Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Saturday, November 23, 2013

•Ai chia rẽ dân tộc? 23/11/2013


 

 





Những Tình Huống Trung Quốc Tấn Công Việt Nam


 

Những Tình Huống Trung Quốc  Tấn Công Việt Nam

 

Việc Trung Quốc hạ thủy và đưa vào sử dụng tàu sân bay Thi Lang và ngày 22/11/2013 thử nghiệm thành công máy bay chiến đấu tàng hình không người lái J-20 (có hình dạng giống như B-2 của Mỹ) tạo thêm lo sợ cho khu vực Đông Nam Á và trực tiếp đe dọa Việt Nam.

Trực tiếp đe dọa Việt Nam có nghĩa là Trung Quốc có khả năng tấn công Việt Nam bất cứ lúc nào bằng hỏa lực áp đảo và đánh chiếm luôn phần còn lại của Trường Sa khi đó làm chủ Biển Đông.

Tháng 10/2013, Trung Quốc lại tiến hành một cuộc tập trận quy mô mang tên “Sứ Mệnh Hành Động 2013” ngòai khơi Phúc Kiến với sự phối hợp của Quân Khu Quảng Đông và Hạm Đội Hải Nam thực tập bắn đạn thật với hỏa tiễn không-đối-hải và ngược lại để răn đe Nhật Bản và Đông Nam Á.


Trước tình hình đó, câu hỏi đặt ra ở đây là kế họach “Tái Cân Bằng Lực Lượng” (trước gọi là Xoay Trục) và sự hiện diện của Hàng Không Mẫu Hạm Washington của Mỹ tại Biển Đông có ý nghĩa gì?

Cho đến giờ phút này vì Hoa Kỳ là “con nợ” của Trung Quốc, do kinh tế suy thoái, làm ăn buôn bán , hợp tác chiến lược với Trung Quốc, mới đây lại tập trận hải quân chung với Trung Quốc tại Hạ Uy Di (Hawaii) cho nên luôn luôn tuyên bố “không đứng vào phe nào” trong tranh chấp Biển Đông.

Việc tàu sân bay Washington ghé ngòai khơi Đà Nẵng năm 2011, mời các giới chức Việt Nam lên thăm và mới đây vào Tháng 11, 2013 lại ghé thăm Mã Lai, Singapore và Phi Luật Tân …chỉ có tác dụng trấn an các quốc gia Đông Nam Á vì Hoa Kỳ cần sự hậu thuẫn của các quốc gia này, hiện tại cũng như khi xảy ra cuộc chiến tranh với Trung Quốc trong tương lai xa.

Do đó khi Hải Quân Trung Quốc tấn công Việt Nam, tàu sân bay Washington nếu đựợc gửi tới Biển Đông hay có đóng tại căn cứ Oyster Bay, Palawan đang được xây dựng cách Trường Sa khoảng 160km…thì cũng chỉ đứng nhìn vì không có lý do gì Hoa Kỳ lại tấn công Trung Quốc khi Trung Quốc không đụng chạm đến họ (Ngoại trừ Phi Luật Tân vì Phi Luật Tân có hiệp ước an ninh hỗ tương với Hoa Kỳ).

Chuyến viếng thăm Trung Quốc ngày 17/8/2011 của Phó Tổng Thống Joe Biden, đem theo cả đội bóng rổ đấu giao hữu rồi cuộc gặp gỡ giữa Ô. Tập Cận Bình và Obama vào Tháng 2, 2012 cho thấy Hoa Kỳ thực sự muốn hòa dịu với Trung Quốc và không muốn tình hình căng thẳng thêm.

Do đó niềm tin cho rằng tàu sân bay Washington và tàu chiến Hoa Kỳ sẽ bảo đảm nền an ninh, biển đảo cho Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.Việt Nam phải tự lo liệu lấy. Đó là sự thực hiển nhiên.


Vì Trung Quốc không phải là một cường quốc có trách nhiệm và tuân thủ luật pháp quốc tế mà là một con khủng long đầy tham vọng, cho nên có thể làm bất cứ điều gì mà một quốc gia văn minh không bao giờ dám làm. Thực ra thì không ai có quyền ngăn cản ai trở thành bá chủ thế giới. Nhưng điều mà mọi người quan tâm là “cách” anh trở thành bá chủ và “cách” anh đối xử với thế giới. Vươn lên để tranh ngôi “minh chủ võ lâm” với Hoa Kỳ không phải là đìều cấm kỵ. Nhưng thay vì theo vương đạo tức tôn trọng và thỏa hiệp với các quốc gia Đông Nam Á, Hoa Lục theo con đường bá đạo của Tần Thủy Hoàng ỷ mạnh hiếp yếu. Sau đây là những tình huống Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam:

1. Mở cuộc chiến tranh biên giới như năm 1979

Tôi hoàn toàn bác bỏ khả năng này vì Trung Quốc không có lợi gì khi mở một cuộc tấn công như vậy. Nếu làm thế Trung Quốc sẽ lộ rõ bộ mặt xâm lược và cũng không thể lấy lý do rất “hỗn láo” là “dạy cho Việt Nam một bài học” như năm 1979. Việt Nam đã ký hiệp ước biên giới với Trung Quốc và là thành viên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Uy tín của Trung Quốc về mặt chính trị, ngoại giao và kinh tế sẽ tổn thương nghiêm trọng và thế giới sẽ lên án khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam bằng đường biên giới. Nhưng Trung Quốc có thể sẽ liên tục duy trì áp lực bằng cách tập trung quân đội, khiêu khích, quấy rối không ngoài mục đích đe dọa, khiến Việt Nam lo sợ, lúng túng, từ đó suy yếu trên mặt trận chính là Biển Đông. Đây là kế “Dương đông kích tây” và chiến tranh cân não. Nhưng lịch sử cho thấy các danh tướng của Đại Việt ta khôn ngoan và mưu trí hơn con cháu Tần Thủy Hoàng rất nhiều.

2. Mở một cuộc không kích và bắn phá quy mô các hải cảng, quân cảng, căn cứ hải quân, các giàn khoan/thăm dò dầu khí của Việt Nam

Muốn thế, Hải Quân Trung Quốc phải trải dài dọc theo bờ biển từ Hải Phòng tới Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu, Phú Quốc, Trường Sa v.v..Nếu liều lĩnh mở một cuộc chiến tranh hạn chế (trong nước gọi là cục bộ) như vậy, Trung Quốc sẽ gây một số thiệt hại lớn cho Việt Nam, nhưng phải trả một giá rất đắt vì hệ thống hỏa tiễn phòng thủ ven biển, phòng không, không quân và hải quân của Việt Nam. Tôi không tin Trung Quốc sẽ tiến hành giải pháp này vì Trung Quốc sẽ khó ăn khó nói với dư luận quốc tế về việc bắn phá, oanh tạc các cơ sở trên đất liền và ven biển Việt Nam vì các vùng này vốn không có tranh chấp. Đây là hành vi xâm lược trắng trợn.

3. Tấn công và nuốt gọn Trường Sa

            Đây chính là tham vọng và ý đồ của Trung Quốc trong một tương lai rất gần và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi tấn công và nuốt gọn Trường Sa, Trung Quốc có lý do biện minh là: Chúng tôi chỉ “lấy lạinhững gì của chúng tôi. Bằng cớ là chúng tôi đã công bố cho thế giới biết “Đường Lưỡi Bò” xác định chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của chúng tôi trước đây. Như thế, thêm một lần nữa, từ cuộc xâm lăng, Trung Quốc lèo lái dư luận qua một cuộc tranh chấp chủ quyền rất dai dẳng mà không có một tổ chức quốc tế nào có khả năng giải quyết. Để thực hiện ý đồ nham hiểm này, Trung Quốc phải xử dụng ưu thế vừa mới có là tàu sân bay Thi Lang. Cộng thêm với sự hộ tống của khoảng 5 khu trục hạm, 3 tuần dương hạm và đội tầu ngầm khoảng 6 chiếc và dăm ba tàu đổ bộ hạng nặng. Hỏa lực của hạm đội này dư sức nghiền nát hệ thông phòng thủ của Việt Nam trên Quần Đảo Trường Sa. Và lực lượng thủy bộ khoảng 4000 trên tàu sân bay sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh phần còn lại của Trường Sa. Vậy Việt Nam phải làm sao đây? Theo các chiến lược gia về quân sự:

Thứ nhất: Việt Nam cần phải theo dõi từng bước di chuyển của tàu sân bay Thi Lang qua hệ thống vệ tinh, đồng thời chia xẻ tin tức tình báo quân sự với Nhật Bản, Úc Châu, Ấn Độ và nhất là Hoa Kỳ về mọi động tĩnh của tàu sân bay này. Tôi tin chắc rằng với sức mạnh hiện tại của Hải Quân Việt Nam, nếu không có tàu sân bay, Trung Quốc sẽ không dám mở một cuộc tấn công quy mô để nuốt gọn Trường Sa.

Thứ hai: Cũng theo các nhà quân sự, để phân tán bớt lực lượng trên biển của Trung Quốc, Việt Nam cần ngụy tạo tin tức về cuộc tái chiếm Hoàng Sa nếu nổ ra chiến tranh. Nắm được tin tức này chắc chắn Trung Quốc sẽ phải dàn mỏng tàu chiến để bảo vệ Hoàng Sa. Nếu Trung Quốc lơ là, Việt Nam có thể nhân đó tấn công tái chiếm Hoàng Sa, chặn đường về của tàu chiến Trung Quốc.

Thứ ba: Tương kế tựu kế. Tăng cường phòng thủ Trường Sa và biến Trường Sa thành mồi nhử để tiêu diệt tàu sân bay Thi Lang. Muốn thế Hải Quân Việt Nam cần phải bí mật, linh hoạt. Ngay từ phát súng đầu tiên, hỏa lực phải tập trung để tiêu diệt tàu sân bay này. Một khi tàu sân bay Thi Lang bị đánh hỏng, tất cả máy bay chiến đấu trên boong cũng bị tiêu hủy, chiếc nào đã cất cánh sẽ rớt xuống biển vì không đủ nhiên liệu bay về Hải Nam.Tin này sẽ làm rúng động thế giới. Phần còn lại của hạm đội Trung Quốc như rắn mất đầu, mất tinh thần, phải thoái lui về Hoàng Sa và sẽ bị Hải Quân và Không Quân Hải Việt Nam ở Cam Ranh, Khánh Hòa, Đà Nẵng chặn đánh. Lúc đó, Việt Nam dễ dàng giải phóng Trường Sa.
 
Hiện nay Việt Nam đã có một lữ đòan thủy quân lục chiến (trong nước không còn dùng danh từ “lính thủy đánh bộ” nữa). Nhiệm vụ chính của lữ đòan này là tấn công tái chiếm các đảo bị chiếm.
 
Nói tóm lại theo các chuyên viên quân sự:  Chiến lược sinh tử của Việt Nam là tiêu diệt cho bằng được tàu sân bay Thi Lang, dù phải trả giá đắt. Không tiêu diệt được tàu sân bay Thi Lang thì không sao giữ được Trường Sa.
 
Đây là kế hoạch hết sức táo bạo nhưng thiết nghĩ không còn phương cách nào hơn. Một khi tàu sân bay Thi Lang bị tiêu diệt, phải đợi ít nhất năm, muởi nữa Trung Quốc khi đóng được tàu sân bay khác mới dám gây sự với Việt Nam. Lúc đó Hải Quân Việt Nam đã mạnh hơn và tình hình thế giới đổi khác.

Hiện nay tình hình tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mỗi lúc mỗi trở nên căng thẳng và biến chuyển khôn lường. Rõ ràng Nhật Bản đang tăng cường binh bị và liên kết với Hoa Kỳ và các quốc gia Đông Nam Á để chống lại Hoa Lục. Ngày 8-8-2013 Nhật Bản cho hạ thủy tàu sân bay khổng lồ Izumo là chiếc tàu chiến lớn nhất của tính từ Thế Chiến II tới giờ. Rồi vào ngày 31/10/2013 Nhật lại trình làng chiếc tàu ngầm Soryu tối tân trị giá khoàng 540 triệu đô-la làm Hoa Lục choáng váng.
 
Còn về phía Việt Nam, liên tiếp trong thời gian qua đã có khá nhiều cuộc đối thọai quốc phòng Việt-Mỹ - khi ở Hà Nội, khi  ở Hoa Thịnh Đốn. Những vấn đề như tìm kiếm hài cốt lính Mỹ, rà phá bom mìn, tiêu hủy chất độc da cam, cứu cấp, ứng phó với biển đổi khí hậu v.v.. chỉ là bề nổi. Không biết bên trong hai bên bàn tính những gì.
 
Xin nhớ Mỹ là vua về đi đêm/mật đàm. Không hiểu Mỹ có bỏ lệnh cấm bán vũ khi sát thương để Việt Nam có thể mua máy bay săn tàu ngầm Orion P-3 để tăng cường khả năng phòng thủ biển đảo hay không? Trong khi Mỹ còn đang do dự thì cuộc viếng thăm Việt Nam của Ô. Putin ngày 12/11/2013 đã tạo sự chú ý đặc biệt của các nhà quan sát thế giới. Ô. Putin đã dành cho Việt Nam những ưu đãi đặc biệt về quân sự như: Mở rộng các hạng mục về vũ khí và thiết bị bán cho Việt Nam, hợp tác chế tạo tàu chiến và hỏa tiễn chống hạm, bàn giao căn cứ huấn luyện và sửa chữa tàu ngầm và các lọai tàu chiến chế tạo tại Nga.
 
Tất cả những căn cứ này đều ở Cam Ranh. Thiết lập trường đại học công nghệ để Việt Nam lần hồi tự chủ về kỹ nghệ chế tạo cơ khí dành cho quốc phòng. Tàu ngầm Kilo 636 đầu tiên mang tên Hà Nội (NATO gọi là Hố Đen) ngày 7/11/2013 đã lên đường vể Việt Nam. Chiếc thứ hai chuẩn bị bàn giao. Chiến thứ ba đã khởi công. Theo dự tính khoảng cuối năm 2014 ba con cá kình lợi hại này sẽ tham gia lực lượng phòng thủ biển đảo…và dĩ nhiên làm cho Hoa Lục vô cùng khó chịu.

Trước tình thế sự việc có thể “trở nên quá trễ” Trung Quốc có thể phải ra tay trước. Nếu phải ra tay trước thì Hoa Lục lựa chọn đánh ai đây? Theo tôi nghĩ Hoa Lục sẽ đánh Việt Nam trước, bởi vì dầu sao Việt Nam cũng là đối thủ yếu hơn. Nếu đánh Nhật trước, Hoa Lục sẽ “bươu đầu sứt trán”, còn sức đâu để đánh Việt Nam nữa? Ngòai ra, khi đánh Việt Nam, nuốt gọn Trường Sa, Hoa Lục sẽ khống chế tòan bộ Biển Đông- tức “một công đôi việc”. Lúc đó Nhật Bản chắc chắn phải quỳ gối hay nhựợng bộ.

Thế nhưng khi tấn công Việt Nam thì Hoa Lục đã tiến hành một cuộc viễn chinh xâm lược. Bản chất của viễn chinh xâm lược phi chính nghĩa, xa xôi, tiếp vận tốn kém, người dân thường chống đối cho nên không thể kéo dài vô tận. Trong khi chiến tranh phòng vệ - tức chiến tranh bảo vệ tổ quốc đầy chính nghĩa, người dân chấp nhận hy sinh và hy sinh cho đến ngày tòan thắng. Do đó nếu Hoa Lục liều lĩnh mở cuộc tấn công nhằm nuốt gọn Trường Sa thì chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào”.

Hơn thế nữa, căn bản của chiến tranh viễn chinh xâm lược… là phải tốc chiến tốc thắng và phải có khả năng phòng thủ vững chắc phần đất hay các hòn đảo vừa đánh chiếm…hầu tạo “chuyện đã rồi trước dư luận quốc tế. Nếu cuộc chiến bất phân thắng bại, kéo dài khoảng một tuần lễ thì hải lộ quốc tế xuyên qua Biển Đông tắc nghẽn. Lúc đó Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn và cả Hoa Kỳ nữa lâm nguy vì hải lộ này là con đường huyết mạch và là “nồi cơm hũ gạo” của thế giới. Để bảo vệ hải lộ chiến lược và “nồi cơm hũ gạo” này, có thể một lực lượng hải quân quốc tế hùng hậu sẽ kéo tới lấy cớ “bảo vệ an tòan hàng hải” . Khi đó thì Hoa Lục sẽ “xôi hỏng, bỏng không”. Về sức mạnh của Hoa Lục - kinh tế lẫn quân sự thì không ai phủ nhận. Nhưng Hoa Lục không phải không ở vào tình thế tiến thóai lưỡng nan./.

Đào Văn Bình

(California ngày 22/11/2013)

“ ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN TÀU ĐỎ “ CỦA ĐẢNG CSVN


 



--

Kính Chuyển

MG

 

TOÀN CẢNH BỨC TRANH 

“ ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN TÀU ĐỎ “ CỦA ĐẢNG CSVN

MƯỜNG GIANG

 

 

            Năm 111 trước Tây Lịch, người Hán xâm lăng và cưởng chiếm non sông Hồng-Lạc, lúc đó có quốc hiệu là Nam Việt, bao gồm lãnh thổ của Âu Lạc và Giao Chỉ. Dân tộc Việt bắt đầu sống trong một thời bị Tàu đô hộ cả ngàn năm, còn đất đai của tiên tổ thì bị giặc cướp phanh thây thành chín mảnh. Ðó là Nam Hải va Hợp Phố (Quảng Ðông), Thượng Ngô và Uất Lâm (Quảng Tây), Châu Nhai và Nam Nhĩ (Hải Nam), Giao Chỉ (Bắc Việt), Cửu Chân (Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An và Hà Tĩnh).

 

‘ Quê hương nay đã mỏi mòn,

Ngàn năm nô lệ, vẫn còn còn đây .. ’ ’ ’

(Ca dao)

 

            Từ đó Dân tộc Việt sống trong một thời kỳ lầm than, nhục hận và đen tối dưới cùm gông nô lệ, dưới đồng hóa xích xiềng cùng với sự áp bức dã man tàn độc của giặc Tàu phương Bắc. Nhưng người Việt vốn là một dân tộc anh hùng tuyệt luân, phi thường dũng liệt, can đãm bất khuất. Vì vậy suốt trong thời gian bị nô lệ, đã không ngừng quật khởi chiến đấu, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi cẩm tú ngàn đời của dòng giống Tiên Rồng, được tạo dựng từ thời các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang, cách đây gần 5000 năm lịch sử.

 

            Trong tình cảnh nước mất nhà tan, thương đau và tủi nhục, cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc thoái khỏi ách nô lệ của giặc Tàu, vẫn liên tục sôi sục trong tâm khảm mọi người. Năm 40 sau Tây lịch, hai phụ nữ đầu tiên của nước Việt là Trưng Trắc và Trưng Nhị, đã thắp sáng lịch sữ bằng ngọn lửa yêu nước, đánh đuổi tên thái thú tàn ác Tô Ðịnh chạy về Hán, dành lại được một phần non sông cẩm tú của dân tộc, dù chỉ giữ được một thời gian ngắn. Cuộc khởi nghĩa trên đã làm cho đồng bào vô cùng phấn khởi và càng thêm ngưỡng kính Hai Bà tuy là phận nữ nhi nhưng đã dám đứng lên chống lại giặc thù của dân tộc, trả thù nhà nợ nước. Thật là một tấm gương để cho con cháu ngàn đời soi chung noi dấu. Ngày nay :

‘ Cột đồng Mã Viện tìm đấu thấy

Chỉ thấy Tây Hồ, bóng nước gương

(Thái Xuyên)

 

            Nên đọc lịch sử VN qua hằng ngàn năm trước tới thời cận sử không xa, con cháu ngày nay chỉ thấy đẳm đầy trên những trang sách cũ-mới, toàn là máu lệ và nước mắt anh hùng của tiền nhân, qua công cuộc bảo vệ và dành lại lãnh thổ cũng như nền tự chủ độc lập của Ðại Việt. Còn gì đau đớn và tủi nhục cho bằng thân phận của người dân mất nước, kể từ năm 43 sau TL , Mã Viện lập lại chế độ cai trị vô cùng hà khắc, mục đích duy nhất cũng chỉ là muốn biến Giao Châu thành một quận huyện của Tàu, đồng thời Hán hóa người Việt và bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam.

 

            Tuy cách nay gần hai ngàn năm nhưng chính sách xâm lăng đồng hóa các dân tộc yếu kém láng giềng của Hán Tộc vẫn không hề thay đổi, dù cho trong cuộc phong trần vinh nhục, Tàu cũng đã nhiều lần bị các nước khác đô hộ, hạ nhục, thảm thê không có bút mực nào diễn tả cho hết. Mã Viện dựng cột đồng với lời hăm dọa ‘ đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệtnhưng cột đồng thì mất tích, còn nổi căm hận nhớ đến âm mưu diệt chũng của người Tàu đối với dân Việt thì muôn đời mãn kiếp không bao giờ quên được. Ðó là lý do mà suốt ngàn năm bị áp bức bóc lột đến cùng tận, dân Việt luôn luôn vùng dậy chống quân Tàu. Năm 248 Bà Triệu khởi binh chống quân Ngô ở Cửu Chân (Thanh Hóa). Tiếp theo có Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ.. và cuối cùng là Ngô Vương Quyền vào năm 939 sau TL, chém đầu thái tử Hoàng Tháo trên sông Bạch Ðằng, đuổi đánh quân Nam Hán chạy về Tàu, kết thúc 1000 Bắc thuộc, dành lại độc lập tự chủ cho dân tộc Việt.

 

‘ Dồng trụ chí kim đài dĩ lục (cột đồng đến nay, rêu còn xanh ?)

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Ðằng tự xưa, máu vẫn đỏ).

 

          Và từ đó cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc Việt đối với dã tâm xâm lăng thống trị của giặc Tàu phương Bắc, trở thành một bản chất quật cường trong tâm khảm của mọi người. Ðó cũng là chủ nghĩa yêu nước, một tôn giáo đặc dị VN chỉ biết tôn sùng những vị anh hùng liệt nữ tận trung báo quốc, mà họ coi ngang với Trời Phật, thần Ðất.. như Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo, đã hai lần đại thắng đế quốc Nguyên-Mông trong thế kỷ XIII khi xăm lăng Ðại Việt.

 

          Nói chung, trong khi chiến đấu để bảo vệ tổ quốc và nền độc lập tự do cho xứ sở, các nhà lãnh đạo Ðại Việt lúc nào cũng cứng rắn với giặc Tàu khi chiến đấu và mềm mỏng trong ngoại giao. Tổ tiên ta từ buổi bình minh lịch sử, cũng chỉ nhờ vào chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan, mà đánh bại được tất cả các cuộc xâm lăng của Tống, Mông Cổ, Minh và Mản Thanh. Còn việc triều cống giặc Tàu, sau những lần chiến thắng quân xâm lăng, thực chất không phải vì nước ta sợ chúng, mà là tránh không để cho chiến tranh tiếp diễn, gây thêm cảnh sanh linh đồ thán, để khổ cho muôn người.

 

            Năm 1077 ba chục vạn quân Tống xâm lăng Ðại Việt. Ðại tướng Lý Thường Kiệt trong khi ngăn giặc Tàu tại phòng tuyến Sông Cầu (Bắc Việt), đã sáng tác bốn câu thơ thần, để cổ võ cho tình thần chiến sĩ nơi biên tái :

 

‘ Nam quốc sơn hà , Nam đế cư (Sông núi nước Nam vua Nam ở )

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Rành rành định phận ở sách trời)

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm)

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời).

 

            Bài thơ như một bản tuyên ngôn độc lập của nước Nam, đồng thời đanh thép cảnh cáo giặc Tàu đừng bao giờ ỷ mạnh hiếp yếu, luôn nuôi dã tâm cưởng chiếm nước người, không sớm thì muộn cũng có ngày bại vong. Tất cả là sự gắn bó mãnh liệt vào mãnh đất quê hương, vào di sản dân tộc tuy đẳm đầy máu lệ nhưng đâu có thiếu chất lãng mạng kiêu hùng :

 

‘ Ðoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Tử quan

Thái Bình nghi nổ lực

Vạn cổ thử giang san ‘

(Trần Quang Khải).

 

            Vào cuối năm Ðinh Mùi (1428), Bình Ðịnh Vương Lê Lợi sau 10 năm chiến đấu gian khổ, đã đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi non sông đất Việt. Nguyễn Trãi thay ông viết ‘ Bình Ngô Ðại Cáo ‘ công bố trước quốc dân về công cuộc phục quốc đã thắng lợi, nước nhà lại độc lập tự chủ như thuở nào. Ðồng thời bày t lòng thương xót đối với đồng bào vô tội đã bị giặc Minh tàn sát dã man, trong thời gian chúng tạm chiếm được nước ta :

 

‘ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời, lừa dân, đủ trăm ngàn kế

Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi, dãi cát tìm vàng, khốn nổi rừng sâu nước độc

Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.. ’ ’ ’

 

            Ba trăm năm sau Mãn Thanh lại bắt đầu dòm ngó non sông Việt, qua cái cớ giúp Lê Chiêu Thống dành lại ngôi vua. Vì vậy nữa đêm mùng năm tháng giêng Tết Kỹ Dậu (1789), Ðại Ðế Quang Trung (Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc và chỉ trong một hồi trống đã đại thắng giặc Thanh, bắt Sầm Nghi Ðống thắt cổ tự tử, khiến Tôn Sĩ Nghị phải ôm đầu máu, trốn vào ống đồng chạy về Tàu

 

            Như Lê Thánh Tôn (1460-1497) vị anh quân tài giỏi của Ðại Việt vào cuối thế kỷ XV đã nói ‘ Ta phải gìn giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của dất núi ‘ Câu chuyện thần thoại về Phù Ðổng Thiên Vương cởi ngựa sắt đánh đuổi giặc Ân xâm lăng nước ta vào thời Hùng Vương thứ VI, là một triết lý lịch sử dựng và giữ nước của Ðại Việt, tuy là một nước nhỏ nhưng luôn chiến thắng kẻ thù to lớn phương Bắc, được văn chương bình dân ca tụng đầy tự tin và ngạo nghễ :

 

‘ Nực cười châu chấu đá xe

tưởng rằng chấu ngã ai ngờ xe nghiêng

Chim chích cắn cổ diều hâu

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm ‘.

 

            Tóm lại bài học lịch sử Việt ngàn đời vẫn còn đó : Giặc Tàu chỉ có thể xâm lăng cưởng chiếm đất đai của ta mỗi khi thế nước suy hèn, chia rẽ và nội loạn nên Hổ Quý Ly, Mạc Ðăng Dung và Chúa Trịnh đã dâng nạp cho kẻ thù phương Bắc nhiều đất đai ở biên giới Hoa Việt.

 

            Cuối đời Trần vua quan hèn yếu, Hồ Quý Ly tiếm vị xưng vương vào năm 1401. Trần Khang tự là Thiểm Bình, xưng là con cháu nhà Trần đến Yên Kinh xin Tàu đánh nước Nam đề giựt lại ngai vàng cho mình. Nhà Minh lợi dụng cơ hội đó sang đánh chiếm nước ta, đặt nên đô từ 1413-1428 mới chấm dứt vì bị Bình Ðinh Vương Lê Lợi đánh đuổi chạy về Tàu. Thế mới biết, Nhà Hồ dù có trăm vạn quân thiện chiến và tinh nhuệ nhưng vẫn thua giặc Minh vì mất lòng dân. Trong lúc Kháng Chiến Quân Lam Sơn chỉ có vài chục vạn nhưng quân dân trên dưới một lòng, vì vậy đã đánh đuổi được giặc Tàu xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dành lại độc lập cho nước nhà.

 

            Năm 1786, Duy Kỳ hay Duy Khiêm lên nối ngôi vua Hậu Lê tức là Mẫn Ðế niên hiệu Chiêu Thống. Năm 1788 vì thù hận Tây Sơn và Chúa Trịnh, đồng thời muốn giựt lại chiếc ngai vàng cho nhà Lê, nên Chiêu Thống chạy sang cầu viện Mãn Thanh sang chiếm nước ta nhưng bị Ðại Ðế Quang Trung đuổi đánh phải chạy về Tàu vào năm 1789.

 

            Và lịch sử lại tái diễn tấn tuồng ‘ Rước voi Tàu về dầy mã Tổ Hồng Lạc ‘ từ tháng giêng năm 1949, Hồ Chí Minh triệu tập hội nghị trung ương lần thứ 6 để ‘ nổ lực chuẩn bị sẳn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội chiến lược từ Trung Cộng ‘.Cho nên không ngạc nhiên khi thấy Tàu Ðỏ là nước đầu tiên công nhận Việt Cộng vào ngày 10-1-1950. Ðây cũng là thời gian HCM bí mật sang Tàu chầu Mao Trạch Ðông cầu viện. Từ đó về sau Hồ chọn ngày 10-1 làm quốc lễ và gọi đó là ngày ‘ thắng lợi ngoại giao ‘.Hàng ngàn cố vấn Tàu có mặt đông đảo tại VN, trong số này có các tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, Lã Quí Ba.. giúp các đệ tử thân tín của Hồ từng hoạt động bên Tàu, nắm giữ các địa vị then chốt trong đảng , ngày qua ngày cứ thế sản sinh bè phái thân Trung Cộng, khống chế quyền lực cả nước tới nay, biến nước ta thành một quận huyện của Tàu như thời Bắc thuộc.

 

            Tháng 7-1954, ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève chưa ráo mực, thì Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam, để tron gói vơ vét và toàn quyền trên ngai vàng máu lệ. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH khi có lệnh tập kết. Ð chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia . Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Ðồng văn Cống chỉ huy. Dĩ nhiên muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Ðại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn.. nằm trong Ðông Hải.

 

            Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Ðôn, Paris, Hoa Thịnh Ðón, Bắc Kinh... kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Ðồng lúc đó là thủ tướng,theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau ‘ Chính phủ VNDCCH, tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng’. Ngày 22-9-1958, Ðại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Ðồng ký, lên Thiên Triều. Ngay cả khi đã cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN, vào tháng 5-1976, trên tờ Sài Gòn Giải Phóng của VC nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung.. vẫn còn đăng lời xác nhận của đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài hơn, VC nói, vì ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên VC muốn lấy lại đảo,lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả ‘.Luận điệu trên, rõ ràng VC đã xác nhận VN là thuộc địa của Tàu Cộng. Dù ngày 14-3-1988, VC và Trung Cộng đã giao tranh đẳm máu tại Trường Sa nhưng ngay sau đó trên tờ Nhân Dân, số ra ngày 26-4-1988, VC vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân , để VC đánh chiếm VNCH từ 1955-1975.

 

            Một bí mật khác cũng đã được báo chí phổ biến cho biết “ vào tháng 4-1972 khi Tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh cầu thân với Tàu đỏ, được Mao Trạch Ðông đem công hàm bán đảo, do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng ký năm 1958 làm bằng chứng “, để phản đối việc tàu Hoa Kỳ vi phạm lảnh hải quần đảo Hoàng Sa của chúng (?).Còn Kissinger thì xảo quyện hơn, khi viết hồi ký về chuyến đi đó, đã không hề thắc mắc hay nhắc tới một chữ về việc Trung Cộng đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Trường Sa, dù cả hai đều biếtcác quần đảo này của VNCH. Từ đó, Nixon ra lệnh cho hạm đội 7 tại Thái Bình Dương phải ở xa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng 12 hải lý như Trung Cộng đã quyết định.

 

            Ngày 11-1-1973 Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền trên toàn thể các đảo của VN trong biển Ðông. Ngày 26-12-1973 Bắc Kinh bắt đầu thương thuyết việc khai thác dầu khí tại vịnh Bắc Việt với Ý Ðại Lợi. Tháng 1-1974 giặc Tàu xua hải lục không quân chiếm Hoàng Sa và dù Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trực tiếp yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ giúp nhưng Mỹ lại ra lệnh Hạm Ðội 7 không can thiệp, kể cả cấm vớt các chiến sĩ hải quân VNCH lâm nan trong cuộc hải chiến trên, dù lúc đó hai bên vẫn còn là đồng minh đồng đội.

           

            Ngày thứ bảy 17-2-1979 lúc 3 giờ 30 sáng, 600.000 quân Tàu tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước, đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Ðồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẫm máu của VN chống xâm lăng Tàu. Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

 

            Tóm lại sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ, tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới, mà suốt cuộc chến Ðông Dương lần II (1960-1975) gọi là vùng an toàn. Ðã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

 

            Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt, vì VC dấu nhẹm tin tức từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China.com) và tác phẩm ‘ Dữ kiện bí mật của cuộc chiến tranh Trung-Việt (Secret Records of Sino-Vietnamese War) ‘ của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được ‘ Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Ðất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989) ‘.Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vin cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới, nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Ðất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.

 

             CSVN, ngay từ lúc còn trong trứng nước vào những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX cho tới đại hội đảng bất thường lần thứ 6 vào đầu tháng 10-2012, từ Hồ Chí Minh tới tập đoàn cầm quyền Trọng-Sang-Dũng và hầu hết các chóp bu trong bộ chính trị và trung ương đảng “ đời đời biết ơn và luôn giữ sự thờ kính với Trung Cộng “. Ðiều này cũng không có gì lạ vì hầu hết các cán bộ lớn nhỏ của cộng đảng VN trước khi sang Liên Xô học hỏi kỹ thuật bán nước giết dân tại Ðông Phương Hồng, đều đã trải qua thời gian huấn luyện quân sự và chính trị tại Hoa Lục.

 

            Ngày nay nhờ sự bạch hoá của nhiều văn khố trên thế giới và nhất là sự tiết lộ của Tàu đỏ, cho thấy dã tâm của Trung Cộng qua cái gọi là ‘ đồng chí XHCN hay 4 tốt 16 chữ vàng ‘ thực chất chỉ là lợi dụng xương máu của người VN qua bình phong ‘ sát cánh anh em chung ý thức hệ cộng sản ‘ , để bảo vệ dùm biên giới phía nam của chúng. Năm 1968 sử gia Pháp Francois Joyaux đã dựa vào tài liệu lưu trữ trong văn khố kết luận “ sự có mặt lần đầu tiên của Mao tại hội nghị Geneve 1954, đã chứng tỏ sự quan tâm lớn lao tới tình hình Ðông Dương thời đó của Trung Cộng. Còn Paul Mus một học giả Pháp chuyên nghiên cứu về VN, vào năm 1965 đã viết ‘ Sở dĩ Mao nhượng bộ Pháp tại hội nghị Geneve 1954, mục đích cũng chỉ muốn ngăn chận sự thống nhất của VN cũng như không cho CSVN thống trị toàn thể bán đảo này ‘.

           

            Ðây mới là lý do quan trọng nhất để Trung Cộng sẳn sàng hy sinh mọi thứ, chẳng những dồn hết nhân vật lực hổ trợ cho Hà Nội, mà còn ra lệnh cho các đàn em Lào và Cao Miên cho Hồ Chí Minh sử dụng hành lang của hai nước này tại biên giới để Bắc Việt làm đường mòn. chuyển quân trang quân dụng vào xâm lăng VNCH. Tóm lại đời đời Trung Cộng vẫn coi Việt Cộng như là một phương tiện không hơn không kém để đạt cứu cánh của riêng mình.

 

            Từ sau tháng 5-1975 mặt nạ ‘ đánh Mỹ cứu nước ‘ của CSVN đã rớt, cũng là lúc kết thúc trò đu dây giữa Nga-Tàu để hưởng lợi. Liên minh Ðông Dương cũng không còn qua sự phá hoại của Trung Cộng, quan hệ Việt-Hoa rạn nứt từ những ân oán cũ mới. Cuối cùng Duẩn bỏ Tàu theo Nga gây nên cuộc chiến long trời lở đất tại biên giới Việt-Miên-Hoa từ năm 1978-1990.

 

            Tháng 3-1985 Gorbachev làm tổng bí thư Liên Xô, phát động chính sách ‘ cởi mở (glasnov) và tái cấu trúc (perestroika) ‘ để cứu vản nền kinh tế của Nga đang trong cơn khủng hoảng vì phải cưu mang quá nhiều ngoại viện cho các nước chư hầu trong đó có CSVN. Ðồng thời, Gorbachev còn nối lại liên hệ với kẻ thù Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong bước đường cùng vì bị cả thế giới bỏ rơi, tháng 8-1986 Hà Nội tuyên bố rút hết quân ra khỏi Kampuchia và muốn nối lại quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Trường Chinh (tạm thay Lê Duẩn mới chết, làm quyền tổng bí thư) còn gửi điện văn chúc mừng quốc khánh của Tàu đỏ.

 

            Tóm lại sự suy sụp của đế quốc Liên Xô vào năm 1986 cộng thêm cái chết của Lê Duẩn, đã đưa CSVN vào ngõ cụt về ý thực hệ, kinh tế gần như khánh tận, quân sự bị sa lầy tại Kampuchia.. Nên để cứu đảng, cứu thân, bọn chóp bu tại bắc bộ phủ mới được bầu trong đại hội đảng lần thứ VI (Linh, Hùng, Công, Mười, Kiệt..) qua cố vấn của Chinh, Ðồng, Thọ “ quyết tâm phấn đấu để sớm được trở lại làm đầy tớ cho Tàu “. Trong lúc đó, Trung Cộng vẫn công khai xua quân chiếm thêm nhiều đất đai của ta tại biên giới và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của VN vào ngày 16-3-1988 trước sự phản ứng lấy lệ gần như đầu hàng giặc của chóp bu CSVN.

 

            Tháng 4-1989 Trung Cộng dùng xe tăng đại pháo tàn sát dã man sinh viên và dân chúng biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh). Từ cuối năm 1989-1990, Ðông Ðức, Ðông Âu và đế quốc Sô Viết tan rã, khối XHCN chỉ còn lại Tàu đỏ, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cu Ba. Trước nổi chết gần kề, ngày 10-4-1990 bộ chính trị cộng đảng VN họp khẩn để ‘ nhất trí  quyết tâm bằng mọi giá (kể cả bán nước, bán dân) được theo Tàu để bảo vệ XHCH. Và từ đó tới ngày nay 11-2013) , cái giá máu mà dân tộc VN phải đổ ra để CSVN trả nợ cho giặc Tàu là một phần lảnh thổ gồm đất đai, biển, đảo và sự Hán hóa dân tộc Việt của Trung Cộng.

 

            Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Ðức Lương, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang.... đã và đang viết phần cuối trang sử nô lệ giặc Tàu mà Hồ Chí Minh đã đề ra từ năm 1930. VN sẽ trở thành một quận huyện của Trung Hoa như thời Bắc Thuộc. Tất cả đều là sự thật nhục nhã và đau lòng.Ðại hội VI (1986-1991) ngoài thành tích đổi mới kinh tế theo định hướng XHCH để tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho cán bộ, bộ đội, công an và tư bản đỏ làm giàu thêm nhờ than nhũng và ăn cắp của công. Tháng 7-1987 hội nghị trung ương đảng họp và ban hành nghị quyết số 2 cấm ‘ QUÂN ÐỘI NHÂN DÂN VN KHÔNG ÐƯỢC ÐỤNG CHẠM VỚI QUÂN TÀU ÐỎ ‘.Lệnh này được giữ kín mãi tới ngày 28-1-1990 báo Nhân Dân mới đăng tải.

 

            Bổn cũ tiếp tục soạn lại qua các lần đại hội đảng kế tiếp với Manh, Lương, Khải, Triết rồi Trong, Sang, Dũng..Tất cả đều theo đúng mẫu mã khuôn rập đã có sẳn từ thời Hồ Chí Minh của mấy chục năm về trước ban truyền “ đời đời theo Tau và nhớ ơn thiên triều “.Trong cơn sơn hà nguy biến, dân tộc lâm nguy, đồng bào cả nước và hải ngoại ai nấy đều chung căm hận, quyết chờ cơ hội thuận tiện để đồng đứng chung dưới lá cờ đại nghĩa, lật đổ bạo quyền CS và đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên Giới.. như tổ tiên ta ngày trước đã từng làm. Vì VN không phải là một nước nhỏ, dân Việt không phải là loại người khiếp hèn. Nhỏ hay hèn trước giặc Tàu phương Bắc, chỉ có đảng CSVN còn 80 triệu người Việt luôn khẳng định sức mạnh của mình, sẽ không bao giờ để cho Tàu đỏ hung hăng bá quyền nước lớn, khi đồng bào dành lại được quyền làm chủ nước trong tay CS. Ngày đó không xa và chắc chắn VN sẽ dành lại những phần đất của tổ tiên, bị VC dâng bán cho Tàu đỏ suốt mấy chục năm qua.

 

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Thang 11-2013

MƯỜNG GIANG

'Tôi bị ép cung từ khi bắt tới lúc xử'


 

'Tôi bị ép cung từ khi bắt tới lúc xử'


Cập nhật: 17:22 GMT - thứ sáu, 22 tháng 11, 2013


Bốn bị cáo
 trong vụ án Lê Công Định

Bốn bị cáo trong vụ án Lê Công Định, với ông Long ở đầu tiên, từ trái, hàng dưới

Một cựu tù nhân trong vụ án Lê Công Định lên tiếng cáo buộc cơ quan điều tra Việt Nam đã liên tục mớm cung, cố ý làm sai trái lời khai của ông và gây áp lực buộc ông và những bị cáo khác trong cùng vụ án phải nhận tội.

Hôm 22/11/2013, ông Lê Thăng Long, người từng bị Tòa án và chính quyền Việt Nam kết án 5 năm tù giam hồi tháng 1/2010, vì tội 'hoạt động chính trị nhằm lật đổ chính quyền nhân dân' nói trong suốt thời gian ông bị bắt tạm giam, giam giữ, điều tra, cho đến khi ra tòa, ông liên tục bị cơ quan điều tra gây áp lực.

Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



"Trong quá trình điều tra, họ gây sức ép rất là nhiều, kể cả mớm cung, kể cả viết sai lệch những quá trình trình bày trước cơ quan điều tra," ông nói với BBC,

"Họ gây sức ép và họ nói thẳng, họ gây những áp lực tâm lý, họ đe dọa rất nhiều, nếu anh không chịu thay đổi như vậy, anh sẽ gặp chuyện.

'Họ dùng những từ gọi là 'rượu mời không uống, uống rượu phạt' chẳng hạn, hay là những sự đe dọa rất tinh vi trong quá trình điều tra cũng như trong quá trình tạm giam ở tại cơ quan công an."

"Ví dụ khi tôi khai một điều này thì họ cố tình không viết đúng lời khai của tôi mà họ viết sai lệch đi. Và họ nói 'ừ, thôi cứ viết như vậy, sau sẽ sửa sau' chẳng hạn, đó là hình thức mớm cung hay là hình thức viết sai lệch cung"

Ông Lê Thăng Long

Ông Long nói mặc dù ông đã thắc mắc khi thấy các biên bản ghi lời khai của ông do các điều tra viên thực hiện không phản ánh trung thực nội dung trình bày và quan điểm của ông, cơ quan điều tra vẫn tìm cách buộc ông phải chấp nhận.

Ông nói: "Ví dụ khi tôi khai một điều này thì họ cố tình không viết đúng lời khai của tôi mà họ viết sai lệch đi. Và họ nói 'ừ, thôi cứ viết như vậy, sau sẽ sửa sau' chẳng hạn, đó là hình thức mớm cung hay là hình thức viết sai lệch cung.

"Trong những ngày đầu, tôi không có kinh nghiệm, việc của mình nhiều khi tôi nghĩ, việc đó cũng không đến nỗi, mình cũng tin lời người ta.

'Sau đó, chính những điều đó, họ lấy cái đó để kết tội chúng tôi."

Cựu tù nhân hiện vẫn đang chịu hình phạt quản chế tại địa phương còn cáo buộc trong hai lần ông tuyệt thực trước với tổng cộng 23 ngày, nhà chức trách đã gây sức ép để gia đình của ông không đưa thông tin ra bên ngoài về vụ việc.

'Vô tội'


Ông Lê Thăng Long

Ông Lê Thăng Long được trả tự do sáu tháng trước hạn hôm 4/6

Ông nói: "Sau phiên sơ thẩm và trước phiên phúc thẩm, đã có hai lần tuyệt thực. Sau phiên sơ thẩm là 12 ngày và phiên phúc thẩm là 11 ngày.

"Tại phiên phúc thẩm, trước phiên phúc thẩm, tới ngày thứ bảy, sức yếu quá, họ đưa vào bệnh viên của Bộ Công an, và họ truyền thuốc vào người để ép tôi ra tòa tại phiên phúc thẩm.

"Quá trình đó, họ xích tay tôi vào cái giường ở Bệnh viện Công an, họ gây sức ép trong quá trình phản ứng như vậy.

"Và họ gây sức ép đối với gia đình tôi để không thông tin việc này ra bên ngoài."

Khi được hỏi liệu luật sư Lê Công Định và thạc sỹ công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung, những người trong cùng vụ án với ông Long, có chịu một áp lực nào không khi chấp nhận đọc bản tự nhận tội được truyền thông nhà nước và chính quyền loan tải rộng rãi, ông Long đưa ra bình luận:

"Theo tôi trong một xã hội, thể chế hiện nay ở Việt Nam thì chắc chắn những người bị bắt, cũng gặp sức ép để họ buộc phải nhận tội như vậy.


"Và cả bốn chúng tôi, đối với trường hợp ba anh còn lại, tôi cũng khẳng định là không có tội."

Ông Long, từng là một kỹ sư và cựu doanh nhân, cũng cho hay hiện bản thân ông đang chịu sự quản chế, theo dõi và gặp nhiều khó khăn trong đời sống, từ hoạt động kinh tế cho đến khó khăn về mặt tinh thần.

Ông nói: "Hiện nay chúng tôi, vì không được ra khỏi khu vực của mình và bị giám sát rất chặt, nên chúng tôi vẫn chưa có công việc gì, ngoài thời gian nghỉ ngơi và nghiên cứu."

Tháng Sáu năm 2009, ông Lê Thăng Long, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung bị bắt.

Họ bị kết án với các mức án tù khác nhau ở phiên tòa diễn ra năm 2010.

Cáo buộc của ông Lê Thăng Long đưa ra trong bối cảnh có tranh luận về quy trình điều tra hình sự của công an Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang cho biết thời gian tới sẽ lắp camera theo dõi tại các phòng hỏi cung để khắc phục vi pham trong quá trình điều tra.

Phát biểu trước Quốc hội trong phiên chất vấn ngày 21/11, ông Quang cho biết Bộ Công an đã lựa chọn giải pháp này nhằm "bảo đảm an ninh, an toàn và tăng cường hoạt động giám sát hỏi cung của các điều tra viên"

 

Chủ Nghĩa Xã Hội, quen "Bịp" mời coi


 

 

Doc Bao Vem 347



 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link