Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg

Friday, August 2, 2013

Hộ khẩu, nỗi ám ảnh của người dân


 


Hộ khẩu, nỗi ám ảnh của người dân


 

An Nhiên, thông tín viên RFA
2013-07-13

 

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


annhien07132013.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

hokhau-305.jpg

Sổ Hộ khẩu và sổ Tạm trú.

Courtesy tracuupl.info

 

Hạn chế quyền công dân


Quốc hội Việt Nam vừa thông qua sửa đổi, bổ sung Luật cư trú theo đó vẫn qui định chặt việc nhập khẩu vào các Thành phố Trung ương. Điều này càng gây khó khăn cho những người dân tỉnh tìm kế mưu sinh tại những nơi đó, và hạn chế quyền của công dân.

Điều 68 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.”

Tuy nhiên, Bộ công an đã đề xuất sửa đổi một số điều luật trong luật di trú được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2013, và sẽ có hiệu lực từ đầu năm tới. Ông Phan Trung Lý, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật phát biểu, mục đích việc sửa đổi vài điều trong Luật di trú là chủ yếu tập trung vào một số vấn đề nổi cộm, vướng mắc như tình trạng di dân tự phát vào nội thành của các thành phố lớn, gây quá tải về hạ tầng, an sinh xã hội, quản lý trật tự an toàn xã hội.

Vấn đề hộ khẩu nhà nước thích quản lý bây giờ như kiểu ngăn sông cấm chợ như thời bao cấp, nó làm cho bất tiện đủ thứ.
-Anh Mẫn

Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, quy định thời gian tạm trú là hai năm đối với trường hợp đăng ký thường trú vào địa bàn quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương là phù hợp. Theo quan điểm cá nhân của Luật sư Hà Huy Sơn cho chúng tôi biết vì sao chính quyền Việt Nam vẫn bắt buộc quản lý công dân Việt Nam theo chế độ hộ khẩu và hạn chế quyền mưu sinh đi lại trên lãnh thổ Việt Nam của công dân:

“Nhà nước quản lý người dân chặt chẽ vì nhà nước không muốn bỏ vấn đề hộ khẩu, ván đề hộ khẩu hạn chế một số các quyền của công dân, quyền tự do đi lại, quyền tự do sinh sống, vì giữa các vùng miền ở Việt Nam giữa nông thôn và thành thị còn nhiều bất bình đẳng, về điều kịên văn hóa y tế, giáo dục, công ăn việc làm. Người dân có nhu cầu muốn di chuyển đến nơi, địa phương có điều kiện tốt hơn nơi người ta đang ở, vì sự di chuyển ấy nhà nước sợ không quản lý được, làm xáo trộn xã hội, nhà nước vẫn đặt ra vấn đề hội khẩu để duy trì sự ổn định đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước, không tính đến việc đề cao lợi ích của người dân.”

luat-cu-tru-va-ho-tich-ho-khau-200.jpg

Bìa sách Luật cư trú, Hộ tịch và Hộ khẩu. Photo courtesy of XBLĐ.

Trong khi các nước phát triển và nhiều nước trong khu vực họ chỉ quản lý người dân bằng một cái thẻ chứng minh thư, những quốc gia như Việt Nam vẫn quản lý công dân bằng hộ khẩu gây nên biết bao phiền toái, khổ sở cho người dân. Những người ở tỉnh muốn ở, tìm việc làm tại Sài Gòn, Hà Nội… thì phải đi đăng ký tạm trú tại công an phường, hết hạn phải đi đổi, muốn sử dụng các dịch vụ như điện thoại trả sau thì không được, trả tiền điện thì cao gấp đôi người thành phố. ..mọi thứ đều rất khó khăn, Anh Mẫn, người Quảng Nam vào Sài Gòn hơn 10 năm, cho chúng tôi biết trong tâm trang bức xúc:

“Vấn đề hộ khẩu nhà nước thích quản lý bây giờ như kiểu ngăn sông cấm chợ như thời bao cấp, nó làm cho bất tiện đủ thứ, ví dụ như đăng ký kinh doanh tại thành phố, thì sở kế hoạch đầu tư đòi hộ khẩu này nọ, mình không có hộ khẩu thành phố nên rất phiền đủ thứ hết, điều này nó như cái xích, xiềng không cho mình có thể phát huy xa hơn được, không thể tự do được, mình không có thể làm hết khả năng mình được, đây là một bước lùi, sự khuyết điểm, kìm hãm hầu hết các nước trên thế giới người ta đã bỏ chính sách hộ khẩu rồi, trong khi đó Việt Nam vẫn còn giữa lại. Về vấn đề y tế nữa, mình không thể nào sử dụng bảo hiểm y tế được, vì nếu mình ở tỉnh thì phải khám bệnh ở đó. Còn nếu có công ty làm bảo hiểm cho mình thì mình mới được khám bệnh ở thành phố được, điều này bất công và thiệt thòi cho người ở tỉnh rất là nhiều.”

Không đem lại lợi ích cho dân


Những quy định bổ sung luật di trú mới đã trái với Hiến Pháp, trái với quyền cơ bản của công dân, đã không đem lại những lợi ích cho người dân, mà nó giống như sợi dây thòng lọng siết vào cổ dân kìm hãm sự phát triển của đất nước, Luật sư Hà Huy Sơn cho chúng tôi biết:

Theo Hiến pháp năm 1992, người VN được phép tự do đi lại, tự do sinh sống mọi nơi trên lãnh thổ VN, nên các điều luật nào hạn chế quyền của công dân thì nó trái hiến pháp.
-LS Hà Huy Sơn

“Theo Hiến pháp năm 1992, người Việt nam được phép tự do đi lại, tự do sinh sống mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam, nên các điều luật pháp nào mà hạn chế quyền của công dân thì nó điều trái hiến pháp. Tất cả những điều gì của pháp luật mà trái với Hiến pháp năm 1992, và trái với những điều công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị và tuyên ngôn nhân quyền của liên hiệp quốc thì những điều luật nó trái, hay thực tế, nhà nước thực hiện không đúng luật thì tôi xem đây tất cả là một hình thức cũng có thể gọi những cái thòng lọng mức độ khác nhau đối với người dân.”

Các nước Asean đang thảo luận việc cho các công dân trong khu vực được đi lại, tìm việc làm vào năm 2015. Hiện tại thì Việt Nam đang gia tăng phát triển kinh tế, trên đà hội nhập văn hóa với các nước láng giềng và quốc tế, cùng với sự dịch chuyển lao động sang các quốc gia Asean, thế nhưng vẫn sử dụng hộ khẩu để kiểm sóat quyền tự do đi lại của người dân, như vậy sẽ hạn chế việc hội nhập. Tuy nhiên, Luật sư Hà Huy Sơn lạc quan cho chúng tôi biết:

“Tôi nghĩ quá trình hội nhập khu vực, quốc tế nó sẽ thúc đẩy tiến bộ trong nước, những gì cản trở sẽ phải xóa bỏ, có điều nhà nước nhận thức được những điều đó thì xã hội sẽ thu được nhiều lợi ích hơn, còn nếu đi ngược lại với xu hướng của cuộc sống, trước sau thì nhà nước đó cũng sụp đổ, nhưng cái giá mà xã hội, người dân phải trả thì sự tiến bộ xã hội sẽ chậm.”

Hộ khẩu là hệ quả của thời bao cấp, thời kỳ mà mọi thứ chính quyền ban xuống cho người dân, có hộ khẩu mới có sổ gạo, mới có miếng ăn, nhưng nay đã hơn 38 năm mà nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vẫn siết chặt người dân bằng hộ khẩu.

 

Từ thoái đảng đến bỏ đảng


 

Từ thoái đảng đến bỏ đảng


Anh Vũ, thông tín viên RFA
2013-07-13

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


anhvu07132013.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh

000_Hkg8239642-305.jpg

Pano tuyên truyền cho ngày thành lập ĐCSVN tại Hà Nội được chụp hôm 27/2/2013

AFP photo

 

Trên thực tế, đã có nhiều nguyên nhân khiến một bộ phận không nhỏ các đảng viên của đảng CSVN đã từ bỏ đảng dưới hình thức âm thầm hoặc công khai. Sự thật của vấn đề này ở Việt nam đang diễn ra thế nào thế nào?

Không còn vì dân, vì nước?


Ở Việt nam, việc đảng viên đảng CSVN bỏ sinh hoạt đảng và dẫn tới bỏ đảng đang là một hiện tượng xã hội có xu hướng phổ biến đáng quan tâm. Những người từ bỏ đảng CSVN đều có một tâm tư chung, đó là kể từ lúc tự nguyện đứng vào hàng ngũ đảng Cộng sản, đến khi tự rút ra khỏi đảng là một quá trình chuyển biến nhận thức.

Cùng với thời gian, tư tưởng của rất nhiều đảng viên Cộng sản cũng dần thay đổi, từ nhận thức bằng cảm tính sang nhận thức bằng lí trí. Nhưng một phần lớn là họ chịu tác động của quá trình chuyển biến của đảng CSVN. Đó là đảng CSVN từ chủ trương vì dân, vì nước trước kia sang chủ trương bằng mọi giá chỉ vì duy trì sự tồn tại của đảng hiện nay.

Ông Nguyễn Hồng Bích từng là một cựu chiến binh, đảng viên đảng CSVN nhưng đã bỏ đảng một cách âm thầm năm 1992 cho biết:

“Tôi là Nguyễn Hồng Bích, đi bộ đội ngày 4 tháng 3 năm1983, thuộc trung đoàn 612 Bộ Tư lệnh Thông tin – Liên lạc. Tôi tham gia vào đảng năm 1986 , trải qua một thời gian thì tôi biết rằng thực sự tôi không thích. Đến lúc tôi chuyển ngành, năm 1992 thì tôi rút. Tức là tôi là đảng viên đảng Cộng sản, nhưng khi tôi chuyển ngành về thì chế độ đảng tôi không lấy. Tôi về bằng các hồ sơ khác, nhưng đảng thì tôi không sinh hoạt.”

Hiện tượng bỏ đảng là không ít, nhưng chủ yếu là bỏ theo hình thức không công khai, mà phải nại một lý do gì cho hợp tình, hợp lý, đơn giản hơn là âm thầm không đi sinh hoạt nữa.
-Nguyễn Chí Đức

Lý do bỏ đảng thì có nhiều, có thể khác nhau nhưng tựu chung là không ngoài vấn đề về tư tưởng của mỗi đảng viên. Phần lớn đảng viên bây giờ đã không còn tin vào chủ thuyết Cộng sản và chán ngán hàng ngũ lãnh đạo cầm quyền. Trước thực tế hiện nay, việc vào đảng bây giờ là động cơ cá nhân để thăng quan tiến chức, do vậy các đảng viên không có điều kiện để làm quan thì sinh ra chán đảng và bỏ đảng một cách âm thầm. Cũng có một số người dũng cảm thì họ dám viết đơn ra khỏi đảng công khai và nói rõ với lý do tư tưởng.

Ông Nguyễn Chí Đức một kỹ sư, đảng viên đảng CSVN từng công tác ở Bưu điện Hà nội, đã tự nguyện viết đơn xin ra đảng cho chúng tôi biết:

“Lý do bỏ đảng thì có nhiều như mưu sinh, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình v.v… và một lý do nữa là vấn đề về tư tưởng đã không còn tin vào chủ thuyết Cộng sản, chán ngán với hàng ngũ lãnh đạo cầm quyền. Hiện tượng bỏ đảng là không ít, nhưng chủ yếu là bỏ theo hình thức không công khai, mà phải nại một lý do gì cho hợp tình, hợp lý, đơn giản hơn là âm thầm không đi sinh hoạt nữa. Cũng có một số người dám viết đơn ra khỏi đảng vì lý do tư tưởng, nhưng để công khai lên mạng thì thực tế chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Một nghịch lý, tuy Đảng rất đông thành viên nhưng nó đã mất lý tưởng, đại đa số đảng viên đã xa rời Cương Lĩnh của Đảng do chính họ viết ra. Đảng viên vào đảng Cộng sản bây giờ là động cơ cá nhân để thăng quan tiến chức, có mác đảng viên để yên ổn làm ăn.”

000_Hkg4448557-250.jpg

Lễ khai mạc Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội ngày 12 tháng 1 năm 2011. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

Nhiều đảng viên trước đây nhận thức rằng "đảng CSVN là đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động" và họ đã từng nhiệt thành phấn đấu hết mình vì những khẩu hiệu đó. Nhưng quá trình tham gia sinh hoạt đảng và những thực tế của cuộc sống, đã làm cho họ thất vọng. Trong nội bộ đảng, tuy đảng viên số lượng đông, nhưng đảng viên trung thực và dám bảo vệ lẽ phải còn quá ít, phần lớn an phận, không dám đấu tranh. Người dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, thì bị cô lập, bị quy chụp, trả thù.

Về vấn đề này, một đảng viên, cựu chiến binh ở Văn Giang, Hưng yên đã không dấu được bức xúc khi cho biết “Tôi từng tham gia 3 chiến dịch lớn, Mậu thân 68, năm 72, chiến dịch Buôn Mê thuột và tôi bị thương. Không dám nói xấu đảng, nhưng cảm thấy cái sinh hoạt (đảng) không đấu tranh mạnh dạn, bất công, cứ dung túng cho nhau, chán. Nói thật, tôi chỉ hỏi trong sạch đâu mà trong sạch? Trong sạch thì lấy đâu ai bỏ (đảng), kể cả lão thành cách mạng họ cũng bỏ. Nếu tôi có con vào đảng, bây giờ bắt tôi bán ruộng, thì tôi chỉ hỏi “Vào đảng, đảng có bắt chúng tôi bán ruộng, mà bán cho tư nhân đấy?”

Giữ quyền lực bằng mọi giá


Không chỉ thế, mà những đảng viên bỏ đảng vì họ đã nhận thấy động lực của hàng ngũ lãnh đạo đảng CSVN đã không phải vì quyền lợi của nhân dân, mà vì quyền lợi cá nhân của họ là trên hết và nhân dân chỉ là đối tượng để đảng lợi dụng. Như ông Nguyễn Chí Đức cho biết:

“Chỗ làm việc của tôi gần Ủy ban Nhân dân thành phố Hà nội, tôi thường hay thấy dân oan ở lân cận đấy. Hình ảnh này đập vào mắt mình, hết năm này qua năm khác, tôi không hiểu sao trong khi chủ thuyết Cộng sản tôn vinh giai cấp nông dân, công nhân là hạt nhân nòng cốt mà thấy dân oan la liệt như thế là mình cũng phải suy tư. Từ những tệ nạn tiêu cực đây đó và nhất là nhìn vào hàng ngũ lãnh đạo Đảng, tôi cảm thấy động lực của họ không phải vì quyền lợi của người lao động mà vì quyền lợi cá nhân trước hết. Tất cả những điều mắt thấy, tai nghe này khiến tôi càng chán đảng Cộng sản thêm.”

Lý do bỏ đảng thì có nhiều như mưu sinh, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình… và một lý do nữa là vấn đề về tư tưởng đã không còn tin vào chủ thuyết Cộng sản.
-Nguyễn Chí Đức

Cho dù đảng CSVN có tới gần bốn triệu đảng viên, song hầu hết các đảng viên của họ đã đánh mất lý tưởng và đại đa số đảng viên đã xa rời cương lĩnh, tôn chỉ của đảng. Và từ trước đến nay, đảng CSVN muốn dùng mọi cách để duy trì độc tài và giữ quyền lực bằng mọi giá. Việc đó đã dẫn tới tình trạng mất dân chủ, không chỉ trong xã hội, mà kể cả trong đảng.

Về việc này, ông Nguyễn Duy Ninh một cựu chiến binh ở xã Nam Sơn , huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, vào đảng năm 1972, đến năm 1992 cũng bỏ sinh hoạt đảng cho biết:

"Dân chủ là người dân làm chủ chiếu theo cái Hiến Pháp và Pháp Luật. Đúng như thế chứ không phải Hiến Pháp làm thế này mà bên kia cái thực hiện lại làm cách khác. Người ta dùng mọi cái biện pháp này, cái gọi là biện pháp thực chất là thủ đoạn. Ép người ta chỗ này, ép người ta chỗ kia thì buộc người ta phải là theo nhưng thế không thể được".

Với những đảng viên đảng CSVN chân chính, khi ra nhập đảng CSVN họ mang trong mình những hoài bão và lý tưởng tốt đẹp với mục đích cống hiến sức lực của mình cho dân tộc và đất nước. Nhưng thực tế đã cho họ thấy, đảng CSVN đã và đang phản bội chính bản thân mình và phản bội các đồng chí của họ. Vì vậy, bây giờ từ bỏ đảng CSVN, chính là cách để mỗi người tự làm trong sạch mình, để người dân có thể tôn trọng nhân cách của bản thân họ, một khi nếu họ còn là người tốt.

Không phải tự nhiên mà hiện nay, chuyện người dân trên cả nước luôn nhìn đảng CSVN nói chung và các đảng viên Cộng sản nói riêng với cái nhìn không mấy thiện cảm. Với bằng chứng, chúng ta luôn nghe thấy người dân nói ra điều cay đắng rằng “Thằng ấy tuy nó là đảng viên, nhưng mà nó tốt”, đây là hiện tượng phổ biến. Điều đó là một điều sỉ nhục đối với những con người có nhân cách và lòng tự trọng.

 

Việt Nam gia tăng trấn áp tự do thông tin trên mạng


 

VIỆT NAM-INTERNET - 

Bài đăng : Thứ năm 01 Tháng Tám 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 01 Tháng Tám 2013

 

Vit Nam gia tăng trn áp t do thông tin trên mng



Reuters

Thanh Phương


Hôm qua, 31/07/2013, chính ph Vit Nam va công b mt ngh đnh mi cm các blogger và nhng người s dng các mng xã hi tng hp thông tin t các báo và các cơ quan Nhà nước. Ngh đnh, được th tướng Nguyn Tn Dũng ký ngày 15/07 và s có hiu lc k t ngày 01/09, quy đnh: "Trang thông tin đin t cá nhân là trang đ cung cp, trao đi thông tin ca chính cá nhân đó, không đi din cho t chc hoc cá nhân khác và không cung cp thông tin tng hp".


Như vy có nghĩa là k t nay, các blogger và nhng người s dng các mng xã hi như Facebook hay Twitter không được trích dn thông tin t các báo hoc t các trang web ca cơ quan Nhà nước. Nói cách khác, vi ngh đnh mi, nhng người s dng các mng xã hi Vit Nam s không được chia s nhng thông tin báo chí hoc tho lun v các bài báo được đăng trên mng.

Ngh đnh mi cũng cm các công ty cung cp dch v Internet cung cp nhng thông tin có ni dung b xem là “chng phá Nhà nước Vit Nam, phá hoi an ninh quc gia, trt t xã hi và đoàn kết dân tc hoc nhng thông tin xuyên tc bôi nh uy tín các t chc, bôi nh danh d và nhân phm các cá nhân.”

Nhiu blogger và Facebooker Vit Nam hôm nay đã phn ng gin d v ngh đnh nói trên, mà h cho là nhm "bt ming người dân".

Hin nay, nhiu cư dân mng tìm thông tin trên các trang mng xã hi và trang blog hơn là trên báo chí chính thc. Nhưng chính quyn Vit Nam đang tìm cách gia tăng trn áp quyn t do ngôn lun trên Internet.

Vit Nam hin vn b t chc Phóng viên không biên gii xếp trong danh sách các quc gia “k thù ca Internet”. Trong năm nay, đã có 46 nhà hot đng dân ch, nhân quyn, blogger b cáo buc ti chng Nhà nước và b kết án tù nng n Vit Nam, chiếu theo nhng điu khon lut rt mơ h.

TAGS: INTERNET - VIỆT NAM

Chế độ độc Đảng và những Quái thai Lê Duẩn


From: truc nguyen <
To:
Sent: Friday, 2 August 2013 10:00 AM
Subject:  Chế độ độc Đảng và những Quái thai Lê Duẩn

 

 

 

 

Tuesday, July 30, 2013


Chế độ độc Đảng và những Quái thai Lê Duẩn


QLB 


Lê Duẩn - một người mà người ta nói rằng Tội lỗi của ông ta đối với dân tộc chất cao như Núi. Nhưng dưới một chế độ độc Đảng đã cho phép ông ta bưng bít tất cả những mảng đen bản thỉu trong cuộc đời chính trị của ông ta.

Từ sự nướng quân của Tết Mậu thân năm 1968 khiến hàng triệu triệu sinh mạng người lính nằm xuống một cách ngớ ngẩn, vô lý để rồi sau đó cũng chính Lê Duẩn đã chỉ thị không được phép báo tử ngay cho gia đình liệt sĩ và buộc phải đổi lại năm mất khiến hàng trăm ngàn chiến sĩ đã chết dưới tay ông ta nhưng đến ngày giỗ của mình cũng 'KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG' 'cơm canh, rượu thịt' bởi người thân đâu biết được chính xác ngày mất để gọi hồn?


Có ở đâu ngoài cái chế độ độc Đảng với con quái thai như Lê Duẩn đã nghĩ ra cả những trò lừa dối đến cả xác chết cũng không được yên thân vậy?  Người ta nói đúng: Chẳng có gì mà chế độ độc Đảng của cộng sản không dám làm.

Rồi sau đó, cũng chính Lê Duẩn đã bắt những người lính phải mở lại con đường lên K9 do chính ông ta hạ lệnh lấp lại sau khi đưa Hồ Chí Minh lên đó giam lỏng, nay lại được chính Lê Duẩn 'đón' về Ba Đình để viết bài thơ uý lạo, lừa bịp toàn dân tộc che dấu tội lỗi tày dình nướng 'thịt người' của Lê Duẩn.

"Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến CHẮC còn thắng to
Vì Độc lập - Vì tự do
......."

Rồi Thái Nguyên. Lạng Sơn, Cao Bằng ... đã bị tàn phá, hàng trăm ngàn người dân mất nhà cửa, bị giết hại bởi giặc Tàu cũng chính bởi sự ngạo mạn và ngu xuẩn của Đảng trưởng Lê Duẩn khi dám đạp bàn tại Trung Nam Hải cao ngạo "Chúng tôi đã đánh thắng Mỹ, Mỹ chỉ là con Hổ giấy"!

Nhưng hậu quả tột đỉnh của Lê Duẩn chính là việc giải tán Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội. Chính tội lỗi này của Lê Duẩn đã gây mầm hoạ đến tận hôm nay cả dân tộc đang phải gánh chịu hậu quả, đang phải rên xiết dưới sự áp bức, thống trị, sự mục ruỗng, thối nát của chế độ độc Đảng đã chuyển hoá sang giai đoạn thối rữa, mục ruỗng bởi tham nhũng, bởi độc tài, phát xít. Đến hôm nay Đảng cộng sản Việt Nam không phải chỉ có mổ con quái thai Lê Duẩn mà nó đã hoành hành sản sinh ra hàng loạt quái thai như X, như Y.... Đó là hệ quả tất yếu của một chế độ độc Đảng...

Dù bưng bít nửa thế kỷ, nhưng cái gì của Lịch sử cũng sẽ trả về cho lịch sử. Ngày hôm nay chế độ độc Đảng tham nhũng tàn bạo với nhân dân, bóp nghẹt dân chủ, quỳ gối cầu vinh rồi cũng sẽ đến ngày nhân dân lôi ra ánh sáng. Cái ngày đó rồi sẽ đến cũng như chính Lê Duẩn có khi nào biết được rồi có một ngày 90 triệu người dân Việt Nam đã lôi ông ta từ dưới mồ lên để chịu tội cho những gì ông ta đã làm với cả dân tộc Việt Nam ta...

Muốn biết được một phần tội lỗi của Lê Duẩn, hãy đọc sách
Lê Duẩn và 'chiến tranh vì hòa bình'

Pierre Asselin
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Honolulu

Cập nhật: 08:11 GMT - thứ hai, 29 tháng 7, 2013

Vai trò của Lê Đức Thọ trong chính trị miền Bắc tương tự Henry Kissinger ở Mỹ?

Cuốn sách Hanoi's War (Cuộc chiến của Hà Nội) của Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng (tựa đề đầy đủ: Cuộc chiến của Hà Nội: một Biên khảo Sử học Quốc tế về Cuộc chiến tranh vì Hòa bình ở Việt Nam, NXB Đại học North Carolina, 2012) đưa ra bằng chứng và kiến giải tươi mới về các khía cạnh chính trị, ngoại giao và quân sự then chốt về cuộc chiến Việt Nam.

Nhờ tham khảo rất nhiều tài liệu tiếng Việt, bao gồm các nguồn sử liệu gốc thu thập từ Việt Nam, cuốn sách đã phân tích tư duy chiến lược của ban lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào giai đoạn thập niên trước và sau cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào năm 1965.

Một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của cuốn sách là số lượng chi tiết mà nó cung cấp về Đảng Lao động Việt Nam, cơ quan quyền lực của cộng sản kiểm soát miền Bắc. Tôi chưa được biết tới một nguồn tư liệu bằng tiếng Anh nào có thể l‎ý giải công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng cơ chế ra quyết định về chiến tranh của Hà Nội, tốt hơn là cuốn sách này.

Cuốn sách cũng đề cập các tranh cãi, cạnh tranh cừu thù trong nội bộ Đảng Lao Động, một giai đoạn từ trước tới nay vẫn còn yếu kém về tư liệu. Cuốn sách đặc biệt tỏ ra khéo léo trong việc trình bày các chia rẽ nội bộ Đảng sau khi ký kết hiệp định Geneva 1954 kết thúc chiến tranh Pháp-Việt Nam (1946-1954).
'Giải phóng' miền Nam

Một số đảng viên đảng Cộng sản, trong đó có nhiều người hoạt động ở miền Nam Việt Nam, lặng lẽ lên án quyết định của lãnh đạo cấp cao chấp nhận hiệp định và kêu gọi đình chỉ các chiến dịch quân sự và phân chia đất nước. Những đảng viên này cho rằng việc kết thúc chiến tranh sớm là hèn nhát, và họ nghĩ thật ngây thơ khi giả định rằng hai năm sau, sẽ có thống nhất đất nước trong hòa bình.

Khi rõ ràng là tổng tuyển cử sẽ không bao giờ thành hiện thực, ban lãnh đạo Đảng đã phải quyết định liệu (1) có chờ đợi các sự kiện ở miền Nam và tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc mà Đảng đã được thực hiện ngay sau khi ký kết hiệp định Geneva hoặc (2) theo đuổi "giải phóng" miền Nam bằng vũ lực vốn chịu nguy cơ khiêu chiến với Hoa Kỳ.
"Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ."

Thế tiến thoái lưỡng nan này phân chia giới lãnh đạo cấp cao của Đảng và các thành viên quan trọng khác thành hai phe đối địch, gồm phe ủng hộ lựa chọn thứ nhất và phe còn lại hậu thuẫn phương án sau. Cuốn “Cuộc chiến của Hà Nội” không chỉ đề cập sự phân cực, chia rẽ mà còn đề cập cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực ở thủ đô Bắc Việt.

Mặc dù một số học giả từ lâu đã nhận ra điều này và trên thực tế trước đây đã đề cập vấn đề này trong các tác phẩm của mình, nhiều độc giả vẫn ngạc nhiên khi biết rằng ông Hồ Chí Minh đã không còn là nhân vật trung tâm ở Hà Nội vào thời điểm cuộc chiến với Hoa Kỳ nổ ra.

Ông Hồ đã luôn là khuôn mặt biểu tượng của cách mạng Việt Nam, một điều chắc chắn, thế nhưng các cá thể khác ít được biết đến hơn thì lại thực sự nắm quyền quyết định ở Bắc Việt vào năm 1965.

Nổi bật trong số này, như trình bày của tác giả, là Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Đảng Lao động, và vị phó trung thành của ông, Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đầy quyền lực của Đảng.

Với sự hậu thuẫn từ ông Thọ, sử dụng các thủ đoạn lèo lái, lừa dối, và các chiến thuật, Lê Duẩn, một thành viên trung thành Nam tiến, đã thành công trong việc loại bỏ các đối thủ theo ‎ý thức hệ trong Đảng, trong đó có ông Hồ. Ông Duẩn tạo lập một cấu trúc điều hành cho phép ông ta có thể độc chiếm quyền lực chính trị, trở thành một nhà độc tài, và đưa Bắc Việt tiến vào con đường đụng độ chiến tranh với Hoa Kỳ.

Tác giả sách đưa ra một so sánh thú vị - và hợp lý - giữa cặp Duẩn – Thọ với bộ đôi phía Mỹ. Giống như Tổng thống Mỹ Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, lèo lái hoạch định các chính sách đối ngoại quan trọng dưới bức màn bí mật, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cũng làm điều tương tự ở Bắc Việt.

Theo tác giả, bước đường "chiến tranh vì hòa bình" của Hà Nội đều do Lê Duẩn hoạch định. Sự thiếu niềm tin của ông vào ngoại giao, quyết tâm của ông dùng bạo lực để "giải phóng" miền Nam, và niềm tin vào chiến thắng tất yếu của một chiến lược cách mạng giải thích việc Hà Nội, trong thời gian dài, cứng rắn cự tuyệt đàm phán nghiêm túc với Washington mà lại tìm kiếm thắng lợi bằng các phương tiện quân sự.

'Niềm tin sai lầm'

"Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ."

Niềm tin sai lầm của Lê Duẩn, theo tác giả, ít nhất phải chịu phần nào trách nhiệm về "những thương vong lớn" cho người Việt Nam ở cả hai bên vĩ tuyến mười bảy trong cuộc chiến tranh. Đây là một điểm rất quan trọng. Đối với nhiều người Mỹ và cả các học giả Hoa Kỳ, lâu nay họ xem xét cuộc chiến Việt Nam với một con mắt phê phán cho rằng chính các quyết định của chính quyền Hoa Kỳ đã đẩy Hà Nội đi tới những bi kịch do xung đột. Cuộc chiến tranh đã được sách vở Mỹ mô tả với các cách thức khác nhau như "chiến tranh Lyndon Johnson" và "chiến tranh Việt Nam của Nixon ", điều cho thấy rằng người Việt Nam ít chủ động hơn nhiều trong cuộc chiến so với người Mỹ. Cuốn "Cuộc chiến của Hà Nộ"i đã khắc phục sự mất cân bằng trong nhận thức, ít nhất, cho thấy chính Hà Nội, mà không phải là Washington, đã dàn trận các trận đánh đẫm máu nhất của cuộc chiến tranh, bao gồm cả trận Tết Mậu Thân 1968 và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1972.

Như tất cả các chuyên khảo đầy tham vọng, tác giả cũng mắc một số lỗi và thiếu sót nhất định. Trong phần đầu của cuốn sách, tác giả viết rằng "bộ máy chiến tranh" của Hà Nội đã được "kích hoạt" vào cuối năm 1961. Bằng chứng hiện hữu cho thấy sự tiêu diệt quân lực của chính quyền Sài Gòn không trở thành mối ưu tiên chiến lược đối với Hà Nội cho đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IX vào cuối năm 1963.

Đánh giá về giai đoạn cuối cùng trong cuộc chiến của tác giả đôi lúc có vấn đề. Một phần khá cầu kỳ của biên khảo rất tiếc lại bị vô hiệu bởi một tiết lộ về quan hệ đối ngoại gần đây của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới chỉ ra rằng trong khi phát động Chiến dịch Linebacker II, hay còn gọi là đợt "đánh bom Giáng sinh" vào Hà Nội và Hải Phòng, hồi tháng 12/1972, Nixon đã tìm cách chuyển thông điệp của ông nhằm đạt được "hòa bình trong danh dự" cho Hà Nội, mà không quan tâm đến phản ứng của Sài Gòn. Đó là, các vụ đánh bom vào tháng 12/1972 chỉ nhằm mục tiêu thuyết phục Hà Nội tiếp tục các cuộc đàm phán hòa bình bị đình chỉ và thừa nhận trên hai vấn đề còn lại để một thỏa thuận có thể được hoàn tất, nó không hề có ‎ý mong ông Thiệu tuân theo một giải pháp thương lượng.

Mặc dù có những thiếu sót nhỏ, cuốn ‘Cuộc chiến của Hà Nội’ là một công trình học thuật xuất sắc. Các sinh viên nghiêm túc nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam phải đọc cuốn sách này.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Phó Giáo sư sử học tại Hawaii Pacific University ở Honolulu, người có nhiều công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuốn "Một nền hòa Bình cay đắng: Washington, Hà Nội, và sự hình thành của Hiệp định Paris," "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội nghị Genève 1954: Một phê bình xét lại" trong Lịch sử Chiến tranh Lạnh...

BBC

 

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link