Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Tuesday, July 29, 2014

61 đảng viên đòi đảng CSVN phải dân chủ hóa


To 
Today at 1:20 PM

chuyện cười Đỉnh Cao Trí Tuệ



61 đảng viên đòi đảng CSVN phải dân chủ hóa

Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN
Ngày 28 tháng 07 năm 2014 

THƯ NGỎ 
Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 
Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.
Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.
Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị. 
Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:
1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. 

Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.
Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước. 
Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!
- - -

DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 
1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1991, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.
 

Những vùng không gian

Nguyễn Thị Từ Huy

2014-07-22 - RFA
000_Hkg9599946-305.jpg
Ảnh minh họa chụp từ cửa sổ một máy bay cánh quạt đang bay trên vùng trời Việt Nam hôm 14/3/2014.
AFP

Hành trình ở đâu giữa đi và đến?

Vậy là lên máy bay.
Vậy là máy bay đã lao vào trong mây.
Một chuyến bay đêm như muôn vàn chuyến bay đêm khác.
Bỏ lại đằng sau cả một đất nước đang trong những ngày đau khổ.
Không. “Bỏ lại đằng sau” thì không đúng. Đất nước này vẫn luôn ở phía trước tôi. Vẫn luôn là tiếng gọi. Giờ đây nó là tiếng gọi nhuốm màu đau thương mà tôi có thể cảm thấy trong ánh mắt của rất nhiều người, trong câu chuyện của rất nhiều người.
Bỏ nó lại đằng sau, mà cũng có thể là đang bay về phía nó. Hành trình này ở đâu giữa đi và đến?
Ngày mai máy bay sẽ hạ cánh xuống một xứ sở tự do và độc lập.
Bao giờ những chữ này: “tự do” và “độc lập”, có được ý nghĩa đích thực, mang một nội dung đích thực, cho toàn bộ dân tộc chúng tôi?
Một vài người bạn nói rằng như vậy là tôi đã thoát. Thoát đi ư? Đúng không? Phải chăng cứ ra khỏi một vùng không gian là có thể thoát khỏi nó? Hãy hỏi những người Việt tha hương để biết cái khoảng không gian được gọi là Việt Nam đã và đang ám ảnh họ như thế nào?
Ra khỏi một không gian có khi lại là để bị buộc chặt hơn nữa vào đó, bởi một sợi dây vô hình mà chẳng có công cụ nào cắt đứt nổi.

"Viết" đồng nghĩa với sự thay đổi?

000_Hkg10078429-250.jpg
Ảnh minh họa chụp tại Malaysia tháng 7 năm 2014. AFP PHOTO.
Sau một giấc ngủ dài trên mây (trong máy bay, mà máy bay thì ở trong mây, nếu muốn nói theo kiểu hiện thực chủ nghĩa), tôi tỉnh dậy, và đầu óc đột nhiên được khai quang. Tôi bắt đầu viết những dòng này.
Viết, đó là một việc mà từ mấy tháng nay tôi không làm. Không phải vì tôi không muốn làm mà vì tôi không làm nổi. Và lúc này đây, tỉnh dậy trong máy bay, giữa mây, tôi tìm giấy và bút và viết.
Viết có giống như những chuyến bay? Có lúc cất cánh, có lúc bay đều đều và có lúc hạ cánh? Di chuyển từ không gian này sang không gian khác, nghĩa là: viết đồng nghĩa với sự thay đổi?
Tỉnh giấc lần nữa, thấy mình vẫn còn ở trong máy bay, tôi tự hỏi: “Chúng ta có tỉnh dậy nổi không? Chúng ta có trỗi dậy nổi không? Chúng ta còn có khả năng quật khởi như cha ông mình không?”
Chữ “chúng ta” ở đây được dùng để chỉ phần lớn người Việt Nam đang ở trong tình trạng gần như bất động, thiếu những phản ứng cần thiết và hiệu quả trước thảm trạng của đất nước,và thảm trạng của chính mình. Trong chữ “chúng tôi” này có cả tôi, dĩ nhiên.
Một số người rất ít đã và đang trỗi dậy, và họ đã phải trả giá đắt cho sự quật cường của họ.
Bao giờ thì số ít đó nhận được sự hưởng ứng của số đông đang gần như bất động này? Bao giờ chúng ta tìm lại được sức mạnh quật khởi của cha ông?
Những câu hỏi vắt qua hai vùng không gian diệu vợi. Đôi khi những câu hỏi trở thành phương tiện để kết nối các khoảng cách. Và để cho những câu hỏi có thể gắn kết các khoảng cách thì cũng cần có một không gian cho chúng, phải không nhỉ? Tôi đã nghĩ tới không gian blog, là một dạng không gian xuyên không gian, nơi tồn tại lý tưởng cho các câu hỏi trên hành trình tìm kiếm câu trả lời của chúng.
Rất nhiều những câu hỏi có thể đặt ra:
“Làm thế nào để chúng ta bảo vệ được không gian của mình, với tất cả những gì làm nên giá trị đặc thù và riêng biệt của chúng ta, đồng thời vẫn là một phần hòa hợp với không gian chung là nơi tồn tại của mọi dân tộc trên trái đất này và mọi hành tinh trong vũ trụ này?”
“Làm thế nào để chúng ta lấy lại được sức mạnh đã mất?” Nhưng trước đó có lẽ phải hỏi: “Cái gì đã khiến chúng ta đánh mất sức mạnh của mình?” Và tiếp theo thì phải hỏi: “Làm thế nào để chúng ta có thể tạo ra những sức mạnh mới?”…
Một blog liệu có đủ chỗ cho các câu hỏi giày vò ta, và liệu có đủ không gian cho những câu trả lời khả dĩ?
Nguyễn Thị Từ Huy
Tháng 7 năm 2014
Khoảng giữa Hà Nội và Paris.


Cầu nguyện cho Anh Ba Sàm

VRNs

 

Thánh Lễ Công lý – Hòa bình tại nhà thờ Thái Hà: Cầu nguyện cho Blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm)
(28.07.2014) – Như thường lệ vào Chúa Nhật cuối tháng tại nhà thờ giáo xứ Thái Hà diễn ra Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý – Hòa bình vào lúc 20g.
Hôm nay, ngày 27/7 thánh lễ đặc biệt có sự góp mặt của những người rất quen thuộc như: vợ blogger Nguyễn Hữu Vinh, nhà giáo Phạm Toàn, TS. Chu Hảo, nghệ sĩ Kim Chi, nhà văn Thùy Linh, TS. Ngô Đức Thọ, luật sư Hà Huy Sơn… cùng với anh chị em tham gia phong trào đấu tranh cho những quyền cơ bản của con người. Và hàng ngàn giáo dân đã tham dự Thánh Lễ này.
Ngay đầu vào thánh lễ cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong có đôi lời chia sẻ với cộng đoàn về buổi lễ cầu nguyện đặc biệt hôm nay. Sau lời giới thiệu về những người tham dự buổi lễ là các ý cầu nguyện: Cầu cho các quyền cơ bản của con người sớm được tôn trong, đặc biệt quyền tự do ngôn luận. Cầu cho các tù nhân lương tâm sớm được trả tự do, và cũng nhân ngày hôm nay 27/7 là ngày tưởng nhớ đến các thương binh liệt sĩ dù họ thuộc phe phái nào họ cũng xứng đáng được ghi nhớ vì lý tưởng và ý chí thời đó.
   
Trong bài giảng sau đó, cha Gioan Nam Phong cũng chia sẻ:
Chủ đề của buổi cầu nguyện hôm nay là cầu nguyện cho nhà cầm quyền Hà Nội tôn trọng các quyền mà Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, đã ban cho con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận; cách riêng chúng ta cầu nguyện cho Blogger Basam Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự của ông, những nạn nhân mới nhất của nhà cầm quyền Hà Nội. Ông bị bắt một cách oan ức vì đã mạnh mẽ lên tiếng bảo vệ các quyền con người, cách riêng lên tiếng bảo vệ biển dảo quê hương trước nguy cơ bị xâm lược bởi người láng giềng xấu tính Bắc Kinh.

Thật là trùng hợp, khi ngày chúng ta cầu nguyện cho công lý và hòa bình, cho tự do ngôn luận đang tiếp tục bị vi phạm nghiêm trọng tại Việt Nam, chúng ta được phụng vụ kể lại cho nghe câu chuyện về Vua Salomon.

Chúng ta biết, trong Thánh Kinh, linh đạo lắng nghe là một linh đạo vừa cũ vừa luôn mới mẻ. Con người phải biết nghe theo Thượng đế, nghe tiếng nói của Người trong tạo thành, trong các trật tự của tự nhiên, đặc biệt là nghe theo tiếng lòng của dân chúng. Người lãnh đạo phải biết nghe dân và yêu dân, nhờ đó họ mới trở thành người lãnh đạo tốt.
Cha Gioan cũng nhấn mạnh rằng: Chúng ta biết, để có thể lắng nghe điều quan trọng phải biết tôn trọng người khác. Nói cách khác, việc lắng nghe đòi người lãnh đạo phải tôn trọng các quyền cơ bản của người dân trong đó có quyền tự do ngôn luận. Có thể nói, một quốc gia hùng mạnh, phát triển là một quốc gia trong đó các quyền của con người được bảo đảm và người dân được tự do bày tỏ những quyền cơ bản ấy trong trật tự công ích và trong những bó buộc của luật tự nhiên.

Đối với Giáo hội Công giáo chúng ta, bảo vệ các quyền con người là một bổn phận và trách nhiệm quan trọng, đến độ:
“Những hành động cố ý vi phạm nhân quyền và các nguyên tắc phổ quát của nhân quyền, cũng như các lệnh truyền thi hành các hành động ấy, đều là tội ác. Chấp hành mệnh lệnh cách mù quáng không đủ để bào chữa cho những ai tuân hành các lệnh đó. Do đó, việc tiêu diệt một dân tộc, một quốc gia hoặc một nhóm thiểu số phải bị kết án như một tội trọng. Luân lý đòi chúng ta phải chống lại các mệnh lệnh diệt chủng” (Số 2313, Sách Giáo lý Công giáo).

Trong Thông Điệp Hòa Bình trên Trái đất, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, kể ra tất cả những quyền cơ bản mà Thượng đế hay Tạo hóa ban cho con người, cũng là những quyền được nhắc tới trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc Ban hành năm 1948, trong đó, ngài viết: “Ai cũng có quyền được người khác tôn trọng nhân phẩm, thanh danh, quyền được tự do đi tìm chân lý, và trong phạm vi trật tự luân lý và công ích cho phép, được tự do phát biểu ý kiến, phổ biến tư tưởng, theo đuổi bất cứ nghệ thuật nào, và sau hết, được quyền theo dõi tin tức một cách khách quan” (số 3)
Đặc biệt trong bài giảng Cha chia sẻ: Trong một khoảng thời gian hết sức eo hẹp của ngày lễ hôm nay, chúng ta không thể nói hết được mọi khía cạnh phong phú, thiêng liêng của “các quyền mà Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa ban cho con người” Chúng tôi chỉ xin gợi lại ở đây một chút nào đó lời dạy của Giáo hội về trách nhiệm và bổn phận của mỗi chúng ta “phải dấn thân và lên tiếng bảo vệ các quyền của con người”, trong đó có các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận; đặc biệt, trách nhiệm của mỗi giáo dân chúng ta trong việc bảo vệ những người vì bảo vệ các quyền của con người mà bị bắt giam cách trái pháp luật như anh Basam Nguyễn Hữu Vinh và rất nhiều các tù nhân lương tâm khác.
Ngày hôm nay, chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, như Salomon, biết lắng nghe dân để lãnh đạo dân và biết phân biệt phải trái, để cùng người dân phụng sự tổ quốc và dân tộc. Chúng ta cầu nguyện cho họ, hãy từ bỏ con đường sai lầm đầy sự hoang tưởng của chủ nghĩa cộng sản, để quay về với nhân dân với tổ quốc với đồng bào.
Ngày hôm nay chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho các liệt sĩ, các thương binh, những người đã vì lý tưởng và tự do, dù họ thuộc phe phái nào, đã ngã xuống với ước vọng bảo vệ tổ quốc; đặc biệt các liệt sĩ đã hy sinh tại Hoàng sa và Trường sa, các người mẹ già mất con đang sống cô quạnh những năm tháng cuối đời, xin cho tất cả được an ủi.
Thiết nghĩ, muốn thoát Trung, thoát Cộng, thì căn bản và quan trọng nhất là “thoát Tôi” để đi tới cái “Chúng ta” trong Chân lý.
Thánh lễ kết thúc với phần thắp nến cầu nguyện dâng lên những lời nguyện cầu với Đức Mẹ Maria của tất cả mọi người.

  
Pv. VRNs tại Hà Nội


“Tự Do Tôn Giáo”: Nhà nước Việt Nam Vi Phạm Cả Chính Sách Lẫn Luật Pháp
Lực lượng CA đàn áp đánh đập, bắt tất cả thành viên Giáo
Hội Tin Lành Mennonite như tội phạm, Bình Dương
đêm 9-6-2014. Ảnh RFA

Nhà cầm quyền luôn luôn nói ở Việt Nam có tự do tôn giáo. Họ nói với Liên hiệp quốc và các phái bộ ngoại giao của các nước rằng Nhà nước Việt Nam có chính sách và luật pháp nhất quán về tự do tôn giáo.

Một quan chức ngoại giao Hoa Kỳ đã nói với tôi khi tiếp xúc tại Washington DC: Chính phủ Việt Nam nói những sự việc căng thẳng được cho là vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam thường là do tranh chấp đất đai hoặc cấp dưới đã tùy tiện làm sai pháp luật, không thực hiện đúng chính sách. Chuyện đất đai là chuyện phức tạp ở Việt Nam không thể giải quyết một sớm một chiều, còn chuyện cán bộ thì cũng có người này người kia.

Đó là quả quyết của nhà cầm quyền. Gần đây, các phái bộ ngoại giao đã tiếp cận được nhiều hơn với những nhân chứng về vi phạm tự do tôn giáo, nên họ đã không còn ghi nhận cách trả lời như trên là xác đáng.

Đọc luật pháp Việt Nam, người ta không tìm thấy quyền tự do tôn giáo của người dân được bảo vệ, mà chỉ thấy pháp luật là công cụ để nhà cầm quyền sử dụng để hạn chế tối đa quyền tự do tôn giáo của người dân đến mức đàn áp tôn giáo ở một số nơi.

“Tự do tôn giáo” bị luật pháp vi phạm như thế nào?

Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội (QH) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua sáng 28.11.2013. Tại điều 24:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật“.

Hiến pháp (HP) công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng pháp luật về tôn giáo [Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92] lại vi phạm quyền tự do hiến định này, và buộc mọi công dân, các tổ chức tôn giáo phải thực hiện theo các quy định pháp luật. Lưu ý, các văn bản pháp luật này cũng do chính Quốc hội và Chính phủ Việt Nam ban hành, nên có ràng buộc thi hành.

Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, QH ban hành ngày 18.06.2004 (Pháp lệnh), có hiệu lực ngày 15.11.2014; Nghị định 92, quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, ban hành ngày 08.11. 2012 (nghị định) là những công cụ hạn chế tự do tôn giáo. Pháp lệnh này, sau khi nhắc lại điều quyền tự do tôn giáo như HP thì hoàn toàn bàn về cách quản lý hoạt động tôn giáo của nhà cầm quyền, mà các chức sắc tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và các tín đồ đều phải tuân thủ. Pháp lệnh không bàn đến cách giúp công dân thực hiện quyền tự do tôn giáo của mình.

Pháp lệnh và Nghị định được ban hành nhằm quản lý tôn giáo, hạn chế quyền tự do tôn giáo và mở cửa cho việc đàn áp tôn giáo theo pháp luật.

Không thiếu bằng chứng

Điều 11 của Pháp lệnh quy định:

“1. Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo.

2. Trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài quy định tại khoản 1 Điều này phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) nơi thực hiện“.


Với điều luật này, các chức sắc tôn giáo có thể xem là vi phạm pháp luật khi hành lễ tại tư gia của mình, hay nơi cơ sở tôn giáo của đồng đạo, nhưng không do mình phụ trách. Trong các doanh trại quân đội, khu công nghiệp, nhà tù có hàng triệu tín đồ các tôn giáo không thể đến cơ sở thờ tự, vì trách nhiệm quốc gia, vì đời sống kinh tế và vì bị giam giữ. Nhưng với điều luật này, nhà cầm quyền đã đương nhiên cấm các chức sắc tôn giáo đến đây cửa hành lễ nghi tôn giáo cho các tín đồ này. Như vậy không chỉ các chức sắc tôn giáo bị bắt luật khi thi hành trách nhiệm tâm linh với đồng bào, mà cả các quân nhân sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ quốc giá vẫn bị xâm phạm quyền tự do tôn giáo.

Một chức sắc khi ốm đau, không thể cửa hành nghi lễ tôn giáo cho tín đồ, muốn mời một chức sắc khác đến giúp làm thay, nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo của công dân thì buộc phải xin phép và phải đợi sự chấp thuận của nhà cầm quyền, nếu nhà cầm quyền không đồng ý thì phải chịu.

Ngày 19.04 vừa qua là Thứ bảy Tuần Thánh. Đêm đó là lễ Phục Sinh, một lễ quan trọng nhất của người Công giáo. Cha Phêrô Đinh Quốc Thái Bình, phụ trách giáo điểm Plơi Athai, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai bị bệnh, khó có thể cử hành trọn vẹn một thánh lễ dài, trong đó có cử hành bí tích rửa tội cho hơn 100 anh chị em đã học đạo hơn hai năm, nên cha Bình đã mời tôi đến giúp. Trước giờ lễ, chính quyền, ban tôn giáo, công an và dân quân tự vệ đến không cho phép tôi được cử hành. Tôi chỉ có thể đứng bên cạnh để phụ cha Bình mà thôi.

Đây là quy định nhằm giới hạn hoạt động tôn giáo của nhà tu hành.

Mọi hoạt động tôn giáo đều phải đăng ký và phải được nhà cầm quyền chấp thuận

Điều 12 Pháp lệnh quy định:

“1. Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm diễn ra tại cơ sở đó với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã); trường hợp tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyềnchấp thuận.

2. Thẩm quyền chấp thuận việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng do Chính phủ quy định“.

Phải liệt kê chi tiết: Hành lễ lúc mấy giờ? Ai chủ lễ? Ai tổ chức lễ? Có bao nhiêu người tham dự? Có người của địa phương khác đến tham dự lễ không?

Làm sao linh mục có thể biết trước thánh lễ đại chúng có bao nhiêu người tham dự để đăng ký? Làm sao linh mục có thể biết ai là người tỉnh khác, huyện khác hay phường xã khác đến tham dự thánh lễ, nếu người ấy không đến xin phép dự lễ? Nhà thờ là là nhà của Chúa và cũng là của Dân Chúa, giáo dân ở Mỹ, ở Tây Ban Nha hay ở Cà Mau, Bắc Cạn … đều có thể lên Tây Nguyên dự lễ, khi nơi đó có lễ, mà không cần xin phép cha xứ.

Nói chung, tất cả các hoạt động thuần túy nội bộ tôn giáo như hội nghị của nội bộ tôn giáo, phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển, thành lập tu viện, trường đào tạo giáo sĩ … đều phải đăng ký và phải được chấp thuận như quy định tại các điều 18, 20, 22, 23, 24 … thì mới được tổ chức, còn nếu không đồng ý thì bị ngưng trệ.

Nếu tiếp tục đọc các điều khoản còn lại, người đọc sẽ thấy chỉ toàn là công cụ quản lý chứ không có chút gì để giúp công dân thực hiện quyền tự do tôn giáo.

Chỉ có ở Việt Nam

Các tôn giáo hoàn toàn không có tư cách pháp nhân độc lập, nên việc mua, bán, nhận hiến tặng đất đai đều không được phép, do đó không thể chủ động mở rộng cơ sở hoạt động tô giáo hoặc xây dựng mới cơ sở tôn giáo.

Khi một linh mục được giáo phận giao xây dựng nhà thờ mới, theo hướng dẫn của nhà chức trách, vị linh mục ấy phải làm các việc sau đây:

1. Chọn đất, thỏa thuận với người đang có quyền sử dụng để mua lại quyền sử dụng (nôm na là trả tiền mua đất).

2. Người đang đứng tên có quyền sử dụng đất phải làm đơn gởi Ủy ban nhân dân huyện xin trao trả lại đất với lý do không còn nhu cầu sử dụng, đồng thời đề nghị nhà cầm quyền cấp mảnh đất đó để xây nhà thờ.

3. Linh mục phụ trách phải làm đơn xin cấp đất (cấp lại mảnh đất đã trả tiền mua)

4. Nhà cầm quyền xem xét, nếu hợp lý thì cấp theo đơn và theo đề nghị của công dân; còn nế không phù hợp thì không cấp. Trường hợp sau xem như vị linh mục và Giáo hội Công giao mất trắng tiền mua đất đã trả.

Những quy định được xem là phù hợp là phải có số giáo dân phù hợp với quỹ đất đề nghị cấp (đất đã mua), không nằm trong vùng quy hoạch. Lý do thứ nhất nhằm ngăn cấm việc truyền giáo. Linh mục không được truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo thì làm sao có số tín đồ đông ở vùng đất mới để xây nhà thờ? Còn nếu muốn có số tín đồ đông đủ để xin xây nhà thờ thì trước đó nhiều năm, các linh mục phải vi phạm pháp luật để đi truyền giáo. Lý do thứ hai thường là lý cớ để không chấp thuận cấp đất, và có thể sau đó là một âm mưu cướp đất mà Giáo hội đã mua.

Vì sao lấy lý do “trùng tên tôn giáo”?

Sau 1975, nhà cầm quyền Hà Nội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam, để sau đó cấm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã có hoạt động từ trước đó. Khi các tổ chức quốc tế can thiệp, và chính tôn giáo này khiếu nại, thì nhà cầm quyền cho rằng các tôn giáo đó đã có, nên không thể công nhận các tôn giáo trùng tên nhau.

Họ giải tán toàn bộ đạo Cao Đài, rồi lập ra tổ chức đạo Cao Đài mới và cấm những ai theo Đạo Cao Đài chân truyền, giữ truyền thống cơ bút. Họ tịch thu toàn bộ tài sản và bắt tù các tu sĩ cư sĩ Phật giáo Hòa Hảo, rồi lập ra một Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo khác … Tất cả đều nhằm không công nhận các tôn giáo đã có lâu đời.

Thực tế chính sách và pháp luật nhất quán của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tôn giáo là như thế.

Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR

(Phó chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam)













Monday, July 28, 2014

Dũng Cảm, Dũng Cảm Thêm Nữa, Luôn luôn Dũng Cảm, Và Đất Nước sẽ thoát nạn


Dũng Cảm, Dũng Cảm Thêm Nữa, Luôn luôn Dũng Cảm, Và Đất Nước sẽ thoát nạn


Bà Trần Thị Hài là ai bà cùng người dân Hà Nội biểu tình chống Trung Quốc

https://www.youtube.com/watch?v=I5NKy6_8NhI

Phan Văn Song, TS 
July 22, 20140 Bình Luận

Câu Chuyện Tháng Bảy ( bài 2 )

Dũng Cảm, Dũng Cảm Thêm Nữa, Luôn luôn Dũng Cảm,Và Đất Nước sẽ thoát nạn — De l’Audace, Encore de l’Audace, Toujours de l’Audace… ( Georges Danton -1759-1794)

 

Hôm nay, lễ Quốc Khánh Pháp -14 Juillet (14 tháng Bảy) suốt hai giờ liền, vừa ngâm nghi cốc càphê, ăn croissant vừa xem défilé-diễn binh.

 Gốc Thiếu Sanh Quân và gia đình lính, tôi mê xem diễn binh từ thuở nhỏ. Đi ọt-xêrê-ordre serré là cả một nghệ thuật, những bước quân hành, những kiểu bước diễn hành.Từ kiểu Lính Lé Dương Pháp đi chậm với tiếng Nhạc đặc biệt, quân nhạc gì chỉ nóí đến ăn nhậu : « Đây nầy cục xúc xích-Tiens voilà du boudin » hay « Em Madelon, hãy đem rượu lại đây-La Madelon, viens nous donner à boire »,… đến kiểu đi lúc thiếu thời ở Quân sự Học đường-PMS, đi ăn nhịp với bài « Lục quân Việt Nam hay bài Này bao hùng binh tiến lên »… tôi đều mê cả. Nay già rồi không còn sức chen lấn của những năm của tuối trẻ, đi sớm đến Đại lộ Champ Élysée giành giựt đứng hàng đầu để xem diễn binh lễ Quốc Khánh Pháp. Tôi chỉ thích diễn binh ở phần đi bộ thôi, đến phần cơ giới…máy bay tàu bò là tôi về, bây giờ cũng vậy, xe cộ tăng tiếc, máy bay tàu bò là tôi nghỉ coi. Chiến tranh nếu đánh nhau phải là lục quân, bắn súng trường…không liên thanh, không bom đạn, pháo binh, tàu bay tàu bò gì cả. Như vậy chỉ có lính chết thôi không có thường dân.  

Hôm nay, trong cuộc diễn binh nầy, Tổng Thống Pháp có ý mời, trong dịp kỹ niệm 100 năm Đại Chiến-Grande Guerre (Thế chiến 1, Pháp gọi là Đại Chiến và Thế Chiến 2 là Thế Chiến 2-La Deuxième Guerre)  và 60 năm kỷ niệm Thế Chiến 2, tất cả những quốc gia đã có mặt trong hai cuộc chiến nầy. 

Chúng tôi và rất nhiều anh em Cộng đồng tỵ nạn Việt Nam ở Paris đều có nghe tin Việt Nam và Trung Hoa được mời, nên cùng vài anh em gởi thơ đến Phủ Thủ tướng và các Dân biểu địa phương phản đối và nhờ can thiệp chống sự có mặt của các phái đoàn quân nhơn Tàu Cộng và Việt Cộng. Lý do là những người Việt và người Hoa tham chiến trong hai Thế Chiến không phải những người Việt Nam và người Trung Hoa ngày nay. Và như vậy, dỉ nhiên tham dự cuộc diễn binh của hai quân đội Việt Cộng và Trung Cộng không thể đại diện được những người đã cùng người Pháp lúc bấy giờ bảo vệ quê hương Pháp. Lịch sử có thể sang trang, nhưng lịch sử không thể xóa bỏ dễ dàng những tiếp diễn, khi tại đất Pháp những nạn nhơn của sự tàn bạo trong cách đối xử giữa con người và sự xâm phạm những quy luật quốc tế về Nhơn quyền, về đối đãi tù binh đang có mặt, và hơn nữa trong tư cách tỵ nạn chánh trị.  

Công đồng người Việt tỵ nạn tại Pháp cùng được sự hỗ trợ của Hội Cựu Chiến Binh Đông Dương ANAI trong sự phản đối sự có mặt của chiến binh Việt Nam Cộng sản. Hôi Cựu Chiến Binh Đông Dương luôn luôn phản đối Quân đội Nhơn dân Việt Cộng  vì cái tư cách vô nhơn đạo trong đối xử với tù binh Pháp. Sau Điện Biên Phủ. Quân đội Việt Cộng không tuân thủ Công Ước Genève về cách đối xử tù binh. Người Việt tỵ nạn ngày nay phản đối sự thiếu Nhơn quyền và Tự do ở Việt Nam. Riêng về phần Trung Cộng, một số Hôi đoàn Pháp cũng lên tiếng phản đối sự thiếu Minh Bạch, tôn trọng Nhơn quyền của Bắc Kinh, và những đàn áp các người thiểu số Tây tạng và Hồi giáo trong những vùng tạm chiếm.

 Kết quả, hôm nay không có mặt của hai đoàn quân nhơn Việt Cộng và Tàu Cộng – Truyền thông chánh thức Pháp  nói Tàu Cộng và Việt Cộng được mời tham dự duyệt binh nhưng cả hai đều từ chối. Trái lại Algérie cũng được mời, thoạt đầu chánh phủ Algérie từ chối nhưng sau nhận lời, và nay bị phản đối cả hai phía, cả Pháp, lẫn Algérie. Phải nhìn nhận là người quân nhơn gốc Algérie đóng góp rất lớn trong hai cuộc chiến với quân đội Pháp. Trong Đệ Nhị Thế Chiến, chiếm núi Cassino trên đường giải phóng thủ đô Roma,của Ý, giải phóng miền Nam nước Pháp, đổ bộ lên đất Provence, Pháp là những chiến công lớn của các quân nhơn gốc Bắc Phi, đặc biệt là của Algérie

1. Cách Mạnh Pháp, chiến thắng Valmy (20/09/1792) và Georges Danton:


Ngày 14 tháng Bảy Quốc Khánh Pháp là ngày kỷ niệm dân chúng Pháp phá ngục Bastille nằm giữa Paris, ngày 14 tháng Bảy năm 1789. Cách Mạng Pháp 1789, chấm dứt chế độ Quân chủ, thành lập chế độ Cộng hòa. Méo mó nghề nghiệp bởi bốn năm dạy Sử Địa các trường Trung học Pháp của Académie vùng Toulouse, và tình hình Việt Nam ngày nay với nguy cơ Hán Hóa mỗi ngày mỗi trầm trọng, chúng tôi chợt nghĩ đến những ngày tháng sau cuộc Đại Cách Mạng Pháp, để thử nhận định và so sánh thời cuộc.

Ngày 10 tháng Tám năm 1792, Nhà Vua Louis XVI bị phế, nhưng Quốc Hội Lập Hiến Pháp đầu tiên hoàn toàn chưa có chánh thống, các viên chức, lãnh đạo thiếu hậu thuẩn quần chúng, hoặc do từng nhóm hoặc tự cướp quyền bằng tự do các tự vệ quân cách mạng riêng – les Sans Culottes – những kẻ khộng mặc cái Culotte là cái quàn bó của dân quý phái và giàu có mặc, thường gồm những phần tử quá khích nhiều khi là những du đảng bất hảo nữa. .. . Quân Liên Minh do Hoàng Đế François Đệ Nhứt của Triều Đình Áo-Hung thành lập với quân của Triều đình Phổ-Prusse và 20 vạn quân tỵ nạn Pháp thân Hoàng gia, tất cả là trên 150 vạn quân đang đổ quấn tiến về Paris để cứu Vua Louis XVI và Triều đình Pháp. Ngày 18 tháng Tám, quân Liên Minh vượt biên giới Pháp, thế mạnh như chẻ tre.

 Đoàn quân Áo Phổ do Quận công Brunswick, đại diện Hoàng Đế Phổ Frédéric Guillaume  chỉ huy, tiến như vũ bào, quân cách mạng Pháp thất bại rút lui. Ngày 2 tháng Chín, thành phố Verdun, thành trì kiên cố nhứt của Pháp, chìa khóa của cửa ngõ Paris thất thủ. Các Tướng lãnh  vốn thuộc chế độ cũ bị nghi kỵ và bị tước quyền.  Chỉ còn hai tướng Dumouriez và Kellermann. Cũng ngày 2 tháng 9, khi biết Verdun đã thất thủ, quân Liên Minh chống Pháp chỉ ở cách Paris có hai ngày đường, Dân biểu Danton, Luật sư, trước Quốc hội nói một bài diễn thuyết động viên tinh thần yêu nước quần chúng Pháp, với câu kết luận để đời « …Dũng cảm, Dũng cảm thêm nửa, Luôn luônDũng cảm, Nước Pháp sẽ thoát nạn ! ».

 Một luồng không khí mới được thổi vào dân Pháp. Từng đợt, từng đợt dân chúng nhập ngũ, tham dự phòng thủ Paris và viện binh cho quân Kellermann và Dumouriez ở chiến trường, trong lúc những nhà Cách mạng khác như Marat và Hébert gieo không khí nghi ngờ, vì sợ « thế lực phản động nước ngoài chống cách mạng » ( một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam trong nước ngày nay), và kết cuộc một cuộc bạo động do nhóm Sans Culotteschủ xướng, phá ngục và giết hơn ngàn tù nhơn chánh trị. Người ta đổ tội cho Danton lúc ấy là Bộ trưởng Bộ Nôi Vụ sao không che chở tù nhơn.
Trận Valmy, quân Kellermann và Dumouriez với chỉ 30 ngàn quân ô hợp thiếu kinh nghiệm đã đẩy lui được 80 vạn quân Áo-Phổ. Quận công Brunswick lui binh về nước.

 Chiến thắng Valmy cứu nước Pháp, cứu cuộc Cách mạng, cứu Quốc Hội Lập Hiến Cách mạng, thành lập nền Cộng hòa Pháp. Chế độ Dân chủ tuy còn đang trong thời kỳ phôi thai, với tàn bạo, với máy chém, nhưng con đường dân chủ đang thành hình…Và nhơn danh Dân chủ, nhơn danh Tự do, nhơn danh Cách mạng những Nhóm-factions, những Đảng, những Đoàn tranh nhau thành lập, giết lẫn nhau…Tất cả ai, ai đều cho mình có lý, và các đối thủ đều lạc đường đi sai đường. Những chiếc đầu rơi, người hôm nay ngồi tòa án, nhưng hôm sau bị kết án. Các Tòa án Nhơn dân mọc lên như nấm, kẻ hôm nay làm quan tòa, mai có thể là tử tội ; ai cũng có lý cả. Sau Valmy, Quốc hội Hiệp Ước- La Convention ra đời thay thế Quốc hội Lập Hiến. Hội nghị  Convention đặt nền tảng cho một sanh hoạt Dân chủ. 

Danton được xem là người đã Cứu nước Pháp-Le Sauveur de la France. Nhưng cũng có kẻ xấu mồm nghi Danton đã mua Brunswick bằng những viên cương, gia tài của Hoàng gia bị đánh cắp hai đêm trước. Không ai chứng mình được, nhưng vi Danton ngụ trên lầu của Điện Louvres, nơi giữ những bảo vật của Nhà Vua, và cũng là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ.  Vào năm 1806, trong gia tài cũa Brunswick khi ông ấy mất, có người nhìn thấy những viên kim cương của Vua Louis XVI – vi thế giả thuyết nầy nay vẫn còn có người tin.

Mà dù cho chiến thắng Valmy là do bài diễn văn động viên và nổ lực của Danton kêu gọi lòng yêu nước của nhơn dân Pháp, hay do Danton nhờ Dumouriez thương thuyết mua sự lui binh của quân đội Áo Phổ, công trạng của Danton cũng phải được nhìn nhận là to lớn. Và nếu ngày nay Việt Nam ta có một Danton ? Và Dũng Cảm, Dũng cảm thêm nữa, và Luôn luôn Dũng cảm, Việt Nam sẽ thoát Hán hóa ! Mong một Lê Lợi, mong một Quang Trung, …Mong lắm.

2. Và Việt Nam? và người Việt Nam?


Tinh hình quốc tế liên quan đến Việt Nam và Biển Đông gồm những gì ? Thượng viện Hoa Kỳ hôm 10/7 vừa thông qua Nghị quyết-412, « cực lực lên án Trung Cộng đã sử dụng các hành vi khiêu khích gây hấn hầu thay đổi hiện trạng Châu Á Thái Bình Dương và yêu cầu Chính quyền Bắc Kinh rút giàn khoan Hải dương-981-GKHD-981-ra khỏi vị trí hiện tại ». Nghị quyết này vừa được giới  truyền thông Hoa kỳ tung ra, liền được cộng đồng Việt Nam, trong nước và hải ngoại, vô cùng phấn khởi đón nhận. Và Việt Nam chỉ biết đón nhận… ! ?

Cùng lúc với buổi họp của Thượng viện Hoa Kỳ là buổi Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại Washington do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế-CSIS tổ chức.. Tại buổi hội thảo này, cũng ngày10-7, các chuyên gia tham dự buổi hội thảo đồng loạt lên tiếng yêu cầu chánh phủ Mỹ phải phô trương thực lực của nước Mỹ trước sự hung hăn của Trung Cộng…

Cũng vào thời điểm đó, buổi họp thường niên Đối thoại Song phương Chiến lươc Kinh tế giữa Mỹ và Tàu Cộng cũng đang xảy ra tại Beijing trong hai ngày 9 và 10 tháng Bảy.Hôm7/7trước thềm buổi họp thường niên, Xi Jinping nói nhỏ một cách hăm dọa với John Kerry: Sự hợp tác giữa hai nước mang ý nghĩa sống còn …Washington NÊN đối xử bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như tôn trọng đường hướng phát triển của nhau…Thái Bình Dương còn đủ rộng lớn bao la không thiếu chỗ cho hai quốc gia vĩ đại (của chúng ta) …Một cuộc đối đầu giữa hai nước chắc chắn sẽ là thảm, họa cho cả hai nước và cả thế giới…” !

Hù dọa hay viễn ảnh có thể xảy ra?

Đấy là phần Huê kỳ và Chánh phủ Huê kỳ. Hiện nay, Huê kỳ đang đấu tranh, tranh giành ảnh hưởng, tự do  cho Biển Đông thay cho Việt Nam và các quốc gia ASEAN láng giềng chung quanh Biển Đông. Vào Việt Nam trơ mắt ếch ra ngồi ngó và hân hoan đón nhận. Nhục nhã !

Phần người Việt tỵ nạn hải ngoại ? chúng ta tiếp tục phản đối đấu tranh, thành lập các Hôi đoàn lobbies với các chức trách Âu Mỹ hay ở những quốc gia mình cư ngụ  tố cáo Trung Cộng xâm phạm lấn đất biển và xin can thiệp hầu giảm phần hung hăn của phía địch thủ.

Trong khi ấy Nhà cầm quyền Việt Nam làm gì ? có thái độ gi ? Và người dân Việt Nam trong nước có những thái độ gì ? Gần như là không ngoài những tuyên bố lẻ tẻ.

Trong bài viết tuần qua chúng tôi đã có nhận định rất chủ quan là người Việt chúng ta có một sức sanh tồn vượt bực. Có thể chịu đựng và sanh sống dước tất cả mọi chế độ hà khắc. Miền Bắc Việt Nam đã sống trong 20 năm suốt thời bao cấp từ 1954 đến 1975 không một lời than vãn, với sự khan hiếm vật chất, ăn uống với chế độ tem phiếu, ngủ ở chen chúc trong những ổ chuột, giành giựt bán từng cục phân, bán từng giọt máu để nuôi miệng…trong tình trạng chiến tranh, trên đầu sợ bom Mỹ, dưới đất sợ Đảng bắt đi B làm nô lệ vượt Trường Sơn sanh Bắc tử Nam. 

Thế mà, không một lời than vãn, không lúc nào dám vượt trốn, vượt tuyến, vượt biên, trốn chạy. Chỉ khi miền Nam thất thủ, nhìn thấy dân miền Nam trốn chạy vượt biên, mới sực tỉnh bắt chước chạy theo.

Nhà Tâm lý học Thụy sĩ Carl Gustav Jung (1875-1961) có nói đến cái phần Nôi tâm Chung –l’Inconscient collectif. Cái phần Nội tâm Chung ấy nó nằm sâu hơn phần Nội tâm Cá nhơn, và nó tạo một cuộc sống như một con người máy, hay như một con vật. Sống với những cái cần thiết tối thiểu, hợp quần, chung chạ như một bầy thú vật với những tối thiểu hằng ngày, sanh tồn thôi – một cuộc sống sinh lý –biologique

Sanh tồn biologique  trong thời kháng chiến giữa hai lằn đạn, sanh tồn trong thời kỳ Cải cách ruộng đất giữa hai đợt đấu tố, trong thời đánh Mỹ. Thời sau 30 tháng tư, hết chiến tranh, hôi được tý của của dân miền Nam là Hạnh phúc lắm rồi ! Phong trào vượt biên, ai đi ta không đi, xoay sở quen rồi. 

Dân tỵ nạn gởi tiền về, chùm gởi với dân miền Nam, ăn theo, sướng theo. Chế độ Cộng sản hà hiếp, bợp tai đá đít, nhưng với ai ? chả sao ! xoay sở xong cả, xin cho, phong bì, mặc cả. Đi Chùa có hoa quả cúng Phật, có tý tiền cúng dường, đi nhà Thờ cũng đóng góp dân Chúa lễ vật…

Văn hóa Việt Nam là Văn Hóa ơn nghĩa. Miếng trầu đầu câu chuyện, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Mỗi chuyện, đầu tiên vào là phải tiền đâu …Tham nhũng thuộc về nét văn hóa làm sau dẹp được. Vì vậy Công sản Tàu Cộng sản Ta cũng thế thôi.  Một ngàn năm Tàu đô hộ  Ta vẫn là Ta có Tàu đâu ? Một trăm năm Tây thuộc Ta cũng là Ta.

 Đấy là cái tâm lý chung của người trong nước,Inconscient collectif, nó làm tê cứng cái suy nghĩ cá nhơn đi. Vã lại trước mắt, sau bao nhiêu năm độc lập, sau bao nhiêu năm hòa bình, xây dựng nước nay gần 40 năm, bao thế hệ thanh niên, tương lai vẫn mù tịch, học hành xong thì vẫn thất nghiệp.

 Nay có ngoại quốc vào may có cơ hội có công ăn việc làm. Tàu Ta gì miễn sao có tương lai có  việc làm là tốt rồi Toàn cầu hóa rồi tại sao ta cứ khư khư dân tộc tánh mãi ? 

Tâm lý ấy có phải là chung không ? Cớ sao trên 90 triệu đồng bào ít lắm cũng phải có 20 triệu thanh niên thanh nữ có học có hành lên tiếng đặt những câu hỏi hay phản đối, bất mãn chứ ?   nhưng sao không nghe một gảng lên tiếng nào ? Có chăng, một vài bloggers, vài em lẻ tẻ, dễ dàng bị dập tắt. 

Thử được vài ngàn xem ? Cộng sản có nhốt hết không. Chúng tôi không kêu gọi Dảng Cộng sản cầm quyền làm cái gì chống Tàu vì họ là đầy tớ Tàu. Chỉ kêu gọi người Việt Nam trong nước. 

Mỗi thành phố vài ngàn người, mỗi ngày sắp hàng trước các trụ sở Công An xin Công An nhốt hay « làm việc » lấy cung, vì tôi Chống Tàu thôi. Đừng biểu tình lo ó ồn ào, bị ăn dìu cui nguy hiểm, thương tích !. 

Cứ sắp hàng xin được nhốt. Vào khám khỏi lo ăn, Nhà nước lo cho ăn, lo chổ ngủ…Hãy tạo được một phong trào Xin ở tù vì Chống Tàu, chúng ta sẽ tạo được dư luận với thế giới.

3. Chiến tranh Việt Hoa?


 Không có và không bao giờ có. Tàu rất sợ chiến tranh. Một quân đột « quý tử con một », một đất nước giàu mạnh, giá mạng sống quý lắm. Đã qua rồi thời kỳ đánh biển người, thí quân.  Trái lại, Việt Nam ta còn nghèo, dân quân miền ngược sát biên giới phía Bắc sẳn sàng chết không để mất nhà mất cửa ( Kinh nghiệm cuộc chiến xâm lăng năm 79, một phần lớn thiệt hại Trung Cộng do dân quân miền Thượng Bắc Việt đánh du kích gây ra gây ra). Tình hình Tân Cương rất căng thẳng ngày nay. Trung Cộng trong cái ngu của sự độc tài đã cấm ở vùng Hồi giáo của dân tộc Uyghur vùng Tân Cương thuộc Tàu ăn Chay trong Mùa Chay Ramadan nầy. Dân tộc Uyghur, là dân Hồi Giáo, ngôn ngữ Thổ Nhỉ Kỳ. Tổ tiên họ thuộc Đế quốc  Mông Cổ, của ba Khalifat hậu duệ Gengis Khan, và Khoubilaï Khan…Dân tộc họ trị vì suốt dãi đường tơ lụa trong nhiều thế kỷ. Ngày nay cựu Đế quốc Ottoman Hồi Giáo đã chia ra làm nhiều quốc gia với những tên khác nhau do các gia đình bộ tộc khác nhau chứ thật sự họ cùng một chủng tộc, cùng nói một ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ trải dài từ Cân Đông (Thổ Nhỉ ký) đến Tân Cương Tàu. Họ là dân Kazakhstan, Ouzbékistan, Kirghizistan,Tadjikistan, Turkemistan.  Một con đường Tơ lụa tân thời đang được nghiên cứu, vừa chiến lược vừa thương mãi. Con đường sẽ đi thông thương qua những quốc gia Hồi giáo ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ nói trên, kể cả những đoạn đường do Trung Cộng kiểm soát vì nằm trong lãnh thổ Uyghur của Xinjiang. Tàu nếu đụng vào Hồi giáo và đánh nhau với Hồi Giáo là một cái may cho dân tộc Việt Nam. Dân Thịt Cừu đánh với dân Thịt Heo. Theo thiển ý , không bao lâu nữa Trung Cộng sẽ bị Hồi Giáo (quốc tế) tấn công. Nhưng Trung Cộng cũng không thể làm ngơ, đối đẩ tốt cho Hồi Giáo Tân Cương tự trị được, vì như vậy sẽ mở đường cho Tây Tạng Phật giáo đòi tự trị.
Còn Mỹ ? như một bài viết gần đây của nhà bình luận thời sự Đào Như trên mạng, Mỹ đi vào Biển Đông chẳng phải   « … vì những giàn khoan-Oilrigs-cũng không vì nguồn tài nguyên, dầu hỏa, khí đốt tại Biển Đông. Sự tranh chấp giữa Trung Cộng  và Huê Kỳ cũng không hề xảy ra trên diện rộng của Thái Bình Dương, trái lại nó chỉ xảy ra trên những hải trình trong vùng biển thu hẹp như Biển Đông hay với tên Tàu  biển Hoa Đông, và có thể nó sẽ xảy ra một cách quyết liệt tại các eo biển: Hải trình Đài loan-Taiwan Straight-ở Đông Bắc Á, hải trình Malacca-Malacca Straight-ở Nam Thái Bình Dương. Đó là lý do tại sao Nghị quyết S.Res.412 được ra đời vào thời điểm này. » « Biển Đông tuy nhỏ, nhưng lộ trình hàng hải trên Biển Đông đóng vai trò rất lớn trong mậu dịch tòan cầu. Hải trình của Biển Đông là Động Mạch Chủ của nền mậu dịch Châu Á Thái Bình Dương. Hàng năm có một khối lượng hàng hóa trị giá hơn 5 ngàn 300 tỷ US trong đó có khối lượng hàng hóa của Mỹ trị giá hơn 2 ngàn tỷUS được chuyên chở, vận tải xuyên qua hải trình Biển Đông. Biển Đông là vùng biển hiện đang có tranh chấp gây gắt giữa Trung Cộng và các nuớc ASEAN, nhất là giữa Tàu với ViệtNam.Và tác giả bài báo trên, Harry J. Kasianis, đưa ra lời cảnh cáo, hiện nay Trung Cộng đang có tham vọng chiếm đoạt chủ quyền kiểm soát hải trình trên Biển Đông ».

Để Kết Luận:


Việt Nam nói chung, và người Việt Nam nói riêng phải thấy rõ địa thế chiến lược của đất nước Việt Nam. Việt Nam là cửa ngõ kiểm soát hải trình huyết mạch tiếp vận kinh tế, thương mãi của tất cả các quốc gia Bắc Á, từ Trung Cộng, đến Nhựt bổn, qua Đài Loan, Đại Hàn, Hong Kong …và Mỹ là một đồng mình thương mãi tự nhiên. Dỉ nhiên những đồng minh tự nhiên khác là những quốc gia ASEAN. Trừ phi chương trình kinh đào xuyên bán đảo Kra thành công – đào một con kinh cắt bán đảo Kra, nơi có trại tỵ nạn Songkla của những năm 80 – nối liền Ấn độ Dương với Vịnh Thái Lan để đến cảng Sihanoukville – Cao Miên trục tiếp vận bằng xa lộ Tây Trường Sơn thẳng vào  Yunnan và Sichuan. Trường hợp nầy hàng hóa Tàu sẽ tránh bớt đi qua eo Malacca và Biển Đông.
Việt Nam chỉ có một đường binh – nói với từ ngữ Xập Xám – là phải dựa vào ASEAN, dựa vào Mỹ, Úc giữ huyết mạch hải lộ thông thương qua Biển Đông.

Và nếu muốn thoát khỏi cái nạn  tranh chấp giữa hai vế Tàu Cộng và Việt Cộng là  phải dứt diểm bỏ cái vế Việt Cộng đi !
Vứt bỏ Việt Cộng,  hết mắc cái quai Công hàm Việt Cộng Phạm Văn Đồng.
Dẹp bỏ Việt Cộng,  hết mắc cái nạn 16 chữ vàng, hết mang những cái nợ chống Pháp chống Mỹ, hết cả cái nghĩa  Cộng sản Quốc tế.
Đuổi Cộng sản, một Chánh phủ thật sự Dân chủ  do người dân thật sự làm chủ tuyên bố xóa bỏ mọi  ký kết,  như lúc xua Cựu Hoàng Bảo Đạo tuyên bố Độc Lập xóa bỏ mọi ký kết với Pháp
Mong ngày mai sum họp tại Saì gòn !  See you soon in Saigon.
Hồi Nhơn Sơn Quốc Khánh Pháp 2014

TS. Phan Văn Song

Việc Thi Hành Hiệp Định Genève

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Cộng Sản Việt Nam (CSVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?


Hiệp định Genève

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève)gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:

Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam Viêt Nam. Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. 

Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. 

Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

Ai vi phạm hiệp định Genève

Hiệp định này ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:
Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị (Chu Ân Lai và hội nghị Genève) Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định đã ký kết.

Cộng sản đòi hỏi điều không có

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Thế mà ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. 

Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng: Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. 

Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký. Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

Cộng sản bịa đặt lý do để tấn công QGVN

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.

Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng. Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.

Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn bịa đặt. 

Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như Lê Duẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô” (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

Kết luận

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định. Trong khi VNDCCH liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước. 

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genéve xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

Trần Gia Phụng

Toronto, 20-7-2014




Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link