Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 22, 2014

SỰ PHÁ SẢN CỦA CÁCH MẠNG VÔ SẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM



mục tiêu cuả nhân dân Việt Nam là  mưu tìm một cuộc sống  tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc  cho nhân dân Việt Nam, nghĩa là phải thay đổi thể chế độ tài, độc đảng hiện nay thành chế độ có tự do, dân chủ, đa nguyên, pháp trị chứ không phải là đi tiêu diệt hết mọi người đảng viên việt cộng dù là trong quá khứ hay hiện tại , nếu họ đang tham gia vận động cho tự do, dân chủ thì còn nên hổ trợ cho họ đóng góp vào việc chung ...  

 cho nên những việc làm có ý gây phân hoá sức mạnh dân tộc, cản trở bước tiến  đấu tranh đều là những việc làm  không  đúng cho mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam tự do, dân chủ ngày mai.

 nhưng kẻ cố tình phá hoại mọi nỗ lực xây dựng cho một tương lai tươi sáng cuả dân tộc Việt Nam cần phải bị  mọi người  loại bỏ ...

Hội Thoại Việt Cộng Theo Trung Cộng Khủng Bố Toàn Dân VN Yêu Nước


Nhiều chục công an bố ráp và bắt giữ Tiến Sỹ Phạm Chí Dũng



On Thursday, 21 August 2014 12:25 PM, "Tran Ho TranHo1@yahoo.com [BTGVQHVN-2]" <BTGVQHVN-2@yahoogroups.com> wrote:


TAI LIEU CHUNG MINH VO VAN AI PHAN CHIENCHONG VNCH

Quý Vị Tuỳ Nghi Xử Dụng Tài Liệu Chứng minh Võ Văn Ái Phản Chiến và Chống Việt Nam Cộng Hoà Trên Tờ Báo Mỹ Delaware County Daily Times › 1969 › January › 8 January 1969 › Page 9


Kính gửi quân nhân cán chính, con em Việt Nam Cộng Hoà, Tài Liệu lưu trên Web của tờ báo Mỹ  Delaware County Daily Times › 1969 › January › 8 January 1969 › Page 9 trích những lời Võ Văn Ái chống phá chính quyền Việt Nam Cộng Hoà .

Xin Vào Thăm Trang Mng ca T Delaware County Daily Times Nói V Võ Văn Ái:
Website: Quý V Có Th kim Chng Vi Trang Web ca t báo này ti đa ch, 
Xin chân thành cám ơn.

Bản Dịch

Một nhà lãnh đạo Phật giáo miền Nam Việt Nam lưu vong, ông Võ Văn Ái phát biểu vào Thứ Ba đêm ngày 7 tháng 1 năm 1969 “cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ không được giải quyết cho đến khi chính quyền Sài Gòn bị lật đổ và một đại diện Phật giáo được phép tham dự các cuộc đàm phán hòa bình Paris. “
Trong một cuộc thảo luận với sinh viên và các giáo sư Haverford College, ông Võ Văn Ái, tổng thư ký của Liên minh Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài , cho biết chính phủ Miền Nam Việt Nam hiện nay là một " sáng tạo bù nhìn của Hoa Kỳ và không có sự công nhận của nhân dân miền Nam Việt Nam."
"Tôi kêu gọi các bạn để giúp tôi trong việc thực thi quyền đại diện thực sự của nhân dân Miền Nam Việt Nam, không chỉ tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris, mà nhân dân còn có khả năng kiểm soát toàn bộ chính quyền miền Nam Việt Nam . " Ngoài ra Võ Văn Ái cũng kêu gọi ngừng hoàn toàn cuộc chiến tranh, mà theo ông Võ Văn Ái cáo buộc và tố cáo trên chính trường quốc tế là được thực hiện bởi Quân đội Hoa Kỳ tại ViệtNam.

Theo ông Võ Văn Ái:
 "Tôi tin rằng nếu miền Nam Việt Nam chỉ cần theo đuổi một chính sách phòng thủ quốc phòng không cần bàn tay viện trợ của Hoa Kỳ, Miền Nam Việt Nam sẽ có thể đàm phán với Bắc Việt . Và cuối cùng là thiết lập một nền hòa bình mong muốn của cả hai bên vào năm 1973 ",

Võ Văn Ái nói thêm rằng " các nỗ lực tranh dành chiến trận hiện nay là chỉ buộc một sự tiếp nối của một chiến tranh bất tận không ngừng . "  Các nhà lãnh đạo Phật giáo kêu gọi chính quyền Sài Gòn Miền Nam Việt Nam phải thả và trao trả tự do 200.000 tù nhân chính trị được cho là đang bị giam giữ bởi chính quyền Sài Gòn trong tình trạng ' nghi ngờ là cộng sản và tình báo Bắc Việt. "
Võ Văn Ái tiếp" tất cả Mọi người đang bị bắt giữ hiện nay vô tội  tùy tiện bởi chính phủ Miền Nam Việt Nam , dưới sự tài trợ và ủng hộ của Hoa Kỳ, và họ bị giam giữ vô thời hạn "

Võ Văn Ái:
“Hầu hết các tù nhân đều là sinh viên và lãnh đạo tôn giáo đã và đang biểu tình đòi hòa bình choViệt Nam ",
Hơn nữa Võ Văn Ái cho biết:
“Làm sao chứng minh chính quyền Sài Gòn đang kêu gọi hòa bình , trong khi họ đang bắt giữ bắt giữ những người hoạt động xuống đường cho hòa bình cả 2 miền Nam Bắc? "
Ông (VVA) cho biết các tù nhân chính trị hiện bị giam giữ bởi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là  những người mạnh mẽ nhất ủng hộ việc tìm kiếm " hòa bình ở một đất nước đang bị chiến tranh tàn phá và  không có gì để đảm bảo luật pháp trong khi ở tù .

Theo Võ Văn Ái: " Những người biểu tình hòa bình hiếm khi được người Mỹ biết đến, qua các thông tin truyền hình cũng như các hoạt động của họ, bởi vì tất cả đều đã được che đậy bởi cả một làn sóng truyền hình Mỹ chuyên nói về chiến tranh, "
Võ Văn Ái được coi là một là người đại diện, phát ngôn nhân cho Phật Giáo Việt Nam.





Thưa Quý vị,
     Trong cuộc chiến quốc/cộng vừa qua, một phần vì CS giỏi tuyên truyền lừa bịp; một phần chế độ Đệ I VNCH của TT Diệm quá độc tài sắt máu, thủ tiêu đối lập, đàn áp tôn giáo quá dã man, v.v... cho nên lòng dân oán ghét, nghe theo tuyên truyền của CS. Do đó, những ai lỡ nghe lời CS chống lại người quốc gia VNCH, nay biết hối tiếc, quay trở lại chống CS ta đều hoan nghinh, kể cả các đảng viên CS, khi xưa VNCH còn có chánh sách chiêu hồi thay ! Và ngay như 2 ông Gorbachev và Boris Yelsin, theo CS đến hơn nữa đời người, giết hại biết bao nhiêu triệu dân lành. Đến khi leo lên tới cực điểm quyền lực CS mới chợt thức tỉnh, bèn dứt khoát từ bỏ CS, làm thay đổi nước Nga như ngày nay.
      Về trường hợp của Gs Võ Văn Ái theo phản chiến cũng vậy. Sau 1975 ông chợt thấy mình sai. Và ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người cũng như lập Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, luôn luôn tố cáo tội ác CS truớc công luận thế giới. Mỗi năm vài 3 lần ông tới Thụy Sĩ, đọc tham luận trước diễn đàn LHQ vạch trần tội ác của CS Hànội, làm cho chế độ CS Hànội mất mặt, căm thù ông. Do đó, chúng không ngần ngại tung NQ36, mua chuộc một số tên bất lương cầm bút, những tên đội lốt chống Cộng hai mang, triệt tiêu ông. Ai vô tình a dua theo bọn người xấu xa nầy chống ông Ái là một sai lầm lớn. Xin hãy bình tâm suy nghĩ lại.
      Trong tình cảm giữa những người quốc gia với nhau, tại sao chúng ta lại đi tiếp tay CS đánh phá ông Ái là "kẻ thù" của CS Hànội và giặc Tàu phù? Và xin hỏi quý vị cứ đánh phá ông Ái đó, có vị nào làm được chỉ một phần nhỏ công việc của ông Ái đã cống hiến cho đất nước sưốt hơn 30 năm qua, để bảo vệ Đạo Pháp, bảo vệ Tổ Quốc trong công cuộc chống Cộng cứu nước nầy hay không ?
      Xin ai đừng vì chút ân oán cá nhân, vì vấn đề phe phái ích kỷ mà vô tình mang tội với người quốc gia.
      Xin cám ơn quý vị. 
             GÓPGIÓ


On Friday, 22 August 2014 11:20 AM, VANG LA <lavang29@gmail.com> wrote:

HoChiMinh
--------o0o--------
Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc
Posted on 03.02.2014 by saohomsaomai

Lời thú tội gây ra cuộc chiến nồi da xáo thịt cho dân tộc, đưa giống nòi, tổ quốc vào con đường nô lệ. Thì bây giờ ai là ngụy, ai là việt gian bán nước?
vietlist.us

Hoàng Thanh Trúc (Chinhluan) - Những ngày tháng cuối năm, theo phong tục tập quán Việt Nam, trong mọi người chúng ta, vì đạo lý tri ân (nhớ ơn) hay dành một phần tâm linh hướng về người thân đã khuất và cho những người vị quốc vong thân.

Mới đây, chắc củng trong chiều hướng ấy, hướng về người vị quốc vong thân nên ngày 18 tháng 1 năm 1974 ông CT/Nước Trương Tấn Sang đã đến xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cắt băng khánh thành một cái đền thờ xây dựng trị giá tới 5 tỷ đồng cho một nhân vật quá cố có tên Lê Duẩn cựu TBT/đảng CSVN (*) mà nói theo người xưa “trâu chết để da, người ta chết để tiếng” ông ta đã để lại cho dân tộc Việt Nam một tiếng nói bất hủ của ông là: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”

Từ câu nói như quân lệnh chỉ đường ấy mà hàng triệu thanh niên hai miền Nam Bắc Việt Nam đã nằm xuống, một nửa chết vì chống lại và một nữa chết vì muốn nhuộm đỏ miền Nam theo lệnh của đảng CSVN và quốc tế CS, Liên xô và Trung Quốc.
vietlist.us

Đền thờ trị giá 5 tỷ cho kẻ tuyên bố: “Ta vào Nam nổ súng là đánh cho Trung Quốc, đánh cho Liên Xô”.

Hình như nhờ xương máu Việt Nam như trải đường đó mà Liên Xô từ CS/XHCN mới tiến lên được dân chủ đa nguyên, đa đảng, như phương Tây hiện nay. Còn Trung Quốc củng nhờ đó mà nới rộng lãnh thổ về phương Nam, đưa Ải Nam Quan vào viện bảo tàng và nhất là nhờ xương máu Việt Nam quét Mỹ đi nên Trung Quốc có điều kiện rảnh tay một mình một cõi “giải phóng” luôn Hoàng Sa và Biển Đông của Việt Nam!

Và chính ông ta (Lê Duẩn) củng có một sáng kiến rất thực dụng, ngoài phân xanh, phân chuồng, phân bắc, thì ông vận dụng sáng tạo thêm một thứ phân nửa là phân “người chết” để sau 30 tháng 4/1975 kết thúc chiến tranh đích thân ông ký giấy chỉ đạo lùa gần nữa triệu sĩ quan công chức chính phủ miền Nam vào rừng sâu núi thẳm “cải tạo” 1/3 số tù nhân đó thành “phân người” vùi xuống đất bón trực tiếp cho xanh cây lá.

Người dân Việt Nam muốn hỏi ngài CT/Nước Trương Tấn Sang rằng: Đó có phải là công lao to lớn “vì tổ quốc Việt Nam” hay không? Mà cái đền thờ của ông Lê Duẩn toàn là gỗ quí hảo hạng, tượng của ông ta đúc bằng đồng nặng tới hàng tấn?

Ngược lại – cũng trong ngày này (18 và 19 tháng 1) tại thủ đô Hà Nội, nhân dân thương tiếc tưởng nhớ 74 đồng bào anh em chiến sĩ miền Nam, đã anh dũng hy sinh vì chống lại quân TQ xâm lược trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974. Nhưng suốt 40 năm “nhà nước, đảng ta” không có lấy một bát hương tưởng niệm thì lại bị CA/AN chìm nổi đàn áp, phá đám, hành hung và khủng bố mà họ không giải thích là tại sao?.

vietlist.us
CA/AN phá đám, ngăn cấm đồng bào tưởng niệm Liệt Sĩ Hoàng Sa.

Chắc chắn trong 180 quốc gia thuộc LHQ không có quốc gia nào (trừ duy nhất CSVN) cấm đoán công dân mình tôn vinh liệt sĩ hy sinh vì chống xâm lược.

Thưa ông CT/Nước Trương Tấn Sang! Chẳng lẽ bắn giết đày đọa đồng bào anh em mình theo lệnh CS Nga và CS Tàu, tạo điều kiện cho Tàu xâm lược là có công với Tổ Quốc. Còn nằm xuống xả thân hy sinh vì biển đảo cương thổ của cha ông lại là những tội đồ?

Chỉ vô tri vô giác như loài tôm, loài sò, thì cứt mới lộn ngược lên đầu như vậy! Thưa ngài CT/Nước.
Hoàng Thanh Trúc
-------oo0oo-------
lacomau
Việt Cộng đối ngoại thì nhu nhược, bán nước,
đối nội thì tàn ác và hà khắc với nhân dân.


SỰ PHÁ SẢN CỦA CÁCH MẠNG VÔ SẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mặc dù « cuộc Cách mạng cộng sản Việt Nam 19/8/1945 » chỉ là một cuộc cuóp quyền, lợi dụng đoàn biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng luong, một số đảng viên cộng sản đã trà trộn vào đoàn biểu tình, lái đoàn biểu tình đến cuóp một vài công sở, đưa đến cướp quyền ; nhưng hậu quả của cuộc cuóp quyền này có thể nói là một cuộc cách mạng, nếu chúng ta định nghĩa cách mạng là một cuộc thay đổi mau lẹ cơ chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội của một quốc gia.

Thật vậy, cuộc chính biến 19/8/1945 đã thay đổi cơ chế chính trị Việt nam, từ quân chủ phong kiến sang độc tà cộng sản đảng trị, giai tầng lãnh đạo truóc đó xuất phát từ ý dịnh cuả vua và triều đình, dựa trên nhưng cuộc thi tuyển học vấn, tới giai tầng lãnh đạo cộng sản, dựa trên sự lựa chọn của Bộ Chính trị đảng cộng sản, trên tiêu chuẩn trung thành với đảng, có kinh nghiệm đấu tranh cách mạng cộng sản, chuyên về lý thuyết cộng sản và hoạt động phá hoại, bất hợp pháp ; từ trật tự xã hội, dựa trên tư tuỏng Khổng giáo Tam Cuong, Ngũ Thuòng, mặc dầu bị đô hộ bởi Pháp, nhưng họ vẫn duy trì trật tự này để cai trị, tới trật tự cộng sản với những con nguòi chỉ tin vào tư tuỏng Mác Lê, lấy đấu tranh giai cấp và bạo động lịch sử làm chính.

Từ ngày 19/8/1945 tới nay, nếu chúng ta tính sổ cuộc Cách mạng cộng sản Việt Nam, thì chúng ta thấy cuộc cách mạng này hoàn toàn phá sản. Phá sản từ lãnh vực ý thức hệ, bắt nguồn từ sự sai lầm của lý thuyết Mác, qua cơ chế chính trị chủ truong độc khuynh, độc đảng, độc tài, tới trật tự xã hội bất công, kinh tế lụn bại, đạo đức suy đồi.

Chúng ta chưa cần đi vào chi tiết, chúng ta chỉ cần nhìn sự sụp đổ của những chế độ cộng sản ở Liên sô, Đông âu, và hiện trạng của 4 nuóc cộng sản còn lại :Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, chúng ta cũng đã biết sự phá sản của tất cả các cuộc cách mạng cộng sản, trong đó có Việt nam.

Việt Nam hiện nay là một trong những nuóc nghèo đói nhất thế giới, với sản lượng hàng năm tính theo đầu nguòi là khoảng 400$, trong khi đó Nam Hàn là 10 000$, Đài Loan là 14 000$, Thái lan là 2 000$. Để theo kịp Thái Lan, mặc dầu với tỷ lệ tăng truỏng 7,5% vào năm 2003, Việt nam phản cần 33 năm ; nói chi đến theo kịp Nam Hàn và Đài Loan.

Tụt hậu kinh tế, đạo đức suy đồi, giáo dục thấp kém nhất trong vùng Đông Nam Á, đĩ điếm, nghiện ngập, sì ke, ma túy, hối lộ, tham nhũng lan tràn, xuất cảng lao động, hiện tuọng của thời trung cổ hay thời nô lệ ; đó là bức tranh của xã hội Việt Nam hiện nay.

Phá sản trên phuong diện ý thức hệ, bắt nguồn từ những sai lầm của lý thuyết Mác
Sự phá sản rồi dưa đến sự sụp đổ của những chế độ cộng sản ở Liên Sô và ở Đông Âu có thể nói là bắt nguồn từ những sự sai lầm lý thuyết của Marx, mà giới trí thức các nuóc phát triển Âu châu như Anh, Pháp, Đức, Áo đã nhìn thấy, chẳng hạn  như Ferdinand Lassalle ( 1825-1864), Edouard Bernstein ( 1850-1932), Karl Popper ( 1902-1994), trong khi đó thì những nguòi như Lénine, Mao, Hồ lại cho rằng đây là thần duọc, không dè nó là độc duọc, tàn phá xứ sở.
Lassalle va Bernstein là 2 nguòi Đức. Lassalle là cùng học với Marx ở Berlin và cùng có Hégel là thầy, cả 3 nguòi cùng đấu tranh trong những phong trào thợ thuyền Âu châu. 

Nhưng sau này 3 nguòi bất đồng ý kiến, vì Lassalle và Berstein thấy những sự sai lầm của Marx, nên đứng ra thành lập Tổng Hội những nguòi Lao Động Đức ( l'Association générale allemande des Travailleurs), tiền thân của đảng Dân chủ Xã Hội Đức hiện nay, mà ông đuong kim thủ tuóng Đức G. Schroder là nguòi kế nghiệäp. Đảng Dân chủ Xã hội Đức họp đầu tien ở Gotha, một vùng của Đức, có thủ phủ là Erfurt, vào tháng 5/1875, đưa ra một Chương trình mà nguòi ta gọi là Chuong trình Gotha va d'Erfurt sau này. Tác giả của Chuong Trình không ai chính là Bernstein. 

Ông này quan sát và nghiên cứu sự phát triển của Đức nhất là vào giữa thế kỷ thứ 19, ông thấy rằng sự phát triển của Đức hoàn toàn đi nguọc lại những lời tiên đoán của Marx. Theo Marx thì xã hội chia ra làm 2 giai cấp, giai cấp tư sản ( les possédants) và giai cấp vô sản (les non-possédants). Hố ngăn cách 2 giai cấp này càng ngày càng xâu và đưa đến cách mạng tất yếu. 

Nhưng xã hội Đức, từ giữa thế kỷ thứ 19 vêé cuối thế ky,û phát tirển rất mạnh và không đúng như lời tiên tri của Marx. Xã hội này không chỉ có 2 giai cấp mà có 3 giai cấp, thêm vào giai cấp trung lưu, trí thức, xuất thân từ con cái những thợ thuyền, tiến thân đuọc là nhờ chịu khó học hỏi và làm việc. Chính giai tầng này là động lực chính của phát triển kinh tế và xã hội Đức thời bấy giời.

 Nuóc Đức lúc đó rất mạnh về đủ mọi phuong dien và đã đánh thắng Pháp vào năm 1870. Bernstein đi đến kết luận rằng lý thuyết của Marx không phù hợp với tến trển xã hội, nên mất tính chất khoa học. Từ đó quan niệm cách mạng tất yếu là hoàn toàn có tính cách lý thuyết và không tuỏng. 

Thêm vào đó quan niệm bãi bỏ quyền tư hữu, như Marx đã viết trong quyển Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản : «  Chúng ta có thể tóm tắt lý thuyết cộng sản qua câu : «  Bãi bỏ quyền tư hữu » «  là hoàn toàn sai lầm vì bãi bỏ quyền tư hữu là bãi bỏ một động lực chính khiến con nguòi làm việc. Hơn thế nữa, quyền tư hữu không thể bãi bỏ mà chỉ có thể chuyển nhuọng, như chúng ta thấy ngày hôm nay, đảng cộng sản bảo bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng trên thực tế đã tuóc đoạt quyền tư hữu của dân và trao vào tay một thiểu số nguòi là đảng đoàn trong Trung Uong. 

Điều nguy hiểm cho xã hội là những nguòi này không biết làm kinh tế, chỉ giỏi về đấu tranh phá hoại, cuóp quyền. Kinh tế cộng sản lụn bại cũng vì đó phần lớn. Bernstein còn thấy sự sai lầm của Marx trong cái nhì về lịch sử, vì Marx cho rằng lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp và bạo động, chủ truong đấu tranh bạo động. Nhưng Bernstein cho rằng nguòi ta có thể đấu tranh hòa bình để cải tiến xã hội như đấu tranh nghiệp đoàn và đấu tranh nghị truòng. Bernstein đã từng là nghị sĩ. Ông còn thấy sự sai lầm của Marx trong quan niệm về vai trò của Nhà Nuóc. 

Theo Marx Nhà Nuóc là công cụ của tư bản, chỉ nhằm phục vụ tư bản. Điều này sai, theo Bernstein, vì ông quan sát xã hội Đức lúc bấy giờ, thì ông thấy Nhà Nuóc không phải lúc nào cũng bênh vực chủ nhân, mà rất nhiều khi bênh vực thợ thuyền. 

Karl Marx và Engels có phản bác lại những luận cứ của Bernstein trong quyển Phê Bình Chuong Trình Gotha và Erfurt ( Critique du Programme de Gotha et d'Erfurt ), nhưng Marx và Engels không chỉ trích vào nội dung vấn đề mà đi vòng vòng ngoài hình thức, và dùng phuong pháp chụp mũ, như trong một bức thư gửi cho một nguòi bạn, Engels đã chụp mũ Lassalee và Bernstein là bồi của tư bản ( valets des capitalistes). 

Ở điểm này, chúng ta thấy nguòi cộng sản hay chụp mũ, cũng không nên ngạc nhiên, vì ông tổ của họ như Marx va Engels, nếu chúng ta đọc, cũng hay chụp mũ.

Karl  Pỏpper (1902-1994) : triết gia, sinh ở Vienne, Áo quốc năm 1902 và mới mất ở Anh năm 1994, đã phải dời Áo khi Hitler lên nắm quyền, từ năm 1937 tới năm 1945, ông dạy triết lý ở Tân Tây Lan, và từ năm 1946 ông dạy luận lý học và phuong pháp khoa học ở truong Kinh Tế Luân Đôn.

 Nguòi ta biết nhiều về ông như một tiết gia khoa học, khi ông xuất bản quyển Sự Hữu Lý của Khám Phá Khoa học ( Logique de la Découverte Scientifique) vào năm 1934. Ông là bạn thân của nhà bác học Albert Einstein và đuọc ông này coi như nhà phê bình khoa học và phuong pháp khoa học giỏi nhất của tûhế kỷ 20. 

Ông còn đuọc coi như là nguòi tranh đấu không ngừng nghỉ và đam mê cho những giá trị tự do, mà nguòi ta tìm thấy rải rác trong tất cả những tác phẩm của ông. Lúc còn nhỏ, ông bị ảnh huỏng bởi chủ thuyết mác xít của Marx và phân tâm học của Freud. Ông có gia nhập đảng cộng sản Áo năm 1920, nhưng trong một cuộc biểu tình tại Vienne năm 1921, những nguòi cộng sản thuộc Đệ Tam Quốc Tế đã hành hung giết 2 nguòi của đảng Xã hội thuộc Đệ Nhị Quốc Tế. 

Truóc cảnh tuọng đó, ông tự đặt câu hỏi : «  Phải chăng nhân danh một lý tuỏng xa vời nào đó mà nguòi ta có quyền giết nguòi ? », câu trả lời của ông là «  Không ». Rồi ông từ bỏ đảng Cộng Sản, ông bắt đầu quay sang nghiên cứ sự sai lầm lý thuyết của Marx. 

Chẳng hạn như trong quyển Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử ( La Pauvreté de l'Historicisme xuất bản năm 1957) ông chỉ trích quan niệm tiến trình lịch sử của Marx đã lấy từ Hégel và xa nữa từ Platon. Quan niệm này theo ông đã làm cho lịch sử trở nên nghèo nàn, và hơn thế nữa là một quan niệm vừa phản khoa học vừa độc đoán, độc tài. 

Thứ nhất ngèo nàn ở chỗ lịch sử biến chuyển theo nhiều chiều, chứ đâu có biến chuyển theo một chiều do một nguòi hay một nhóm nguòi định ra. Độc tài, độc đoán ở chỗ làøkhøoà học lịch sử là khoa học nhân văn, có rất nhiều ảân số, ngay ở trong quá khứ nguòi ta cũng chưa tìm ra hết những ẩn số của lịch sử, huống chi là trong tuong lai, hơn thế nữa biến cố của lịch sử không lập lại nguyên văn ( identique) như khoa học chính xác vật lý, hóa học.

 Đằng này đưa ra một vài sự kiện lịch sử, một vài tiên đoán, rồi từ đó bảo rằng lịch sử tiến triển theo chiều này, theo chiều nọ, rồi bắt nguòi khác phải theo, thì đi đến cảnh hồ đồ, phản khoa học và độc đoán, độc taiø. 

Quyển sách Xã hội mở và Kẻ thù của nó ( La Société ouverte et ses Ennemies) xuất bản năm 1945 đã bênh vực tư tuỏng rằng khoa học và tự do, dân chủ phát triển cùng nhau trong một xã hội cởi mở, tự do.

 Không có tự do, dân chủ thì không có phát triển khoa học, vì trong một xã hội khép kín, độc tài, những tư tuỏng không thể trao đổi với nhau, thì làm sao có phát minh, sáng kiến. K. 

Popper còn chỉ trích Marx trong việc chủ truong phải có một ý thức hệ, vì theo Popper, thì xã hội loài nguòi tiến triển từng giờ, từng phút, trong mọi lãnh vực, nay đóng khung nó trong một ý thức hệ, chẳng khác nào làm chết xã hội đó.

Hơn thế nữa ông còn cho Marx là hồ đồ trong việc đưa ra những định luật lịch sử, đinh luật kinh tế. Theo ông, tất cả những chân lý chỉ là những chân lý uóc đoán ( vérité conjecturale), và những nguòi như Platon, Hégel, Marx cho rằng có định luật lịch sử là sai lầm.

 Lịch sử, kinh tế là khoa học nhân văn, những biến cố lịch sử không lập lại y hệt như khoa học chính xác vật lý, hóa học, thiên văn. Ngay đối với chân lý của những khoa học chính xác, theo Popper, cũng chỉ là những chân lý uóc đoán.. 

Chẳng hạn ngày thứ nhất, thứ 2, thứ 3, tôi thấy mặt trời mọc ở phuong đông, thì ngày thứ tư và trong tuong lai, tôi uóc đoán là mặt trời sẽ mọc ở phuong đông, chứ tôi lấy bằng cớ gì chắc chắn để tôi quả quyết là mặt trời sẽ mọc ở phuong đông. 

Chẳng hạn theo Popper, Marx nói : «  Luật tập trung gia tăng của tư bản » ( Loi de concentration croissante du capital) là sai, vì kinh tế là khoa học nhân văn, những hiện tuọng kinh tế không lập lại giống hệt nhau, nênø phải nói «  Khuynh huóng tập trung gia tăng của tư bản » ( Tendance de concentration croissante du capital). Không thể quyết đoán đưa ra luật như Marx.

Karl R. Popper không phải chỉ là nhà phê bình phuong pháp khoa học, nhà luận lý giỏi nhất của thế kỷ 20, mà ông còn là, theo tôi, một trong những nhà tư tuỏng lớn nhất của thế kỷ qua. Không phải là một sự tình cờ khi Hoàng gia Anh chấp nhận ông vào giai cấp quí tộc, khi hai ông cựu thủ tuóng Đức Helmut Schmidt và Helmut Kohl coi sách ông là sách gối đầu giuòng, và cố thủ tuóng Pháp E. Faure lập ra Hội Những Nuòi Ban của K. Popper để truyền bá tư tuỏng của ông. Chỉ có giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam, bắt đầu bằng Hồ chí Minh, khi đi theo Đệ Tam Quốc Tế vào năm 1920 ơ Đại hội Tours, thì không phân biệt nổi Đệ Tam va Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản, giới lãnh đạo sau này, và phần lớn trí thức cộng sản Việt Nam, ếch ngồi đáy giếng, coi trên đời này chỉ có lý thuyết Mác Lê, « Lý thuyết Mác Lê là bách chiến bách thắng, là khoa học, là con đuòng mà nhân loại phải đi theo ». Tội nghiệp hơn nữa là hoan hô lý thuyết Mác Lê như con vẹt, mà chẳng hiểu gié. Ngày nào mà đất nuóc chúng ta còn giới lãnh đạo đó, còn giới trí thức đó, thì đất nuóc còn tụt hậu, không thể nào theo kịp nguòi.

Phá sản trên cơ cấu tổ chức chính tri chủ truong độc tài vô sản, độc khuynh, độc đảng, độc tài, hồng hơn chuyên

Nhiều nguòi cố bênh vực Marx và lénine, cho rằng độc tài cộng sản chỉ bắt đầu với Staliù. Thực ra không phải như vậy. Nó bắt đầu ngay từ K. Marx với cái nhìn đơn giản hóa mọi việc của ông , cái nhìn tiến trình lịch sử, đơn giản hóa lịch sử, chủ truong đấu tranh giai cấp và bạo động lịch sử, chủ truong độc tài . Mới có 30 tuổi vào năm 1848, khi viết quyên Tuyên Ngôn Thư đảng Cộng Sản, chưa đọc hết lịch sử nhân loại, Marx thản nhiên viết : » 

Lịch sử của mọi xã hội cho tới ngày hôm nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp » ( Le Manifeste du Parti communiste-trang 19-nhà xuất bản Union générale d'Editons-Paris). Đây là một cái nhì quá giản tiện hóa, nếu không muốn nói là hồ đồ. 

Nếu định nghĩa lịch sử là tất cả những hoạt động của con nguòi, nhất là những biến cố lớn, thì không cần nhìn đâu xa, ngay lịch sử Việt Nam, thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau đâu có phải vì khác giai cấp, hơn thế nưã, những cuộc chống ngoại xâm, đánh Tống, đuổi Nguyên, kháng Minh, có liên quan gì tới giai cấp đâu. 

Đấy lại chưa nói trong lịch sử của nhiều nuớc trên thế giới cảnh anh em giành ngôi, cảnh 2 ông lãnh chúa đánh nhau vì cùng giành một mỹ nữ. Họ đâu có khác giai cấp. Hay phải chăng, theo Marx, thì đó không phải là lịch sử ?

Từ cái nhìn đơn giản hóa lịch sử, Marx buóc sang cái nhìn đơn giản hóa xã hội, cho rằng xã hội chia ra thành 2 giai cấp : tư sản ( những nguòi có phuong tiện sản xuất=les possédants) và vô sản ( những nguòi không nắm phuong tiện sản xuất=les non-possédants), chủ truong độc tài vô sản, những nguòi vô sản phải đứng lên làm cách mạng và thiết lập độc tài vô sản, để bãi bỏ quyền tư hữu, bãi bỏ nguyên do đưa đế xã hội phân chia thành giai cấp, và bãi bỏ luôn nhà nuóc vì nhà nuóc cũng từ sự phân chia giai cấp mà có. 

 Oú đây K. Marx dùng chữ nhà nuóc biến mất ( le périssement de l'Etat), vì ông cho rằng khi không còn quyền tư hữu, không còn giai thì không còn nguyên nhân của sự hiện hữu nhà nuóc, thì tất nhiên nhà nuóc sẽ biến mất. Quả thật đây là một cách lý luận hồ đồ, vội vã, hão huyền, sai lầm của  K. Marx. Như ở trên đã nói Marx sai lầm ở chỗ cho rằng quyền tư hữu có thể xóa bỏ, nhưng không. Quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhuọng, tư hữu từ ở tay phần lớn dân, nay một thiểu thiểu số nguòi, nhân danh thợ thuyền lao động, tuóc quyền tư hữu ø của những nhà tư bản, chủ ruộng đất, nhưng cũng còn là số đông, rồi bảo nay thuộc về toàn dân, nhưng trên thực tế là ở trong tay một thiểu số nguòi là cán bộ, đảng đoàn, nhân danh thợ thuyền, nhưng không phải là thợ thuyền, mà chỉ là một đám nguòi tranh đấu cách mạng, lén lút, phá hoại nhà nghề, không biết làm kinh tế, nay lam chủ những hãng xuỏng, thì chỉ phá hoại những hãng xuỏng. Tình trạng phần lớn những hãng xuỏng quốc doanh thua lỗ, tình trạng tụt hậu, phá sản kinh tế của tất cả các nuóc cộng sản là đến từ chỗ đó. Vì quyền tư hữu không thể xóa bỏ, nay lại ở trong tay một thiểu số nguòi, nên nhà nuóc không biến mất và trở nên nhà nuóc độc tài, độc đoán chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Đây là sự ngây thơ, huyễn tuỏng của Marx, mặc dù ông trách những nguòi xã hội chủ nghĩa truóc ông là không tuỏng. Nay ông còn trở thành huyễn tuỏng.

Các chế độ cộng sản trở nên độc tài vì những quan niệm quá khích và những lời nói khích động của K. Marx. Quá khích khi ông chủ truong bãi bỏ mọi giá trị văn hóa cổ truyền, bãi bỏ tôn giáo. Ông viết : «  Bơiû lẽ đó, nguòi cộng sản bãi bỏ những chân lý muôn thuở ; bãi bỏ tôn giáo và đạo đức, thay vì phải cải tiến nó, từ đó nguòi cộng sản đi nguọc lại tất cả những sự phát triển xã hội truóc đó » ( Sách đã dẫn-trang 44). 

Kích động khi ông đưa ra những lời hứa không bằng cứ, không cơ sở thực hiện : «  Nguòi cộng sản không có gì để mất ngoài cái xiềng của họ ; nhưng họ có cả một thế giới để chiến thắng » ( trang 61). Chẳng khác nào như ở Việt Nam, Hồ chí Minh nói : «  Cứ phá đi, sau chiến tranh, chung ta sẽ xây lại đẹp bằng năm, bằng muòi khi xưa ». Gần 30 năm sau chiến tranh, cộng sản chẳng xây đuọc gì , mà còn làm lụn bại thêm. Duói những chế độ cộng sản , đuọc xây dựng lên theo ý thức hệ của Marx, nguòi dân còn bị bóc lột và đau khổ gấp trăm lần duói chế độ cộng sản. Bằng cớ Bắc Hàn cộng sản, toàn dân trong đó co những nguòi thợ đã và đang chết đói, trong khi đó Nam Hàn là cuòng quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới, sản luọng hàng năm tính theo đầu nguòi của Bắc Hàn cùng bằng Việt Nam, khoảng 400 $, trong khi đó của Nam Han là 10 000$. Một nguòi thợ Bắc Hàn tiền luong chỉ bằng 1/25 nguòi thợ Nam Hà
   
Phá sản vì giới lãnh đạo cộng sản đã gọt chân để đi vừa giày, đánh gãy xuong sống của xã hội, làm xã hội cộng sản vừa què quặt, vừa lê lết, không thể đứng dậy duọc.

Đi từ một ý thức hệ phản khoa học, vì Marx cho rằng lịch sử có chiều huóng và có định luật, nhưng lịch sử là khoa học nhân văn, không có chiều huóng và định luật ; phản kinh kinh tế, vì Marx chủ truong bãi bỏ quyền tư hữu, tức bãi bỏ một động lực chính khiến con nguòi làm việc ; phản tiến bộ, quá khích, vì Marx chủ truong bãi bõ mọi di sản văn hóa cũ, trong khi đó ngày nay nguòi ta ý thức rất rõ bãi bỏ văn hóa cũ là thiêu hủy văn hóa, và bảo tồn văn hóa là sáng tạo văn hóa, chủ truong đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử ; phiêu tuong, qua những lời hứa không cơ sở thực hiện, vì sai lầm trong quan niệm cho rằng có thể bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhuọng, quyền tư hữu đang ở trong tay phần lớn dân, nay lọt vào trong một thiểu số đảng đoàn, làm cho nhà nuóc không biến mất như Marx ngây thơ và không tuỏng quan niệm, mà nhà nuóc càng trở lên to lớn, độc đoán, độc tài ; ý thức hệ này đã lọt vào trong tay một số nguòi lấy đấu tranh chính trị, cách mạng bạo động, bất hợp pháp, lén lún, phá hoại, làm nghề nghiệp, bắt đầu bằng Lénine, Trotsky, Staline, rồi tới Mao trạch Đông, Hồ chí Minh và tất cả những nguòi cộng sản, tin vào lý thuyết của Marx ; những nguòi này đã biết lợi dụng thời cơ lên cuóp chính quyền.

 Và một khi họ có chính quyền rồi, thì họ bắt ép xã hội phải đi theo ý thức hệ vừa phản khoa học, phản kinh tế, vừa phản tiến bộ của Marx. Họ lâm vào cảnh đẽo chân để đi vừa giày, qua những đợt «  Đánh Tư bản mại sản », «  Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn », làm cho xã hội trở nên què quặt.

Viết đến đây tôi lại nhớ đená Tuỏng giới Thạch. Vào năm 1923, ông đuọc Tôn dật Tiên gửi sang học ở Nga, theo nguyên tắc, ông phải ở cả năm để học hỏi về cách tổ chức quân đội và xã hội cộng sản của Lénine lúc bấy giờ. Nhưng ông sang không đầy 2 tháng, rồi ông về. Ông nói không có gì để học, nguọc lại ông còn chỉ trích thậm tệ cộng sản. 

Theo ông : «  Giai tầng trí thức và trung lưu là xuong sống của một xã hội, cộng sản chủ truong tiêu diệt trí thức và trung lưu. Một con nguòi không có xuong sống thì suốt đời chỉ bò. Xã hội cộng sản chủ truong diệt trí thức và trung lưu, là một xã hội không xuong sống, chỉ biết bò, không đứng dậy đuọc. » Mặc dầu ông là quân nhân, nhưng ông nhìn sớm và rõ sự tai hại của chủ thuyết cộng sản, trái nguọc lại, những nguòi đại trí thức như Trần độc Tú, Khoa truỏng Đại học Văn khoa Bắc kinh, sáng lập viên đảng cộng sản Trung quốc, vào năm 1921, Lý đại Giao, quản thủ Thư viện Bắc kinh, cũng là đồng sáng lập viên đảng cộng sản, thì cho rằng Liên Sô là lý tuỏng phải theo.

 Tuỏng giới Thạch còn đi xa hơn nữa vào những năm 30, khi phải đuong đầu với Nhật và cộng sản Trung quốc, ông không ngần ngại tuyên bố : «  Nhật là bệnh ngoài da, còn cộng sản là bệnh trong xuong tủy. »

 Câu này làm nhiều nguòi hiểu lầm ông, cho rằng ông không yêu nuóc, không nghĩ đến đánh Nhật, mà chỉ nghĩ đến đánh anh em trong một nhà. Ngày hôm nay nhiều nguòi mới hiểu, đôi khi anh em trong một nhà mà còn độc ác và tàn hại hơn cả nguòi ngoài. 

Đây cũng là bài học xuong máu mà nguòi Việt chúng ta đã trải qua. Nuóc Việt trải qua bao thời đại, bao lần lệ thuộc ngoại bang, nhưng chưa lần nào dân Việt đau khổ như thời «  bị lệ thuộc bởi anh em cùng một nhà cộng sản ». Hai lân bỏ quê ra đi, cả triệu nguòi bỏ xác trên biển cả.

Phá sản trong mục đích «  Dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc ».

Trở về với sự phá sản và tàn hại của cuộc cách mạng cộng sản Việt Nam. Khi cuóp đuọc chính quyền, lập nên nhà nuóc cộng sản, Hồ chí Minh và đảng cộng sản lấy tiêu đề : « Việt Nam Dân chủ cộng hòa, độc lập tự do, hạnh phúc. » Kết quả hơn 50 năm trời ở miền Bắc và 30 năm trời ở miền Nam, chúng ta thấy gì ?

   Độc lập : Nuóc chúng ta chưa bao giờ bị lệ thuộc ngoại bang như duói thời cộng sản hiện nay. Ngày xưa thì lệ thuộc Liên Sô, tự biến mình thành con chốt, thành thằng lính đánh thuê cho dế quốc Nga. Lê Duẫn , tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam nói : «  Chúng tôi đánh là đánh cho Liên Sô . » Trong các nuóc cộng sản chư hầu của Liên Sô, chưa có một nguòi lãnh đạo nào vọng ngoại như hồ chí Minh, đặt tên núi là núi K. Marx, đặt tên suối là suối Lénine ở vùng Bắc Bó, nơi ông ta ở. Giới lãnh đạo cộng sản hiện nay thì hoàn toàn lệ thuộc Trung Cộng, dâng đất nhuọng biẻn cho Trung Cộng.

   Tự do, dân chủ : Chưa bao giờ dân Việt mất tự do và đất nuóc không có dân chủ như thời cộng sản hiện nay. Những vị lãnh tụ tôn giáo chỉ nói lên những tiếng nói của luong tâm, luong tri con nguòi mà cũng bị tù, bị quản thúc. Lê chí Quang chỉ viết bài : «  Hãy cảnh giác Bắc Triều », nói lên mộng bành truóng Trung Cộng. Phạm hồng Sơn chỉ dịch vài « Dân chủ là gì », mà nguòi nào cũng bị cả chục năm tù. Phong trào Dân Chủ Thế giới vừa mới họp vào đầu tháng 2 này ở Nam Phi, quê của ông Nelson Mandela, nguòi đấu tranh chống lại sự kỳ thị chủng tộc, bị tù lâu nhất trên thế giới, ông là sáng lập viên của Phong trào,đã lên tiếng tố cáo Việt Nam là một trong những nuóc thiếu dân chủ, nhân quyền bị chà đạp nhất thế giới, cũng như lên tiếng đòi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hãy trả tự do cho hòa thuọng Huyền Quang và Quảng Độ.

   Hạnh phúc : Nuóc Việt Nam hiện nay là một trong những nuóc nghèo đói và bất công nhất thế giới. Sản luọng hàng năm tính theo đầu nguòi của Việt Nam, theo chủ tịch nhà nuóc Trần đức Luong, khi viếng thăm Pháp vào đầu năm 2003, là 370$, theo Nguyễn đình Bin, thứ truỏng ngoại giao, khi viếng thăm Hoa kỳ vào cuối năm 2003, là 420$, theo báo Le nouvel Observateur-Atlaseco-2003, thì là 397$, đứng vào hàng thứ 186, trong 227 quốc gia, mà phải kể hơn 40 quốc gia quá nhỏ bé như Tòàhanh, Monaco v.v.., và một vài quốc gia nghèo đói Phi Châu. Trong khi đó thì Nam hàn sản luọng tính theo đầu nguòi hàng năm của Nam Hàn là 10 000$, Đài loan là 14 000$.

Chính báo Lao động của cộng sản làm một cuộc nghiên cứu vào cuối năm 2003, thì ở những vùng hẻo lánh như Cao Bằng, Lạng Sơn, cao nguyên miền Trung, vùng hẻo lánh miền Nam, có những nguòi không có đến 36$ một năm để sống. Cũng theo báo này từ 70 đến 80% dân Việt khi bệnh không dám đi bác sĩ, nhất là nhà thuong, vì phải bán cả nhà cửa, để trả tiền chi phí. Trong khi đó thì ở Sài Gòn hay Hà nội các đảng viên cao cấp, con các đảng viên, tiêu tiền vứt qua cửa sổ, một đêm tiêu cả mấy nganø $, đánh những canh bạc cả chục, cả trăm ngàn đô la. Xã hội Việt nam hiện nay là một xã hội bất công nhất trong lịch sử Việt Nam. Lấy đâu mà dân có hạnh phúc ?


   Thế kỷ 20 vừa qua, nhân loại đã trải qua nhiều biến cố đau thuong, đẫm máu, 2 lần đại chiến, môi truòng bị phá hủy, vì khoa học bị dùng sai ; nhưng chưa có biến cố nào đẫm máu và đau thuong bằng những cuộc tàn sát do các chế độ cộng sản gây ra. Các nuóc Đông Âu đã lật qua trang sử đau thuong cộng sản. Dân tộc Việt Nam và một số dân tộc như Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba, hãy cố gắng đấu tranh để lật đổ chếá đô bäạo tàn này. Vì chỉ như vậy mới có tự do, dân chủ, mới có thịnh vuọng, tiến bo, mới có hạnh phúcä.

                                       Paris ngày 22/02/2004

                                     Trực ngôn Chu chi Nam

Chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979


Battlefield Vietnam - Part 01: Dien Bien Phu The Legacy

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)


SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)


SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)


__._,_.___

Posted by: hung vu

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu?


Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt đang ở đâu? 

Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới.
Đào Như
18.08.2014 
OAK PARK, ILLINOIS— 

Sau 38 năm kết thúc cuộc chiến và 18 năm sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, tầm nhìn của hai kẻ cựu thù Việt, Mỹ đôi khi không nhìn chung về một hướng. Mãi đến năm 2011, trong chiều hướng của chủ thuyết “Thế kỷ Châu Á Thái Bình Dương Của Mỹ” của Ngoại trưởng Hillary Clinton, Tổng thống Obama lần đầu tiên nhìn nhận Việt Nam là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ tại Đông Nam Á trong chiến lược Mỹ trở lại Châu Á Thái Bình Dương, nhất là Đông Nam Á.

Sau những biến đổi tồi tệ về tình hình khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông do Trung Quốc tạo nên, đe dọa tác hại đến lợi ích quốc gia của Mỹ tại khu vực này, Tổng thống Obama chủ động mời Chủ tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang qua Washington để thảo luận vào ngày 25/7/2013 về tình hình khu vực Biển Đông với hy vọng nâng cao quan hệ Việt-Mỹ lên tầm đối tác toàn diện.

Theo thông cáo chung sau cuộc gặp lịch sử này, ”Tổng thống Obama và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang quyết định xác lập đối tác toàn diện trong quan hệ Mỹ-Việt.” Mối quan hệ này được thiết lập trên một số cơ chế hợp tác trong nhiều lãnh vực khác nhau, trong đó có quan hệ chính trị-ngoại giao, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, du lịch và thể thao, kinh tế và mậu dịch, an ninh và quốc phòng, nhân quyền…

Phần nhiều những mối quan hệ này - kể cả quan hệ ngoại giao-chính trị - dễ dung hòa, vì cả hai bên Mỹ-Việt đều sẵn sàng quên đi những hệ lụy chiến tranh giữa 2 nước trong quá khứ để cùng nhau hướng đến lợi ích chung. Nhưng vì những khác biệt về điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay, những mối quan hệ về nhân quyền, an ninh-quốc phòng, và kinh tế-thương mại, nhất là vòng đàm phán về vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, vẫn còn nhiều trở ngại và thử thách.

Từ cuộc họp thượng đỉnh Washington hôm 25/7/2013 cho đến nay, hai bên thường xuyên trao đổi về những biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện cũng như tăng cường phối hợp các tiến trình đàm phán TPP. Các viên chức cao cấp của hai bên tiếp tục điện đàm, thường xuyên đi lại giữa Hà Nội và Washington để thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện.

Ngày 14-3-2014, theo đề nghị của phía Hoa Kỳ, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã điện đàm với Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc, đại diện Tổng thống Obama, ông Denis McDonough, nhằm thúc đẩy việc kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ.

 Nội dung của cuộc điện đàm này cũng không có gì mới lạ, không đạt được tính đột phá. Có chăng đó là câu nói có vẻ hứa hẹn một cái gì đó từ phía Hoa Kỳ: “Hiệp hội TPP sẽ dành sự linh hoạt thỏa đáng đối với các thành viên đang phát triển, như Việt Nam…”

 Nhưng Chánh Văn phòng Tòa Bạch Ốc Denis McDonough không nêu rõ ý nghĩa cụ thể của cụm từ “linh hoạt thỏa đáng” là như thế nào? Gồm có những gì? Vòng đàm phán TPP vẫn còn nhiều gai góc, không thỏa mãn được Tòa Bạch Ốc đang thật sự mong muốn vòng đàm phán này sớm chấm dứt trước cuối năm 2014.

Ngày 14/7/2014, ông Evan Medeiros, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Obama, đến Hà Nội với mục đích thúc đẩy Việt Nam về các vấn đề liên quan đến đàm phán TPP và Biển Đông. Điều đáng chú ý là sứ mệnh của ông Medeiros rất bao quát và rộng lớn: kết hợp hai vấn đề to lớn là việc Việt Nam gia nhập TPP và an ninh Biển Đông.

Trước đây Mỹ chỉ đòi Việt Nam muốn được gia nhập TPP phải có tiến bộ về nhân quyền. Bây giờ thì lại kèm theo an ninh BIển Đông. Nghĩa là muốn gia nhập TPP, ngoài điều kiện phải có tiến bộ về nhân quyền, Việt Nam phải phối hợp quân sự với Mỹ để chống trả ý đồ xâm lăng của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặc dầu không nói ra, ai cũng hiểu đó là liên minh quân sự với Mỹ.

 Vì vậy khi đến VN, mục đích chủ yếu của ông Medeiros là gặp Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh. Tướng Vịnh lúc nào cũng “yểm” sẵn “Chính sách Quốc phòng 3 không”, nhất là điều thứ 3: “Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào để chống lại một quốc gia khác”. 

Do đó ông Medeiros đã không đạt được sự hợp tác của Tướng Vịnh như Tòa Bạch Ốc mong muốn.

Tiếp theo đó là chuyến công du Hoa Kỳ của ông Phạm Quang Nghị ngày 21/7/2014, chuyến đi đánh dấu một lần nữa tầm quan trọng trong việc thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Phạm Quang Nghị là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, được xem như là người sẽ kế vị Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tương lai. Mục đích chủ yếu của chuyến công du của ông Nghị là thay đổi quan điểm của dân chúng và Quốc hội Mỹ xưa nay thường cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thiên về Trung Quốc và chống lại Mỹ.
Đây là biểu hiện cho thấy quan hệ Việt-Mỹ đang đi vào một giai đoạn mới và tích cực. Tại Mỹ ông Nghị đã tiếp xúc với các Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman, Phó cố vấn An ninh Quốc gia Tony Blinken, Chủ tịch tạm quyền Thượng viện Patrick Leahy và Thượng Nghị sĩ John McCain. Trong các cuộc tiếp xúc này, ông Phạm Quang Nghị đã thông báo về tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam và khẳng định Đảng và Nhà Nước Việt Nam coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ trong khuôn khổ đối tác toàn diện. Hai bên cũng đề cập đến tình hình dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Hiệu quả của chuyến công du Mỹ của ông Nghị là phần nào làm cho nhân dân và chính phủ Mỹ thấy rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang dần dần rời bỏ Bắc Kinh và hướng về Washington. Nhưng dường như sự xoay chiều này của Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ để thỏa mãn Quốc hội Mỹ.

Ngày 29/7/2014, Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf gửi một bức thư với chữ ký của 32 Dân biểu khác cho Tổng thống Obama mạnh mẽ khuyến cáo Quốc hội Mỹ không cho Việt Nam gia nhập TPP nếu Hà Nội không thay đổi đáng kể về mặt nhân quyền, cải tổ luật pháp phù hợp với luật bảo vệ lao động, và Chính phủ Hà Nội phải theo đuổi thể chế dân chủ pháp quyền.

Cũng nên chú ý, trong tháng 7 vừa rồi Quốc hội Mỹ đã thông qua hai dự luật quan trọng có lẽ cũng nhằm thúc đẩy mối quan hệ Đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Đó là Dự luật cho phép Mỹ hợp tác và giúp đỡ Việt Nam xây nhà máy hạt nhân dân sự tại Việt Nam và Dự luật giải tỏa các lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN

Đầu tháng Tám này, cố vấn cấp cao của Tổng thống Obama, Thượng Nghị sĩ Bob Corker, đã đi thăm Hà Nội và tiếp xúc với các yếu nhân Việt Nam cũng không ngoài mục đích thúc đẩy kiện toàn quan hệ đối tác toàn diện và thúc đẩy tiến trình đàm phán TPP. Trao đổi với ông Bob Corker hôm 5-8, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã “kêu gọi Quốc Hội Mỹ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế, đầu tư thương mại song phương, tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP và ủng hộ một giải pháp ôn hòa cho vấn đề Biển Đông…” Đúng là ông Sang chỉ lập lại những gì ông đã phát biểu trong cuộc gặp với Tổng thống Obama tại Tòa Bach Ốc hồi năm ngoái (ngày 25/7/2013).

Trong một thông báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Bob Corker nói rõ quyết tâm của Chính phủ Mỹ sẽ kết thúc vòng đàm phán TPP trong vòng từ ngày 12 đến ngày 18 tháng tới - nghĩa là thời khoản dành ưu tiên cho Việt Nam gia nhập TPP còn rất ngắn. Phải chăng ông Corker đang chuyển thông điệp của Tòa Bạch Ốc đòi Việt Nam phải gấp rút cải thiện nhân quyền nếu không muốn bỏ mất hoàn toàn cơ hội gia nhập TPP?
Tuy nhiên, một ánh sáng vừa le lói ở cuối đường hầm TPP: Trong chuyến công du Việt Nam mới đây, Thượng Nghị sĩ John McCain đã tuyên bố hôm 8/8/2014 tại Hà Nội rằng “đã đến lúc Washington nên nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, vì Hà Nội đã có tiến bộ về nhân quyền như việc thả một số nhà bất đồng chính kiến và cởi mở hơn trong vấn đề tôn giáo”. Về phần mình Thượng Nghị sĩ Sheldon Whitehouse cho rằng việc nới lỏng sẽ xảy ra từng giai đoạn, nhưng nó có thể tiến nhanh hơn.

Ông McCain cũng hứa hẹn “Mỹ sẽ có tư duy và hành động mới trong quan hệ với Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng kết thúc vòng đàm phán TPP và làm việc với Việt Nam nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn để được Mỹ công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường”. 

Thượng Nghị sĩ McCain nói thêm: ”Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự và tăng các chuyến viếng thăm của tàu chiến đến mức mà Việt Nam cho phép, không phải bằng cách thiết lập căn cứ, điều mà chúng tôi không có ý định, mà bằng các thỏa thuận giữa hai nước…Chúng tôi cũng sẵn sàng hỗ trợ an ninh để giúp Việt Nam cải thiện khả năng nhận thức về lãnh hải và xây dựng năng lực bảo vệ chủ quyền…”(1)

Dĩ nhiên thật là lạc quan cho những ai được nghe những gì Thượng Nghị sĩ John McCain vừa nêu lên tại Hà Nội hôm 8-8-2014 về những ưu tiên mà chính phủ Mỹ dành cho VN trong tiến trình gia nhập TPP và trong việc kiện toàn và phát triển quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng đó mới chỉ là phát biểu của Thượng Nghị sĩ John McCain chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và cũng chưa đem ra đàm phán với phía Việt Nam. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay đã xoay chiều, hướng về Washington, điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẵn sàng quay nòng súng 180 độ để đánh trả Trung Quốc nhằm bảo vệ Biển Đông.

Cho nên vấn đề liên minh quân sự với Mỹ vẫn còn là một mục tiêu khó đạt tới đối với Việt Nam, nhất là khi họ đã quyết tâm bảo vệ “Chính sách Quốc phòng 3 không” của họ. Với chính sách này, Việt Nam đã thành công giải quyết trong hòa bình những xung đột trên Biển Đông. Cụ thể là việc Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của VN sớm hơn 1 tháng trước thời hạn do Trung Quốc ấn định.

Do vậy thật khó lượng định quan hệ đối tác toàn diện giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay đang ở đâu.
GHI CHÚ VỀ NGUỒN

(1)- McCain Nhắc Nhở Việt Nam về Dân Chủ
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

http://www.voatiengviet.com/content/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-o-dau/2417727.html


Người Mỹ muốn gì? Hà Nội dám “thoát Trung” không?

Người Mỹ muốn gì? Hà Nội dám “thoát Trung” không?

Võ Long Triều

(Việt Nam Thời Báo) - Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ 5 ngày của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội từ 21-25/5/2014, giữa lúc quan hệ Việt-Trung xấu nhứt, căng thẳng tột cùng do giàn khoan HD-981 của Trung Quốc hạ đặt trong vùng biển thuộc đặt quyền kinh tế Việt Nam, gây ra nhiều gia chạm giữa các tàu bảo vệ của Trung Quốc và tàu hải giám Việt Nam. 

Ông Phạm Quang Nghị được dư luận xem là người thân tín của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và là nhân vật có khả năng thay thế ông Trọng lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong kỳ đại hội đảng sắp tới. Ông Nghị chỉ là thành viên Bộ chính trị không giữ một trọng trách gì, nhưng được tiếp xúc với nhiều nhân vật cao cấp Mỹ. Do đó có thể hiểu là Bộ chính trị đã gởi một tín hiệu cho chính phủ Hoa Kỳ rằng Việt Nam muốn tiếp cận với Mỹ. Đúng hay sai?
 
Người Mỹ muốn gì?

Thông qua những chuyện xảy ra trong tháng Tám này cho thấy nhận xét đó là đúng, trong bối cảnh hiện tại cả hai quốc gia Mỹ-Việt đều muốn tiếp cận lẫn nhau. Việt Nam đang bị Trung Quốc
áp chế nặng nề mà không tìm ra sự hỗ trợ nào để “Thoát Trung” ngoài Mỹ. Hoa Kỳ đang có mục đích bao vây Trung Quốc để kềm chế sự hung hăng của con hổ Bắc Kinh đang trở thành mối hiểm họa cho Hòa bình thế giới.

Ngày 04/8/2014, Thượng Nghị Sĩ Bob Corker thành viên cao cấp Ủy Ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, sang viếng thăm Việt Nam và bày tỏ quan ngại về diễn biến tình hình ở Biển Đông. Ông Bob corker tuyên bố ủng hộ việc đẩy nhanh sự triển khai các nội dung hợp tác Mỹ-Việt trong khuôn khổ đối tác toàn diện, và ông cũng thông báo Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Tiếp đó ngày 7/8/2014, hai Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Cain thuộc đảng Cộng Hòa và Seldon Whitehouse thuộc đảng Dân Chủ, bất ngờ đến thăm Việt Nam liền sau chuyến đi của Thượng nghị sĩ Bob Corker. Đài VOA thông báo, chiều ngày 8/8/2014 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp phái đoàn Thượng Nghị Sĩ Mỹ tại trụ sở Trung Ương đảng cộng sản VN ở Hà Nội. 

Ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đảng và nhà nước VN coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam, ông ủng hộ việc thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ ở các cấp độ và trên các lĩnh vực phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước”. Ông cũng mong muốn hai bên sẽ có nhiều biện pháp tích cực để triển khai có hiệu quả đối tác toàn diện và thiết thực.

Về phía Hoa Kỳ, trong cuộc họp báo cùng ngày tại Hà Nội, Thượng Nghị sĩ Mc Cain tuyên bố:
- Về phía chúng tôi đã sẵn sàng đáp ứng thách đố này với suy nghĩ và hành động mới.
- Chúng tôi sẵn sàng hoàn tất một Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương ở tiêu chuẩn cao với Việt Nam là một đối tác trọn vẹn.
- Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự giữa chúng ta, và tăng số lần chiến thuyền Hoa Kỳ cập bến Việt Nam theo như Hà Nội cho phép. Không phải để thiết lập căn cứ mà để tăng cường sự tiếp cận.
- Chúng tôi sẵn sàng tăng cường hỗ trợ an ninh nhằm giúp Việt Nam nâng cao khả năng theo dõi trong lãnh vựa hàng hải và năng lực bảo vệ chủ quyền của mình.

Ông Mc Cain nói thêm: “trong mục đích ấy tôi tin Hoa Kỳ sẽ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí sát thương”. Thượng Nghị Sĩ Seldon Whitehouse nói cụ thể hơn là Hoa Kỳ có thể hủy bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam vào tháng Chín năm nay. Ông Mc Cain hứa sẽ bắt đầu làm việc ngay sau khi ông trở về Hoa Kỳ để thực hiện những gì ông đã hứa với Việt Nam. Tuy nhiên ông cũng nhắc lại lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Dân chủ là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nhân loại. Chế độ ở Việt Nam phải làm tốt hơn về dân chủ và đảng cộng sản Việt Nam phải giương cao ngọn cờ dân chủ”.

Ông Mc Cain kết luận: “Tôi hy vọng Việt Nam sẽ chuyển những lời đáng ghi nhận nầy thành những hành động mạnh dạn, chẳng hạn như trả tự do cho các tù nhân lương tâm, thực hiện dân chủ nhân quyền để “làm nền tảng cho Hoa Kỳ và Việt Nam xây dựng một quan hệ đối tác chiến lược bền vững”, dựa trên những giá trị chung mà hai quốc gia có thể có.

Tiếp đó ngày 14/8/2014, Đại Tướng Martin Dempsey – là Chủ tịch hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đầu tiên của Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam trong bốn ngày. Tướng Dempsey tuyên bố tại thành phố Sài Gòn: “Lĩnh vực hàng hải là quan tâm chung và lớn nhứt hiện nay của chúng ta”. Ông nói: “Tôi không yêu cầu Việt Nam chọn làm bạn của Mỹ hay Trung Quốc”. Nhưng ông lại xác định, Mỹ có thể giúp tăng cường năng lực hải quân Việt Nam một khi lệnh cấm vận vũ khí được xóa bỏ. 

Giới chức Mỹ cho rằng chuyến viếng thăm của Đại Tướng Dempsey là một tín hiệu gởi cho khu vực, rằng Mỹ nghiêm túc trong việc tái cân bằng ở Châu Á-Thái Bình Dương.
 
Hà Nội dám “Thoát Trung” không?

Bên cạnh đó cũng ngày 14/8/2014, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Cộng Hòa Czechoslovakia, Tướng Peter Pavel chính thức đến thăm Việt Nam để thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương và phát triển tình hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Căn cứ trên những lời phát biểu của các Thượng Nghị sĩ và của Đại Tướng Demsey thì rõ ràng Mỹ mở rộng con đường hợp tác quân sự với Việt Nam và từ đó Hà Nội sẽ có cơ hội “Thoát Trung”, nếu Bộ chính trị đảng cộng sản dám từ bỏ chính sách đu dây đối với Trung Quốc trong khi quan thầy Bắc Kinh và “đồng chí tốt” chủ trương thôn tính Việt Nam ngày càng hiện rõ. Hình như Bộ chính trị và đảng cộng sản Việt Nam đã chuyển đổi thái độ đối với nước “láng giềng hữu nghị”, người “đồng chí tốt” luôn có dã tâm.

Từ lời phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi tiếp hai Thượng Nghị Sĩ Mỹ, có thể hiểu rằng Việt Nam đã thay đổi chính sách, sẽ nghiêng về phía Mỹ và Tây phương.

Thực tế Việt Nam là quốc gia đang lâm cảnh vô cùng khó khăn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Bắc Kinh lấn áp ngày càng quá đáng, thậm chí có dã tâm xâm chiếm trọn đất nước Việt Nam. Sở dĩ Hà Nội chần chờ không dám phản kháng vì bị vướng mắc công hàm của cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, và sự ký kết ở Hội nghị Thành Đô, quan trọng hơn cả là vì sức mạnh quân sự của cường quốc láng giềng luôn luôn hành động ngang ngược đe dọa cả vùng Đông Nam Á. Vì vậy đã đến lúc Hà Nội phải tìm cách tiếp cận với cường quốc đứng đầu thế giới là Mỹ, để hy vọng thoát khỏi búa rìu của sự bành trướng Hán tộc. Sự tiếp cận với Mỹ cũng hợp với 67% đa số quần chúng Việt Nam theo kết quả một cuộc thăm dò gần đây. Và cũng phù hợp với những toan tính của Hoa Kỳ đang tìm mọi cách siết chặt vòng vây Trung Quốc. Tóm lại cả hai quốc gia đều có nhu cầu quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác quân sự song phương.

Tuy nhiên trên chính trường quốc tế, xưa nay mọi sự hợp tác, mọi thỏa hiệp đồng minh đều dựa vào quyền lợi và nhu cầu giai đoạn. Nếu xét qua lời tuyên bố của Ngoại Trưởng John Kerry thuyết trình về chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ tại East West Center ở Hawai “Một mối quan hệ mang tính xây dựng giữa Mỹ và Trung Quốc là cần thiết để duy trì sự ổn định trong khu vực, bất chấp hành vi của Bắc kinh ỡ biển Đông”, có thể hiểu rằng Hoa Kỳ cần có một mối quan hệ Mỹ - Trung mang tính xây dựng để duy trì hòa bình trong khu vực.

Thẳng thừng mà xét, quan hệ Mỹ-Trung ngày nay không khác gì sự kình chống Hoa Kỳ- Liên Xô ngày trước. Một loại chiến tranh lạnh mà không bên nào dám để cho nó trở thành nóng. Bất chấp hành vi của Bắc Kinh ở biển Đông, dưới mắt cường Quốc Hoa Kỳ thế giới sẽ ổn định miễn sao Trung Quốc bằng lòng hợp tác xây dựng hòa bình duy trì an ninh và cùng nhau hành động cho đôi bên đều có lợi. Gần đúng với ý nghĩ của Tập Cận Bình và Barack Obama thỏa thuận ở Roncho Mirage, California.

Hiện tại cho dù Hà Nội tìm được sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ để tạm thời buộc Trung Quốc phải ngưng lấn chiếm, nhưng nếu Hà Nội cứ một mực khăng khăng thực hiện độc tài độc đảng, đàn áp dân chúng mà không lợi dụng cơ hội tạm thời hòa hoãn, nới rộng dân chủ, thực hiện nhân quyền, bài trừ tham nhũng, thay đổi chính sách đất đai, giải quyết khiếu kiện của dân oan, bằng mọi cách xoa dịu quần chúng, đoàn kết dân tộc..., thì một ngày nào đó nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc tìm được sự thỏa thuận đôi bên đều có lợi, họ sẽ bỏ rơi Hà Nội, như họ đang rút quân đội khỏi Iraq và Afganistan vì nội bộ bất đồng, vì dân chúng Hoa Kỳ chán ghét chiến tranh, cũng như Tổng Thống Nixon thỏa thuận với Mao Trạch Đông, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Trong trường hợp đó Hà nội cũng sẽ lâm vào cảnh bị Trung Quốc lấn áp nặng nề hơn ngày nay, vì cần cho “đồng chí phản bội” một bài học đích đáng.

Võ Long Triều


Đem chuyện cô Xuân trở lại bàn



 

Đem chuyện cô Xuân trở lại bàn

© Trần Hồng Tâm
Tâm sự đời Bác. Tranh Babui.
HCM h
Nghi án Nông Thị Xuân xảy ra cách đây đã 57 năm, nhưng nó vẫn là một bóng ma, im lìm trong bóng tối. Mọi ngả tìm kiếm đều bị chặn, mọi cách nhận thực bị bóp chết. Linh hồn oan khuất của cô Xuân dường như đã tàn phai trong ký ức người đời, trong khi “đạo đức của Bác” vẫn được rao giảng mỗi ngày.
Gần đây tôi được đọc tài liệu phân tích đặc điểm và tính cách của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những tài liệu này là cuốn “Trần Đức Thảo-Những Lời Trăng Trối” của Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê. Tôi giận mình vì những nhận thức trước đây của mình phiến diện quá. Vậy, thử vận dụng những gợi ý của triết gia Trần Đức Thảo để phẫu tích, hy vọng có một góc nhìn khác về nghi án này.
Đây là vụ đại hình sự mà Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có liên quan trực tiếp. Bạn đọc đã biết rõ nội dung nghi án, nhưng để có cái nhìn khái quát về nó, xin nhắc lại những sự kiện chính theo trật tự thời gian.
Trước 1954, khi còn trên chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh nhận cô Nông Thị Xuân làm con nuôi. Đến đầu năm 1955, cô Xuân, 22 tuổi, được đưa về Hà Nội để gần Bác. Cô Xuân cùng nguời em Nông Thị Vàng tạm trú tại căn nhà 66 phố Hàng Bông, dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn.
Mỗi tuần đôi ba lần ông Hoàn đưa cô Xuân vào Phủ Chủ tịch ngủ qua đêm với Bác. Ông Hoàn cũng nhiều lần cưỡng dâm cô Xuân. Cuối năm 1956, cô Xuân sinh con trai. Bác đặt tên con là Nguyễn Tất Trung. Khoảng thời gian này cô Xuân ngỏ lời với Bác là muốn công khai mối quan hệ, và dọn vào Phủ Chủ tịch ở hẳn với Bác như vợ chồng. Bác bảo để Bác hỏi ý kiến Bộ Chính trị.
Vài tháng sau, rạng sáng ngày 12 tháng 2 năm 1957, người ta thấy cô Xuân chết trên đường Cổ Ngư, gần dốc Chèm, ngoại thành Hà Nội, hiện trường là một tai nạn giao thông.
Giám định tử thi được làm tại bệnh viện Việt – Đức, Hà Nội gợi ý: Nạn nhân chết do búa đập vào sọ não, dịch não tủy và nhu mô não đã mất hết. Âm đạo không có tinh trùng, tinh dịch, nạn nhân không có dấu hiệu bị cưỡng dâm. Dạ dày không có thức ăn, không có độc tố. Lục phủ ngũ tạng bình thường. Toàn thân không có dấu hiệu của một tai nạn giao thông.
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra. Đây có thực sự là một tai nạn giao thông không? Không quá khó để trả lời câu hỏi này.
Một phụ nữ trẻ mới sinh con, đang thời kiêng cữ, không phương tiện đi lại, giữa đêm khuya, một mình đi bộ ra vùng ngoại thành xa vắng là rất khó để thuyết phục dư luận về địa điểm và hoàn cảnh xảy ra tai nạn.
Hơn nữa, nếu là tai nạn giao thông, thủ phạm cán chết người rồi lái xe trốn thoát, vết bánh xe còn in lại ở hiện trường. Đây là trọng án. Tại sao không công khai điều tra đến nơi đến chốn? Tại sao phải dấu đút, lén lút, khuất tất, dìm thông tin vào trong bóng tối?
Hơn 20 năm sau, thân nhân của cô Xuân dấn thân đi tìm công lý, vẫn tiếp tục bị ém. Cùng với những gợi ý của pháp y, chúng ta tin rằng đây là một một tai nạn giao thông dàn dựng.
Vậy thủ phạm là ai?
Cho đến nay, dư luận hướng tới ba giả thuyết.
1. Trần Quốc Hoàn bí mật thủ tiêu cô Xuân để bịt đầu mối hiếp dâm. Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không biết.
2. Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân có sự đồng ý của Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị.
3. Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Chính trị không biết.
Giả thuyết thứ nhất được nhiều người ủng hộ hơn cả. Song những bằng chứng để bảo vệ giả thuyết này thì rất yếu.
Vào thời điểm 1957, Hồ Chí Minh đang ở đỉnh cao của quyền bính. Các Ủy viên Bộ Chính trị đều rất sợ ông. Trần Quốc Hoàn lúc đó ở cuối trong bậc thang quyền lực, càng sợ Hồ Chí Minh hơn ai hết. Hoàn không dám lộng hành đến mức cưỡng dâm vợ chưa cưới của Hồ Chí Minh và càng không thể một mình tự ý thủ tiêu cô. Vì những hành vi trên là đồng nghĩa với vuốt mặt không nể mũi, sỉ nhục Hồ Chí Minh, nếu không nói đó mầm mống của phản loạn, phản bội, hay khiêu binh. Sớm muộn gì Bộ Chính trị và Hồ Chí Minh cũng biết.
Những năm sau đó, Hồ Chí Minh không những không quan tâm mà còn trục xuất đứa con trai sơ sinh Nguyễn Tất Trung ra khỏi Hà Nội.
Như vậy Hồ Chí Minh có ý định xóa bỏ mọi dấu vết của mối quan hệ lạm dụng tình dục núp duới danh nghĩa con nuôi. Không có chuyện Hoàn hành động độc lập.
Giả thuyết thứ hai: Hồ Chí Minh có mang chuyện cô Xuân để hỏi Bộ Chính trị không?
Ở vào thời điểm 1957, một đảng viên bình thường mà có quan hệ tình dục trước hôn nhân có thể bị kỷ luật nặng đến mức khai trừ ra khỏi đảng. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều luật, không dại gì ông mang chuyện này ra trước tập thể.
Hồ Chí Minh không bao giờ muốn lấy cô Xuân làm vợ. Nếu ông muốn thì ông đã có kế hoạch từ khi cô Xuân có thai ở những tháng đầu. Cách ông trả lời cô Xuân để “xin ý kiến Bộ Chính trị” chỉ là kế hoãn binh, hay nói trắng ra là một sự sự quanh co, một lời từ chối.
Bộ Chính trị cũng không muốn Hồ Chí Minh lấy vợ. Bởi vì, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ là tất cả những gì mà Đảng và Bác cùng đầu tư để dựng lên những “huyền thoại” có nguy cơ mất cả vốn lẫn lời.
Trần Đức Thảo gợi ý. Vì không được học hành bài bản như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, hay Trường Chinh, nên Hồ Chí Minh đã dựng lên ngọn cờ “Giản dị”, “Đạo đức”, dùng ngọn cờ này như một thứ vũ khí hạ gục mọi đấu thủ, chỉ có Trường Chinh sống sót, Nếu mang vụ cô Xuân ra Bộ Chính trị, thì huyền thoại “Giản dị ” và “Đạo đức”của ông bỗng chốc tan thành mây khói. Đó là điều không bao giờ ông muốn.
Thêm nữa, Hồ Chí Minh nhiều tuổi hơn cô Xuân, hơn đến trên 40 tuổi. Điều này rất khó chấp nhận trong một xã hội bảo thủ miền Bắc ở thời điểm đó. Ông đủ thông minh để tránh, không trở thành tấn trò cười cho thiên hạ.
Tóm lại, giả thuyết Hồ Chí Minh mang chuyện lấy cô Xuân làm vợ ra bàn thảo ở Bộ Chính trị là không thuyết phục.
Vậy câu hỏi tiếp theo sẽ là: Hồ Chí Minh có xin ý kiến Bộ Chính trị để thủ tiêu cô Xuân không?
Hồ Chí Minh thừa thông minh để ý thức rằng nếu ông đồng ý thủ tiêu cô Xuân nghĩa là ông đang tham gia vào một tội phạm mà ông là chủ mưu. Càng ít người biết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nếu mang ra bàn bạc trong Bộ Chính trị, lỡ có một hay vài ủy viên không đồng ý, thì có khác gì vạch áo cho người xem lưng. Bởi vì, nếu Bộ Chính trị biết thì Ban Chấp hành Trung ương sẽ biết. Từ đó có nguy cơ lan rộng ra toàn Đảng và toàn dân.
Như vậy, chỉ còn lại giải thuyết thứ ba: Hồ Chí Minh đồng ý cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cô Xuân, vừa giữ được thanh danh, lại vừa trút bỏ được của nợ, một gánh nặng mà ông chẳng tha thiết gì với nó nữa, vừa tiện lợi vừa kín đáo.
HCM
Trần Đức Thảo nhận xét rằng: Cu Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, muôn mặt với trăm phương, ngàn kế, mưu trí, sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, không cần tình bạn, tình yêu, gia đình hay con cái, khi nào cũng hun đúc một cuồng vọng là phải leo lên đến tột đỉnh của quyền lực.
Hồ Chí Minh không chấp nhận bất cứ một thứ gì cản trở ông nắm giữ quyền lực tối cao, mà thứ đó lại là đàn bà thì càng không thể.
Chỉ cần ở ông một cái gật đầu, thâm chí im lặng bộc lộ sự đồng ý, thì mọi việc sẽ êm thắm. Ông không phải vung tay nện búa vào đầu người đàn bà mà ông từng ăn nằm. Ông không phải nghe những lời van xin, lạy lục của cô con nuôi trong phút lâm chung. Ông không phải tận mắt nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng, máu lênh láng, dịch não tủy và óc vọt ra sau mỗi nhát búa. Ông không phải đối diện với cảnh cô Xuân vùng vẫy, giãy giụa bản năng trong cơn hấp hối. Ông cũng không phải vất vả, vác thi thể nạn nhân lên xe, lần mò trong đêm tối, tìm một hiện trường để ngụy trang.
Danh dự và danh vọng của ông vẫn nguyên vẹn, tiện lợi vô cùng, kết quả thì vô tận. Đó là cách mà Hô Chí Minh thường lựa chọn.
Triết gia Trần Đức Thảo sau nhiều năm quan sát, nghiền ngẫm đã nhận xét: Cụ Hồ quyết tâm nắm bắt mọi cơ hội để đạt tới đỉnh cao, để củng cố quyền lực, bằng mọi giá, dùng mọi phương tiện, không trừ, không tránh một thứ gì, bất chấp mọi chuẩn mực về lương tri, lương thiện, về đạo lý, hay pháp lý, miễn là đạt được ý đồ.
Trong đầu Hồ Chí Minh đầy ắp những tham vọng, cuồng vọng về quyền lực tối cao, là bề trên, là đấng thiêng liêng, là huyền thoại, là thần thoại. Ông là mẫu mực, là hiện thân của mọi giá trị tuyệt đối, tuyệt đối trong sáng, tuyệt đối giản dị, tuyệt đối cao thượng, tuyệt đối thanh bạch, tuyệt đối sáng suốt, tuyệt đối đúng đắn, tuyệt đối chí thánh… Chí Minh…Để những người xung quanh tuyệt đối kính nể, sợ hãi, tụng ca, tuân lệnh, sùng bái, tung hô.
Để củng cố những giá trị tuyệt đối này thì việc thủ tiêu cô Xuân là chuyện dễ hiểu. Ông không thể là người bình thường, không thể tầm thường, và càng không thể có những cám dỗ dục vọng thấp hèn. Ông phải ở tầm tuyệt đối cao thượng, nhân ái hơn cả Đấng Bồ tát, nhân bản hơn cả Chúa Giê-su, tâm hồn ông cao muôn trượng, quyền năng của ông ở muôn nơi, nhân loại chỉ là “loài dơi hốt hoảng, đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người”. Như vậy ông mới thỏa lòng, thỏa chí.
Ngoài cô Xuân còn hai nạn nhân nữa là Nông Thị Vàng, em gái, và Nguyễn Tất Trung, con trai sơ sinh của cô Xuân.
Cô Vàng ở cùng căn nhà 66 Hàng Bông, chứng kiến những gì đã xảy ra. Vàng còn quá trẻ, người dân tộc thiểu số, lớn lên ở vùng núi Cao Bằng, lại phải đối diện với một thảm kịch bất ngờ, bị bủa vây bởi những trùm mật thám lành nghề, máu lạnh. Vài tháng sau ngày cô Xuân chết, người ta cũng tìm thấy xác Vàng nổi lên ở cầu Hoàng Bồ, sông Bằng Giang, và cũng bị đập vỡ sọ như người chị xấu số của mình.
Còn Nguyễn Tất Trung mới vài tháng tuổi đã bắt đầu lưu lạc cho đến khi Hồ Chí Minh qua đời vào tháng 9 năm 1969, Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác, đón Trung về Hà Nội. Trung lập gia đình với cô Lưu Thị Duyên vào năm 1988. Hai người có một con trai sinh năm 1992, đặt tên là Vũ Thanh, lấy họ của ông Vũ Kỳ, nhưng sau thì đổi là Nguyễn Thanh Trung.
Nếu giả thuyết trên đây là đúng và nếu Việt Nam là một quốc gia pháp quyền, thì Hồ Chí Minh phải đối mặt với ít nhất bốn tội danh: Dùng quyền lực để sách nhiễu tình dục; giết chết hai người có chủ ý; vô trách nhiệm với con.
Còn muôn vàn những câu hỏi xung quanh nghi án này.
Cô Xuân sinh Nguyễn Tất Trung ở đâu? Nhà hộ sinh hay ở bệnh viện? Ai là người đỡ đẻ cho cô Xuân? Thi thể cô Xuân mai táng ở đâu? Ai là người chôn cất cô? v.v
Tại sao ông Vũ Kỳ lại đưa Nguyễn Tất Trung về Hà Nội sau khi Hồ Chí Minh qua đời? Vũ Kỳ có liêm sỉ, ông hiểu rằng lịch sử sẽ phán xét rất nghiêm khắc. Lẽ nào, ông lại im lặng? Bởi, im lặng trước tội phạm sẽ trở thành tòng phạm.
Thực ra, sự kham khổ, chịu đựng, chay tịnh, thanh bạch, giản dị như một đấng chân tu của Hồ Chí Minh chỉ là những huyền thoại được thêu dệt, đánh bóng, sơn son thếp vàng khá công phu. Những tài liệu gần đây hé lộ, Bác có một đời sống tình dục rất phóng túng ngay khi còn ở chiến khu, nói gì đến việc đã dọn vào Phủ Toàn quyền ở Hà Nội. Vậy, sau cô Xuân, Hồ Chí Minh còn quan hệ tình dục với bao nhiêu phụ nữ nữa, họ là ai và số phận của họ ra sao vẫn là những ẩn số của lịch sử.
Tại sao Nguyễn Tất Trung lại không âm thầm đi tìm mộ mẹ để hương khói hay giỗ chạp, để an ủi cầu siêu cho linh hồn người mẹ và người dì bạc phận, hay thăm lại gia đình ông bà ngoại trên Cao Bằng? Đó là chưa nói đến việc dấn thân đi tìm công lý cho mẹ cho dì, và đòi lại căn cước cho chính mình.
Cả hai dòng họ Nguyễn Sinh và dòng họ Hồ ở Nghệ An đang túa ra bốn phương tìm kiếm, kêu gọi những người con đã làm rạng danh cho tổ tiên. Vậy, Nguyễn Tất Trung, và Nguyễn Thanh Trung (Vũ Thanh) có được nhìn nhận là những người con trai của dòng họ này không?
Muôn vàn những nghi vấn, và muôn vàn giả thuyết, chập chờn như những hồn ma của cô Xuân cô Vàng khi ẩn khi hiện, khi ở miền rừng núi Cao Bằng, khi giữa phố phường Hà Nội.
Đêm đã khuya. Tôi không thể viết tiếp, mà cũng không thể ngủ, thao thức miên man nghĩ suy về nhân tình thế thái, về bể khổ trầm luân, về thời cuộc, về thân phận, về kiếp người, về lòng trắc ẩn, về tình bạn, tình yêu, về nỗi xót xa của một đời người.
Xót xa cho cô Xuân cô Vàng, cho cả chúng tôi đã dành trọn tuổi thơ để học, và ngợi ca lòng yêu thương tha nhân của Bác. Chúng tôi đã đọc, đã viết, đã nghe và đã kể cho nhau nghe bao nhiêu những câu chuyện hấp dẫn và đẹp như huyền thoại về đời hoạt động của Bác. Song có một chuyện chúng tôi chẳng bao giờ được biết: Nỗi đắng cay và tủi nhục của cô Xuân cô Vàng.
Tháng 8 năm 2014
© Trần Hồng Tâm


__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link