có chủ quyền và liệu các thực thể này có thể tạo ra quyền đối với một vùng biển lớn hơn vùng 12 hải lý. Philippines nêu danh sách cụ thể là bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef – Mĩ Tể tiều), Ken Nan (McKennan Reef – Tây Môn tiều), Ga Ven (Gaven Reef – Nam Luân tiều), Su Bi (Subi Reef – Chử Bích tiều), Gạc Ma (Johnson Reef – Xích Qua tiều), Châu Viên (Cuarteron Reef – Hoa Dương tiều), Chữ Thập (Fiery Cross Reef – Vĩnh Thử tiều) và lập luận rằng Trung Quốc đòi hỏi những vùng biển rộng lớn trên cơ sở cho rằng các thực thể nói trên là những hòn đảo. Philippines cho rằng các thực thể này là « những bãi chìm, mỏm đá, bãi lúc chìm lúc nổi và không thể coi là các hòn đảo theo UNCLOS và những thực thể này là một phần trong thềm lục địa của Philippines hoặc đáy biển quốc tế ». Theo UNCLOS, các đảo có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và các bãi đá có lãnh hải 12 hải lý.

Thứ ba, Philippines lập luận rằng Trung Quốc can thiệp vào việc Philippines thực hiện các quyền hợp pháp của mình ở trong và ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trái ngược với UNCLOS. Philippines đề nghị tòa án trọng tài yêu cầu Trung Quốc từ bỏ (1) chiếm đóng và có các hoạt động tại các thực thể nằm trong danh sách nói trên, (2) ngăn cản các tàu của Philippines khai thác các nguồn lợi sinh vật trong vùng biển cận kề bãi đá Scarborough (Hoàng Nham) và Gạc Ma (Johnson Reef – Xích Qua tiều), (3) khai thác các nguồn lợi sinh vật và không sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, và (4) ngăn cản tự do hàng hải của Philipines ở « trong và bên ngoài vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Philippines ».

Hệ lụy

Nếu tòa án trọng tài chấp nhận Tuyên bố các yêu cầu của Philipines và phán quyết có lợi cho Philippines, điều này sẽ bác bỏ khẳng định của Trung Quốc về « chủ quyền không thể tranh cãi » ở Biển Đông. Tất cả các bên tranh chấp – Việt Nam, Malaysia và Brunei – sẽ được hưởng lợi từ phán quyết này. Tuy nhiên, cũng có một nguy cơ nào đó. Tòa án trọng tài có thể đưa ra phán quyết hỗn hợp, có lợi cho Philippines trong một số trường hợp nhưng cũng thừa nhận sự hiện diện của Trung Quốc trong một số trường hợp khác. Một phán quyết hỗn hợp như vậy có thể tác động đến các đòi hỏi mà các quốc gia ven biển đưa ra, đặc biệt liên quan đến quy chế pháp lý của những thực thể mà họ đang chiếm đóng.

Theo các quan chức Philippines, tòa án trọng tài có thể cần từ 3 đến 4 năm để ra quyết định. Trong thời gian đó, Trung Quốc có thể củng cố và bành trướng thêm sự hiện diện của họ tại các vùng biển mà Philippines tuyên bố là của mình.

Vẫn còn một câu hỏi để ngỏ là tác động của vụ kiện của Philippines đối với Hiệp hội các nước Đông Nam Á và các nỗ lực của khối này trong việc thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin với Trung Quốc chiểu theo Tuyên bố chung về ứng xử của các bên tại Biển Đông và việc đàm phán Bộ Luật ứng xử tại Biển Đông mang tính ràng buộc.

Con ông cháu cha TQ tranh cãi


 

Con ông cháu cha TQ tranh cãi


Cập nhật: 09:23 GMT - thứ ba, 25 tháng 6, 2013



Giới có quyền và tiền ở Trung Quốc chia rẽ về hướng đi cho đất nước

Phái ‘thái tử đảng’ ở Trung Quốc cũng tranh cãi về ý thức hệ và con đường của đất nước, theo đánh giá của Trương Cường, phân tích gia tại cơ quan BBC Monitoring ở Anh.

Ý kiến của một nhân vật ‘con ông cháu cha’ phê phán Chủ tịch Tập Cận Bình, người cũng có xuất thân là con lãnh đạo cao cấp, cho thấy một đấu tranh về ý thức hệ tại Trung Quốc nổ ra trong tầng lớp kế thừa này.

Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



Trong bài viết đăng trên trang Viêm Hoàng Xuân Thu, một tạp chí chính trị nội bộ và mới được truyền tải rộng trên mạng Internet, ông Hồ Đức Hoa, con thứ ba của cố Tổng bí thư Hồ Diệu Bang phê phán cách nhìn về Liên Xô cũ và thời Mao của ông Tập.

Dù không nêu tên ông Tập Cận Bình, bản thân là con trai Tập Trọng Huân, một vị lão thành cách mạng thời cộng sản kiểu cũ, bài viết của ông Hồ Đức Hoa bác bỏ lập luận của ông Tập.

Vào tháng 12/2012, ông Tập Cận Bình khi đến thăm Quảng Đông, đã nói với các quan chức Đảng rằng Trung Quốc cần rút ra bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô.

Lạc lối hay lạc hậu?


Theo ông Tập, chế độ cộng sản ở Liên bang Xô Viết tan rã vì hai lý do: lạc lối về ý thức hệ và sự bất trung của quân đội.

Sang tháng 1/2013, ông Tập lại nói chuyện với các tân ủy viên Trung ương Đảng rằng Trung Quốc không được dùng các thành tựu của thời kỳ Cải cách – Khai phóng để bác bỏ di sản trước cải cách, hoặc ngược lại.



"Phe cải tổ cảm thấy thất vọng trước thái độ quay trở lại thủ cựu của Tập Cận Bình"

Ông Hồ Đức Hoa viết rằng ông thật “đau lòng” khi nghe những ý kiến như vậy từ một lãnh đạo tối cao.

Bài diễn văn của ông đọc tại cuộc họp của tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu ngày 13/4 và được đăng trên mạng gần đây nói rằng sự tan rã của Liên Xô “không có gì đáng tiếc”.

Theo ông, lý do sụp đổ của Liên Xô là vì mục tiêu thâu tóm quyền lực chính trị, nguồn lực kinh tế và độc quyền cả về sự thật.

Hồ Đức Hoa đặt câu hỏi rằng nếu Trung Quốc ngày nay không được quyền phê phán, bác bỏ quá khứ sai lầm thì hóa ra,

“Cả Cách mạng Văn hóa cũng không được phê phán hay sao?”

Được biết phê phán của Hồ Đức Hoa không mang tính cá nhân vì gia đình Tập Cận Bình thân thiết với gia đình con cái Hồ Diệu Bang và bố ông Tập Cận Bình là Tập Trọng Huân từng có tiếng là nhà cải cách bị trù dập.

Nhưng nhiều ý kiến tại Trung Quốc đã đặt câu hỏi về tư duy đổi mới của ông Tập Cận Bình sau khi lên làm Chủ tịch Đảng nay có trái chiều với hành động của ông không.

Ngay sau khi lên làm Chủ tịch Đảng năm 2012, ông đã gặp Hồ Đức Bình, anh trai của Hồ Đức Hoa để nói rằng Đảng cần đổi mới và cải tổ mạnh mẽ hơn bao giờ hết nhằm “diệt trừ các căn bệnh kinh tế và xã hội”.

Ngay sau khi lên cầm quyền, quả là ông Tập có làm vài cử chỉ hướng tới phe cải cách, như nhấn mạnh “pháp trị” và “chủ nghĩa lập hiến”, khiến nhiều người hy vọng ông sẽ thúc đẩy cải tổ chính trị.

Nhưng ông Tập cũng lại ve vãn cả phe Maoist hiện đang hồi phục trở lại sau một giai đoạn nín thở từ khi xảy ra vụ Bạc Hy Lai.

Bài nói của Hồ Đức Hoa cho thấy phe cải tổ cảm thấy thất vọng trước thái độ quay trở lại thủ cựu của Tập Cận Bình.


Tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu nêu ra nhiều chủ đề gai góc của chính trị Trung Quốc

Tranh cãi về đường hướng của Đảng không chỉ xảy ra trên giấy tờ mà đôi khi nổ ra thành cãi vã thực sự.

Vẫn theo ông Hồ Đức Hoa, một cuộc họp mặt bạn học cũ ở trường trung học số 4 tại Bắc Kinh nơi có nhiều ‘con ông cháu cha’ từng học, tranh cãi giữa hai nhân vật thuộc ‘thái tử đảng’ đã nổ ra dữ dội.

Một người, hiện đã không còn làm quan chức nhà nước nhưng vẫn giữ quan điểm bảo thủ, đã phê phán một người kia có quan điểm “ủng hộ các giá trị phổ quát”, một cách ở Trung Quốc gọi tư tưởng tiến bộ, tự do kiểu Phương Tây gồm cả dân chủ và nhân quyền.

Người ‘bảo thủ’ hỏi bạn một cách thách thức: “Anh nói thế thì anh có còn là đảng viên cộng sản không?”, “Anh còn tin vào cái gì không?”

Người kia cười bảo, “Còn anh gửi cả vợ và con sang sống ở Mỹ, thì anh đang tin vào cái gì?”

Bực không chịu nổi, vị có quan điểm bảo thủ đã văng tục để mắng bạn.

Nhà nghiên cứu chính trị Trần Tư Minh, người đăng bài của Hồ Đức Hoa lên mạng Sina Weibo nói với tờ Minh Báo ở Hong Kong rằng giới con ông cháu cha tại Trung Quốc đang bất động dữ dội về đường lối của đất nước.

Theo ông, một nhóm đang phê phán mạnh cách cầm quyền của Tập Cận Bình, nhưng nhóm chiếm đa số thì vẫn ủng hộ lãnh đạo Trung Quốc, cho dù họ phát biểu kiểu gì.



Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link