Vietnam










=== Image result for vietnam protests today
=====


lisa pham mới nhất [khai dân trí số>
https://www.youtube.com/results?search_query=lisa+pham+m%E1%BB%9Bi+nh%E1%BA%A5t+%5Bkhai+d%C3%A2n+tr%C3%AD+s%E1%BB%91


===

https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
=========================== NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg ====================
Biểu tình 5/3/2017
Image result for bom xang
NEWS HTD. https://www.youtube.com/channel/UCdcADcVxAwHvQZTjb95TGtg
Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts
Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts

Sunday, December 6, 2015

Công chức – Một nghề “hot” ở Việt Nam


Công chức – Một nghề “hot” ở Việt Nam

Hoàng Dung, thông tín viên RFA
2015-12-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Công chức – Một nghề “hot” ở Việt Nam Phần âm thanhTải xuống âm thanh
cong-chuc-305
Đợt thi tuyển công chức trực tuyến đầu tiên do Bộ Nội Vụ tổ chức hồi tháng 1 năm 2013.
Courtesy TPO
Theo một khảo sát khoảng 90% cử nhân Việt Nam sau khi tốt nghiệp họ đều tìm cách để vào làm trong các bộ máy của cơ quan nhà nước. Tại sao lại có thực trạng đó?
Phần lớn các cử nhân sau khi tốt nghiệp họ đều tìm mọi cách để được vào làm trong các cơ quan nhà nước, nhất là đối với giáo viên, tuy nhiên sau khi không được vào làm trong các cơ quan nhà nước thì họ mới chuyển hướng để xin vào làm trong các cơ quan ngoài nhà nước.

Lý do

Theo các công chức đang làm trong các cơ quan nhà nước cho biết thì khi họ đã được các cơ quan nhà nước nhận rồi, thì phần lớn họ đã được vào biên chế nên họ không sợ bị nhà nước đuổi mà công việc lại nhàn hạ, không bị áp lực về thời gian và công việc mà lương tháng lại được nhận đầy đủ, mà sau này về già họ lại có lương hưu để có thể tự cung cấp cho mình mà không bị lệ thuộc vào con cái.
Đa số đến 80% dân VN thì người ta luôn có 1 suy nghĩ là vào biên chế nhà nước để mà khi về già người ta có sổ riêng hưu của chế độ hưu chí, và có sổ lương và công việc thì nghĩ rằng là ổn định, cái đó là suy nghĩ mặc định  gần như là đa số là người dân VN . Đặc biệt là người Miền Trung và người Miền Bắc.
-Cô Nguyễn Thị Lan
Chị Nguyễn Thị Lan một giáo viên đang dạy tại một trường cấp 2 ở tỉnh Hà Tĩnh chia sẻ những lý do mà chị chọn dạy tại trường nhà nước mà không chọn dạy ở trương tư nhân dù trường tư nhân lương cao hơn trường nhà nước:
“Đa số đến 80% dân VN thì người ta luôn có 1 suy nghĩ là vào biên chế nhà nước để mà khi về già người ta có sổ riêng hưu của chế độ hưu chí, và có sổ lương và công việc thì nghĩ rằng là ổn định, cái đó là suy nghĩ mặc định  gần như là đa số là người dân VN . Đặc biệt là người Miền Trung và người Miền Bắc.”
Bên cạnh đó với tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” nên không chỉ gia đình mà còn họ hàng của người đó cũng được nhờ khi một người thân của họ được làm công chức.
Một cán bộ xin được giấu tên đang làm tại Hà Nội chia sẻ:
“Hiện nay, thì nhiều người muốn vào làm công chức để làm cán bộ, khi làm cán bộ được rồi khi đó mình sẽ có được tiếng nói và có thể giúp cho gia đình mình cũng như người thân của mình bằng cách này hay cách khác.”
Đối với quan chức Việt Nam thì họ chỉ là người đại diện cho dân và là đầy tớ của dân nhưng chị Nhật Trung một cán bộ ở Đà Nẵng cho biết được vào biên chế làm công chức nhà nước thì họ lại có tiếng và có quyền lực.
Chị Nhật Trung tiếp lời:
“Có tiếng, công việc ổn định và nhàn hạ.”
Chị Nguyễn Thị Thêu một giáo viên sau khi tốt nghiệp đại học xong không đủ tiền để chạy vào biên chế công chức nhà nước nên đành dạy tại một trường tư ở Nghệ An, nhưng chị vẫn muốn được làm trong bộ máy nhà nước vì theo chị làm trong bộ máy nhà nước thì công việc ít, lại có nhiều thời gian.
Chị Thêu tiếp lời:
“Giả như mình làm ở nhà nước, làm ở nhà nước thì khỏe hơn, thời gian không bị gò bó.”
cong-chuc-1-250
Công chức làm việc trong một cơ quan hành chính công ở Đà Nẵng, ảnh minh họa chụp trước đây. Courtesy LĐ.
Việc nhiều người muốn vào làm công chức nhà nước như một thực tế chỉ ra rằng họ chỉ thích làm thầy mà không thích làm thợ và với mục đích là thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình rồi mới phục vụ xã hội. Và khi làm trong công chức nhà nước họ không sợ bị mất việc trong khi làm trong tư nhân họ vừa làm vừa nơp nớm bị mất việc.
Một cán bộ ở Sài Gòn xin được giấu tên chia sẻ:
“Tình trạng thất nghiệp Việt Nam rất nhiều nên nhiều người muốn đổ xô vào làm công chức nhà nước.”

Vào công chức khó hay dễ

Với lý do trên nên nhiều cử nhân sau khi tốt nghiệp đã ôn thi để tìm cách cho vào được công chức nhà nước, để được nhận vào làm công chức thì họ phải trải qua 1 kỳ thi, nhưng theo nhiều người cho biết đó chỉ là cuộc thi trá hình.
Với hệ thống quan hệ, tiền tệ và trí tuệ nên nhiều người dù có học giỏi thế nào muốn cống hiến cho đất nước nhưng họ lại không được nhận vì gia đình họ nghèo, họ không quen biết nên không thể vào được công chức. Nhưng có nhiều người dù học kém không có bằng cấp vẫn được nhận và có thể làm được chức cao.
Cô giáo Nguyễn Thị Lan chia sẻ:
“Nói thẳng ra là chỉ có tiền, chỉ có bằng con đương là người ta chạy biên chế, chạy biên chế chứ không phải thi biên chế nữa, Thực tế bây giờ vào biên chế là khó vì đối với người nghèo, đối với người kinh tế thu nhập thấp mà để người ta có đủ tiền để chạy vào biên chế thì rất là khó.”
Chị Nhật Trung cho biết thêm:
“Khi có kết quả lại trái ngược với sự mong đợi, mấy người học giỏi thì lại rớt, mấy người học tèm tèm thì lại đậu”

Giảm năng suất lao động?

Hiện nay, thì nhiều người muốn vào làm công chức để làm cán bộ, khi làm cán bộ được rồi khi đó mình sẽ có được tiếng nói và có thể giúp cho gia đình mình cũng như người thân của mình bằng cách này hay cách khác.
-Một cán bộ
Việc sử dụng nhiều cán bộ công chức vừa làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh và dân phải nai lương ra nuôi bộ máy đó.
Dẫn lời của Thạc sỹ Trương Khắc Trà cho biết thì việc sử dụng nhiều công chức nhà nước đang làm cho năng suất lao động của Việt Nam giảm một cách đáng kể và thấp nhất thế giới.
Tuy nhiên cô giáo Lan lại chia sẻ:
“Chính những người ta vào với mục đích thì để người ta tiến thân lên con đường quyền lực giống như hình thức tham nhũng, quan liêu trong nhà nước từ cấp nhỏ đến cấp lớn chính những người đó đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến nền phát triển của nền kinh tế. Còn về hậu quả công việc thì cũng có mặt đúng là khi mà nhiều người  vào như vậy thì công việc nhàn hơn, có một đường lối đúng đắn thì hiệu quả làm việc sẽ tốt hơn, khi mà người thì làm quá nhiều công việc người thì khi mà ít người thì mỗi một người sẽ làm nhiều công việc thì hiệu quả làm việc chưa chắc đã tốt bằng cái nhiều người. Nhiều người mà nhàn thì người ta  có thể đầu tư trao đổi kiến thức về đường hướng, xu hướng để người ta có cách tốt nhất để giải quyết công việc ổn thỏa.”
Ông phó chủ nhiệm tư pháp Nguyễn Đình Quyền đã chia sẻ bên lề phiên họp quốc hội cho biết, nếu ông có toàn quyền ông sẽ sa thải 40% công chức hiện có và chỉ giữ lại 60% công chức vì theo ông 40% công chức đó không làm được việc lại làm cho bộ máy nhà nước cồng kềnh và dân lại bỏ ra 1 số lượng tiền thuế để phải nuôi những người “ăn không ngồi rồi”.
Việt Nam có hơn 90 triệu dân với diện tích 330 ngàn cây số vuông nhưng có đến 2,8 triệu công chức, trong khi Mỹ chỉ có 1,8 triệu và vương quốc Anh có 700.000 công chức.
Trên báo Vietnam.net cho biết thủ tướng vừa ký phê duyệt 270 ngàn biên chế trong năm 2016.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, August 31, 2014

Tư Lệnh Mỹ ở Á Châu-TBD kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực


Tư Lệnh Mỹ ở Á Châu-TBD kêu gọi TQ hành động tương xứng vai trò lãnh đạo khu vực

Sự thật đen tối của thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn với đàn bà


Tư Lệnh Quân đội Mỹ khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Đô Đốc Samuel Locklear
  •  
  •  
  •  

Tin liên hệ

  • TQ hoan nghênh VN bồi thường các nạn nhân các vụ biểu tình bạo động
  • Bà Bùi Thị Minh Hằng bị kết án 3 năm tù giam
  • Đặc phái viên Lê Hồng Anh nói gì với quan chức Trung Quốc?
  • Mỹ ‘quan ngại sâu sắc’ về bản án của 3 nhà hoạt động ở Đồng Tháp

Ðường dẫn

29.08.2014
Đô Đốc Samuel Locklear nói Trung Quốc nên hành động như một lãnh đạo khu vực và tiếp tay giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông.

Bản tin hôm nay của AP trích dẫn tuyên bố của Đô Đốc Locklear hôm thứ năm nói rằng Bắc Kinh nên từ bỏ những hành động hồi gần đây để khẳng định chủ quyền trên hầu như toàn bộ khu vực có tầm quan trọng chiến lược này, những hành động mà theo ông, có tính cách khiêu khích.
Đô Đốc Locklear nói rằng trong khi Trung Quốc tin rằng họ có cơ sở lịch sử vững chắc để đòi chủ quyền vùng biển này, các nước khác cũng có niềm tin vững chắc không kém về chủ quyền của họ đối với khu vực đó.

Nói chuyện với các ký giả tại Trung tâm Đông Tây có trụ sở tại Honolulu, Tư Lệnh Quân đội Mỹ tại khu vực Á Châu-Thái Bình Dương phát biểu:
“Trung Quốc là một lãnh đạo trong khu vực, một lãnh đạo trên thế giới. Họ có trách nhiệm lãnh đạo trong cuộc tranh chấp, để đạt một giải pháp tương nhượng về những vấn đề nan giải này với các nước láng giềng.”

Ông Locklear nói tất cả những nước đòi chủ quyền phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp cho vấn đề mà không dùng tới các biện pháp hù dọa.

Báo The Washington Times thuật lời của Đô Đốc Locklear nói rằng Trung Quốc đã khích động, và tạo bất ổn trong khu vực. Đô Đốc Locklear  nói rằng trong tư cách một lãnh đạo khu vực và nền kinh tế lớn nhất thế giới trong tương lai, Trung Quốc phải “có trách nhiệm lãnh đạo và tạo ra một môi trường an ninh trong khu vực. Thẳng thắn mà nói, quan điểm của tôi là Bắc Kinh đã làm ngược lại trong mấy năm gần đây.”

Ông liệt kê một loạt hành động của Bắc Kinh đã làm leo thang tranh chấp, kể cả “điều giàn khoan dầu vào các vùng biển gần Việt Nam, nạo vét biển quanh các quần đảo và bãi san hô, ra các luật lệ mới để cai quản các vùng tranh chấp, và thái độ miễn cưỡng, không muốn giải quyết vấn đề tại các diễn đàn pháp lý quốc tế.”

Đô Đốc Locklear nói nếu nhìn lại quãng thời gian một năm qua, ta thấy rằng Bắc Kinh đã đạt tiến bộ đáng kể trong việc thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho họ. Ông nói Trung Quốc có thể có những lập luận có tính thuyết phục, nhưng nước này cần phải đặt những lập luận ấy trong một khuôn sườn pháp lý hiện đại.

Ông nói yêu cầu của Hoa Kỳ là Bắc Kinh phải minh bạch hơn. Họ nghĩ họ có những lý luận vững chắc, nhưng chúng ta không thể biết chắc cho tới khi các lý luận đó được đưa ra mổ xẻ tại một diễn đàn quốc tế.

Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại khu vực Á Châu-Thái bình dương khẳng định rằng tất cả các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông phải tránh các hành động có tính khiêu khích, và tìm một giải pháp tương nhượng, mà mọi bên đều cảm thấy hài lòng.

Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei là các nước khác cũng tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.

Đánh giá các quan hệ Mỹ-Trung nói chung tại buổi họp báo ở Trung Tâm Đông –Tây ở Honolulu, Đô Đốc Locklear nói các quan hệ ấy về phần lớn, tới 80% là tích cực. Tuy nhiên những lời chỉ trích của ông như vừa kể, theo tờ báo TheWashington Times, là “một chỉ dấu cho thấy nỗi bực dọc với Bắc Kinh trong quân đội Hoa Kỳ đang gia tăng.”

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ - VOA, Chủ tịch Hội Đông Tây, Tiến sĩ Charles E. Morrison nói ông hy vọng xung đột quân sự sẽ không xảy ra. Điều cần thiết, theo Tiến sĩ Morrison, là khu vực Á Châu-Thái bình dương phải dồn nỗ lực để phát triển các tổ chức vùng, các cơ chế để giải quyết tranh chấp và phát triển hòa bình, tương tự như những điều mà Châu Âu đã thực hiện thành công sau hai cuộc Thế Chiến. Tiến sĩ Morrison:

“Chúng ta không đề cập tới xung đột quân sự trong khu vực, tôi hy vọng thế, điều mà chúng ta nói tới là những nỗ lực để thiết lập những định chế khu vực và định chế toàn cầu, và Hoa Kỳ tham gia rất tích cực vào các nỗ lực này. 

Theo cách nhìn của tôi thì trong thế kỷ 20 vừa qua, đã xảy ra hai cuộc thế chiến xuất phát từ Âu Châu, bây giờ dân chúng ở Pháp, ở Đức, ở Ý, và cả Mỹ nữa, họ không thể hình dung đất nước họ sẽ rơi vào chiến tranh. Họ đã thiết lập rất nhiều định chế sau này trở thành những dấu ấn của một cộng đồng quốc tế bền vững. Tôi cho rằng đây là một thách thức lớn đối với khu vực Á Châu-Thái bình dương trong thế kỷ 21. 

Chúng ta phải xây dựng các quan hệ như thế nào để chiến tranh trở thành một ý niệm không bao giờ có thể xảy ra. Đây là thách thức mà Hoa Kỳ sẽ tham gia hết mình để thực hiện, bởi vì mặc dù Hoa Kỳ về mặt địa lý không thuộc lục địa Á Châu, nhưng Hoa Kỳ có những lợi ích và những liên hệ mật thiết về mọi mặt kinh tế, xã hội, v..v.. với Á Châu, và sẽ tiếp tục có mặt trong tương lai của khu vực này.”

Thưa quý vị, Tiến sĩ Charles Morrison là Chủ tịch Hội Đông-Tây, một trong những viện nghiên cứu chính sách lớn nhất khu vực Châu Á-Thái bình dương.

Nguồn: AP, Washington Times, Xinhua, VOA Interview

Công nghiệp phụ trợ: “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ”

Vũ Hoàng, RFA
2014-08-29

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
08292014-vuhoang.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg8686356.jpg
Triển lãm xe công nghiệp Trung Quốc được lắp ráp tại VN hôm 12/6/2013, tại Hà Nội
 AFP photo




Thời gian gần đây, Việt Nam nhắc nhiều đến một yếu tố quan trọng để đưa nền kinh tế ra khỏi sự ảnh hưởng, lệ thuộc vào Trung Quốc và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu đó là đẩy mạnh những ngành “công nghiệp hỗ trợ”.

Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu và công cụ sản xuất hay sản phẩm tiêu dùng.

Trong cuốn “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam" G.S Trần Văn Thọ chỉ ra rằng “công nghiệp hỗ trợ” rất quan trọng vì ngoài việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chiều rộng và chiều sâu, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và tạo thêm việc làm một cách hiệu quả.
Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. 

TS Trần Văn Hải
Vì lẽ đó, nếu công nghiệp hỗ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh, khó thu hút được các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh Biển Đông còn nhiều phức tạp, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn vì thế ngành công nghiệp hỗ trợ càng có vai trò lớn hơn, nhằm đảm bảo tính chủ động của nền kinh tế quốc nội.

Thậm chí nhiều vị còn cho rằng “công nghiệp hỗ trợ” này phải mang tính chất “xương sống” của nền công nghiệp quốc gia.
Thế nhưng, trên thực tế ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa cất cánh và chưa được chú trọng đầu tư dù rằng đã có những quy hoạch phát triển do Chính phủ phê duyệt từ cách đây hàng chục năm.

Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, T.S Trần Văn Hải, nguyên là giảng viên bộ môn Kinh tế ở một trường đại học tại Hà Nội hiện đang làm tư vấn về đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài nhận xét:

“Những ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. Đơn giản, họ chỉ lắp ráp các sản phẩm công nghiệp ở trong nước, rồi sau đó mang đi xuất khẩu.

Chính vấn đề đó, nó giúp cho Việt Nam trong chuỗi sản phẩm không lớn. Cũng chính vì đặc tính trên nên giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm không nhiều.”

Ngoài ra, T.S Hải lấy thí dụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Malaysia những ngành công nghiệp hỗ trợ có vị trí rất quan trọng để phát triển nền công nghiệp trong nước, những quốc gia trên ưu tiên phát triển những ngành này từ những ngày đầu thực hiện công nghiệp hóa tại nước họ.
Kết quả là xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng ở những quốc gia trên có sự phân công lao động hợp lý và hiệu quả.

Nghịch lý Việt Nam

Nếu nhìn vào bức tranh chung, có thể nhận thấy vai trò của ngành công nghiệp trong nước hiện tại tạo ra giá trị gia tăng không nhiều trong chuỗi sản phẩm, vì thế phần đóng góp của Việt Nam không cao, chỉ được coi như “phần ngọn” trong khi “phần gốc” lại là hàng hóa nhập khẩu về từ một bên thứ ba.
Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất.
GS Vũ Văn Hóa

Chính điều này được giáo sư Vũ Văn Hóa gọi bằng cái tên “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ” ông phân tích:
“Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất, dệt may chẳng hạn, tăng trưởng của nó theo thông báo thì tương đối lớn trong xuất khẩu thế nhưng từ nguyên liệu là vải đến tất cả các việc tạo ra một cái áo, ngay cả mẫu mã cũng phải nhập ở nước ngoài. Như vậy Việt Nam chỉ có mỗi cái chi phí nhân công là chính mà chi phí nhân công của Việt Nam lại quá rẻ.”

Trong một buổi thảo luận gần đây về ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, G.S T.S Võ Thanh Thu của trường Đại học Kinh tế TPHCM đã phát biểu với truyền thông trong nước rằng “Việt Nam sắp đi hết chặng đường 30 năm đổi mới kinh tế, nhưng chỉ mới xây dựng được nền công nghiệp gia công mang tính phụ thuộc.

Nền kinh tế Việt Nam đứng trước một nghịch lý đó là nguyên liệu trong nước có khả năng cung cấp được thì hầu hết xuất khẩu thô như nông sản, than đá… công nghiệp chủ lực mang lại ngoại tệ cho đất nước chủ yếu gia công lắp ráp từ nguyên liệu nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển.”

Với hai điểm cơ bản thứ nhất là thoát khỏi sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, tăng cường tính chủ động cho nền kinh tế, và thứ hai là tăng cường giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu cũng như FDI, do đó, việc đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ hẳn là lúc cần phải được đẩy nhanh. 

Vậy những gì Việt Nam cần phải làm lúc này:
“Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện để mà khai thác các thị trường mặc dù họ vẫn có thể có cơ hội ở đâu đó thị trường trong nước, thị trường bên ngoài hoặc tạo thành các doanh nghiệp mang tính chất cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia vào các liên kết.

Cũng có thể là ban đầu ở vị trí thấp hoặc cung cấp một số sản phẩm thôi về sau nâng cấp dần để có thể tham gia sâu hơn vào những giá trị trong khu vực và toàn cầu.”
Vừa rồi là lời nhận xét của bà Phạm Chi Lan trong một lần phỏng vấn gần đây với chúng tôi khi nói về làm sao để thúc đẩy vai trò khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Theo số liệu thống kê, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện với quy mô sản xuất nhỏ, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm và chiếm tới hơn 97% số doanh nghiệp ở Việt Nam.

Nhiều chuyên gia cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là biện pháp hữu hiệu nhất để đối phó với khủng hoảng kinh tế cũng như khiến nền kinh tế nội địa chủ động hơn.

Bên cạnh biện pháp tăng cường vai trò của những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi sản xuất, việc đẩy mạnh vai trò của công nghiệp hỗ trợ cũng khiến môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ không còn phải lo lắng vấn đề nhập khẩu linh kiện, thiết bị phụ trợ hay các dịch vụ đi kèm từ một nước thứ ba.

Và cuối cùng khi một nền công nghiệp phụ trợ phát triển cũng sẽ đẩy mạnh tiến trình chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất.

Có thể nhận thấy tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trong khu vực, thế nhưng để ngành công nghiệp này phát huy tối đa hiệu quả thì còn là câu chuyện dài vì như lời T.S Trần Du Lịch nhận xét: “Bàn bạc bao nhiêu, cuối cùng cũng chỉ là những tài liệu cất trong hộc bàn.”


Thursday, June 19, 2014

Trí thức Mỹ nói không với Học Viện Khổng Tử của Trung Quốc



Trí thức Mỹ nói không với Học Viện Khổng Tử của Trung Quốc

Trong thập niên qua chính phủ Trung Quốc đã chi tiêu khá nhiều tiền bạc và nhân lực cho việc xây dựng quyền lực mềm để gia tăng ảnh hưởng của nước họ trên khắp thế giới.

Duy Ái
18.06.2014
Nỗ lực ngoại giao văn hóa của Trung Quốc mới đây gặp phải một thất bại lớn với việc Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa Kỳ (AAUP) hối thúc các trường đại học Tây phương cắt đứt quan hệ với Học Viện Khổng Tử. Trong một thông cáo công bố hồi đầu tuần này, AAUP nói rằng Học Viện Khổng Tử hoạt động như một công cụ của nhà nước Trung Quốc và được cho phép không tôn trọng tự do học thuật.

Hôm chủ nhật 15 tháng 6 vừa qua, ông Lưu Vân Sơn, Bí thư Ban Bí thư Trung ương của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã đến dự một hội nghị liên tịch của các Học Viện Khổng Tử ở Âu châu tổ chức tại thủ đô Dublin của Ireland (Ái Nhĩ Lan). Tại cuộc họp, nhân vật lãnh đạo đứng hàng thứ 5 của nhà cầm quyền Bắc Kinh bày tỏ hy vọng là các học viện này sẽ trở thành điều mà ông gọi là “đường xe lửa cao tốc tâm linh” nối liền giấc mơ Trung Quốc với giấc mơ của các nước và giấc mơ của thế giới.

Ông Lưu Vân Sơn đã phát biểu như vậy trong lúc báo chí quốc tế loan tin Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa kỳ (AAUP) thúc giục các trường đại học Tây phương cắt đứt quan hệ với Học Viện Khổng Tử vì những viện này vi phạm các tiêu chuẩn cơ bản của tự do học thuật và không tôn trọng tự do ngôn luận. Các nhà quan sát nói rằng hành động này của Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa Kỳ là một đòn nặng giáng vào dự án hàng đầu của nhà cầm quyền Bắc Kinh nhằm khuyếch trương quyền lực mềm của họ trên thế giới.

Theo tường thuật hôm thứ ba của tờ New York Times, AAUP kêu gọi các trường đại học bảo vệ các nguyên tắc tự do học thuật bằng cách chấm dứt hoặc thương thuyết lại những thỏa thuận đã đưa gần 100 chương trình ngôn ngữ và văn hóa do chính phủ Trung Quốc bảo trợ tới các khuôn viên đại học ở Mỹ và Canada. Một thông cáo của hiệp hội được thành lập từ năm 1915 và có 47.000 hội viên này nói rằng các trường đại học ở Mỹ đã đánh mất sự độc lập và phẩm giá của mình qua việc để cho chính phủ Trung Quốc quyết định về vấn đề  tuyển dụng và giám sát nhân viên giảng dạy, thiết kế học trình và đặt ra những giới hạn về tranh luận bên trong các Học Viện Khổng Tử.

Thông cáo này tố cáo “Học Viện Khổng Tử hoạt động như một công cụ của nhà nước Trung Quốc và được phép không tôn trọng tự học thuật”, và “hầu hết các thỏa thuận về việc thành lập Học Viện Khổng Tử bao gồm những điều khoản không được tiết lộ và những sự nhượng bộ không thể chấp nhận đối với các mục tiêu chính trị và cách làm việc của chính phủ Trung Quốc.”

Thông cáo trích dẫn một bài viết của giáo sư Marshall Sahlins trên tạp chí The Nation hồi tháng 10, trong đó vị giáo sư nhân chủng học của Đại học Chicago nói rằng “qua việc để cho Học Viện Khổng Tử được thành lập trong trường của mình, các đại học đó đã tham gia những nỗ lực tuyên truyền chính trị của một chính phủ nước ngoài với một cung cách trái ngược với những giá trị về tự do học hỏi và những phúc lợi của nhân loại.”

Trong thập niên qua, chính phủ Trung Quốc đã chi tiêu khá nhiều tiền bạc và nhân lực cho việc xây dựng quyền lực mềm để gia tăng ảnh hưởng của nước họ trên khắp thế giới. Và đối với các trường đại học nước ngoài, việc dùng tiền bạc của chính phủ Trung Quốc để mở các lớp giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc cho sinh viên của mình dường như là một việc chỉ có lợi mà không có hại gì cả. Do đó, kể từ khi Học Viện Khổng Tử đầu tiên được thành lập ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc vào năm 2004 tới nay, Trung Quốc đã lập ra hơn 400 Học Viện Khổng Tử tại 120 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết tính đến cuối năm 2013, có 850.000 học viên ghi danh theo học tại các Học Viện Khổng Tử và các lớp học Khổng Tử tại hơn 600 trường trung, tiểu học. Ngoài việc giảng dạy Hán Ngữ, Học Viện Khổng Tử còn dạy các môn học đàn, chơi cờ, thư pháp, hội họa và võ thuật Trung Quốc.

Các chuyên gia cho biết những chương trình giảng dạy tại các Học Viện Khổng Tử được thiết kế để phô bày một hình ảnh tích cực của Đảng Cộng sản đương quyền và có nhiều đề tài cấm kỵ trong học trình. Bà June Teufel Dreyer, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc của Đại học Miami, nói với tờ New York Times rằng phía Trung Quốc thường đòi các trường đại học Mỹ muốn họ giúp thành lập Học Viện Khổng Tử không được thảo luận về Đức Đạt Lai Lạt Ma hay mời nhà lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng này tới thăm trường. Bà Dreyer cho biết có rất nhiều đề tài cấm kỵ từ Tây Tạng, Đài Loan, cho tới kế hoạch tăng cường sức mạnh quân sự của Trung Quốc và những vụ đấu đá bên trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc.

Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa Kỳ không phải là tổ chức học thuật đầu tiên phản đối Học Viện Khổng Tử. Tháng 12 năm ngoái, Hiệp hội Giáo chức Đại học Canada cũng đưa ra một thông cáo để hối thúc các trường đại học cắt đứt quan hệ với Học Viện Khổng Tử vì những lý do tương tự.

Tại Việt Nam, việc thiết lập Học Viện Khổng Tử đã diễn ra tương đối chậm chạp vì những yếu tố tế nhị trong lịch sử của mối bang giao giữa hai nước. Mãi đến tháng trung tuần 10 năm ngoái, khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến thăm Hà Nội, hai nước mới ký kết một thỏa thuận để thành lập Viện Khổng Tử tại Trường Đại học Hà Nội.

Thỏa thuận đó đã gặp phải sự chỉ trích của khá nhiều nhân sĩ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, một nhà nghiên cứu của Viện Hán Nôm ở Hà Nội cho Đài phát thanh Úc biết rằng nhiều người Việt Nam lo ngại “Viện Khổng Tử ở Việt Nam không phải chỉ tuyên truyền về giáo lý, tinh thần triết học của Khổng Tử, Nho Học. Chức năng đào tạo tiếng Hoa, giới thiệu, quảng bá về văn hóa Trung Quốc, giao lưu văn hóa, tư vấn du học … như giới thiệu cũng chỉ là bề nổi."

Đằng sau nó chắc chắn sẽ là những hoạt động tuyên truyền về một nước Trung Hoa hiện đại, thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc.” Ông Ngô Nhân Dụng, một nhà bình luận nổi tiếng trong giới truyền thông Việt Nam ở hải ngoại cho rằng “Viện Khổng Tử chính nó không nguy hiểm, nhưng sẽ tác hại cho nước Việt Nam nếu chúng được sử dụng cho mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản Trung Quốc.”

http://www.voatiengviet.com/content/tri-thuc-my-noi-khong-voi-hoc-vien-khong-tu-cua-trung-quoc/1940017.html


Trung Cộng ôm chặt công hàm Phạm Văn Đồng.

China.org.cn - Phương Anh dịch

Trong lúc Dương Khiết Trì sang Việt Nam thì truyền thông Trung cộng (China.org.cn) mượn danh "ý kiến chuyên gia" hô hào tuyên truyền rằng:
Việt Nam cần phải tôn trọng công hàm Phạm Văn Đồng
 (China.org.cn 18/6/2014)
*
Dẫn: Bài viết ngụy biện nguy hiểm này vừa được đăng trên trang China.org.cn hôm nay, trong tình hình Dương Khiết Trì đang ở VN. Chúng ta cần đọc để  hiểu lập luận của China và tìm cách gỡ những vướng mắc để có thể đưa China ra tòa quốc tế một cách thành công.
Nguồn: http://www.china.org.cn/opinion/2014-06/18/content_32701491.htm
Phương Anh dịch

***** 

Hà Nội phải thực hiện bổn phận pháp lý đã được nêu rõ trong trao đổi ngoại giao công nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là của China.

Một giàn khoan của China bắt đầu hoạt động khoan dầu bình thường trong vùng biển ngoài khơi quần đảo Tây Sa của China vào ngày 2 tháng 5 đã trở thành nạn nhân của hàng loạt vụ quấy rối từ các chiếc tàu của VN, mặc dù VN không hề có cơ sở nào cho phép thực hiện những hoạt động phá hoại và nguy hiểm của mình.

HN cần quay trở lại với sự công nhận đã có từ lâu rằng Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của TQ. Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 chính phủ CHNDTH đã ra thông báo rõ ràng rằng quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc và nguyên tắc trên lãnh hải có chiều rộng chủ quyền của 12 hải lý được áp dụng đối với các quần đảo. 

Trong một công hàm ngoại giao gửi Thủ tướng China là Chu Ân Lai 10 ngày sau đó, Phạm Văn Đồng, Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết ông "công nhận và tán thành" tuyên bố của China và cam kết "tôn trọng đầy đủ" chủ quyền trên biển của China trong các quan hệ giữa hai nhà nước. Công hàm đã được ký này được VN gọi là "công thư của PVĐ".

Trước năm 1974, nước VNDCCH không hề có yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa của China, cũng không hề tuyên bố những quần đảo này nằm trong phạm vi chủ quyền của mình. Ngược lại, chính phủ VN đã khẳng định lập trường của mình, cả bằng lời lẫn trên văn bản, rằng hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là thuộc về China.

Việt Nam đã chỉ thay đổi lập trường  sau khi thống nhất Bắc-Nam sau năm 1975 và từ đó đến nay luôn cố gắng diễn giải sai lệch và chối bỏ lập trường chính thức đã được nêu rõ trong công hàm PVĐ.

Trong chuyến viếng thăm China vào tháng 6/1977, để trả lời những phê phán của các nhà lãnh đạo China về việc thay đổi lập trường, PVĐ đã trả lời rằng "trong cuộc chiến chống Mỹ, VN phải đặt việc chống Mỹ lên trên hết, vì vậy cần phải hiểu các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ, kể cả bức thư của tôi gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, trong tình huống lịch sử lúc ấy."

Với lời chống chế thiếu thuyết phục này, PVĐ đã tỏ rõ lập luận rằng để đạt được mục đích tối thượng là độc lập và thống nhất, VN có thể làm bất cứ điều gì và không phải chịu trách nhiệm về những hậu quả sau đó. Một số học giả VN đã cố gắng lập luận rằng công hàm PVĐ chỉ là một cử chỉ nhằm ủng hộ China với tư cách là một quốc gia đồng minh vào thời ấy và vì vậy không có liên quan gì đến yêu sách lãnh thổ. 

Vào thời điểm mà VN đang có chiến tranh với Mỹ, nước này cần phải công nhận tuyên bố chủ quyền lãnh hải của chính phủ China để có thể có được sự hỗ trợ của Bắc Kinh, lúc ấy đang viện trợ cho VN.

Những lập luận ích kỷ từ phía VN không có chỗ đứng trong quan hệ quốc tế hiện đại.

Sự thật là China và VN đã có quan hệ hữu nghị tốt đẹp vào thời điểm ấy và VN đã có những cử chỉ ủng hộ China trên trường quốc tế trong một số trường hợp. Tuy nhiên, lãnh thổ luôn luôn là vấn đề quan trọng vì nó liên quan đến chủ quyền của một quốc gia. Nếu VN không đồng ý với China về vấn đề lãnh thổ liên quan đến hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, thì PVĐ lúc ấy với tư cách là thủ tướng VN, một quốc gia luôn có lập trường dân tộc cứng rắn, hẳn đã không gửi bức công hàm ấy đến cho China, hoặc ít nhất sẽ không đề cập đến hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Sự thật là VN đã gửi một công hàm ngoại giao với lời lẽ pháp lý chặt chẽ như vậy chỉ 10 ngày sau khi China đưa ra tuyên bố này, nhằm bày tỏ sự ủng hộ với Bắc Kinh. Điều này, cùng với việc VN đã nhiều lần công khai công nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của China, đã đủ để chứng minh công hàm PVĐ thừa nhận hai quần đảo là một phần lãnh thổ cố hữu của China đại diện cho lập trường thực của chính phủ VN.

Và cũng chẳng có chứng cứ nào để có thể nói rằng China đã lợi dụng việc VN cần hỗ trợ trong chiến tranh để buộc chính phủ VN phải đi ngược lại với nguyện vọng của mình và công nhận yêu sách lãnh thổ của China. Việc gửi bức công hàm đến chính phủ China và sử dụng những lời lẽ như vậy hoàn toàn là quyết định từ phía VN.
Theo các luật lệ, cách hành xử và chuẩn mực quốc tế, công hàm PVĐ là một tuyên bố đơn phương của một quốc gia có thể tạo ra một bổn phận pháp lý và chính phủ VN buộc phải thực hiện bổn phận ấy. PVĐ vẫn còn là thủ tướng sau khi thống nhất Bắc-Nam và cũng chẳng có thay đổi gì về bản chất công hàm mà ông đã gửi đến China với tư cách một tuyên bố đại diện cho một nước vào năm 1958.

Chính phủ VN không thề chối bỏ hiệu lực pháp lý của công hàm PVĐ. Bổn phận của VN là phải giữ lập trường nhất quán với bức công hàm ấy.
nguồn: http://vietnammaritime.blogspot.de/2014/06/


Trung Quốc hợp pháp hóa chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

RFA 18.06.2014
Tờ Economic Observer có trụ sở tại Bắc Kinh hôm nay cho biết chính quyền Trung Quốc sẽ áp dụng chính sách mới cho phép dân chúng Hoa lục có quyền sở hữu đất đai tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà nước này đã chiếm của Việt Nam trước đây.
Nguồn tin của báo này còn xác nhận người dân, doanh nghiệp Trung Quốc ai cũng có thể đăng ký quyền sở hữu và sử dụng đất, nhà ở trên vùng biển đảo và quần đảo tại khu vực Biển Đông. Điều này có nghĩa là Trung Quốc xác định chủ quyền một cách bất hợp pháp đối với những đảo mà họ đã chiếm của Việt Nam trước đây.
Tờ Economic Observer xác nhận việc đăng ký sử dụng đất những nơi này sẽ bắt đầu vào năm 2018.

Trung Quốc mang giàn khoan thứ hai vào Biển Đông


Giàn khoan này có tên Biển Đông số 9 cũng thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc.

Giàn khoan số 9 được cho là sẽ đưa vào khu vực đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tăng số giàn khoan hoạt động trái phép lên hai giàn và chưa có dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc sẽ không tiếp tục mang những giàn khoan khác nhằm uy hiếp các nước trong khu vực.

Báo chí Trung Quốc úp mở cho biết nước này đã đóng mới ít nhất là ba giàn khoan tương tự như HD 981 đang cắm tại vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, những giàn khoan này có số hiệu HD 982, HD 943 và 944, tổng trị giá các giàn khoan này lên đến 1 tỷ đô la.


http://www.rfa.org/vietnamese/internationalnews/beijing-allows-rights-using-land-paracel-spratly-06182014141847.html

Monday, March 31, 2014

Trung Quốc, một cường quốc chưa định hình


Trung Quốc, một cường quốc chưa định hình

Ảnh : Wikipedia

RFI

Từ 22/03 đến 01/04/2014, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình công du Châu Âu. Nhân dịp này, báo Le Monde ngày 27/03/2014, có bài phân tích của chuyên gia Valerie Niquet, chuyên gia Châu Á thuộc Fondation pour la recherche stratégique, Paris, nhan đề : Trung Quốc, một cường quốc chưa định hình. Sự lúng túng của Bắc Kinh trong hồ sơ Ukraina. Xin giới thiệu cùng bạn đọc

Chủ tịch Tập Cận Bình tới Châu Âu, trong tư thế tỏa ánh hào quang là Chủ tịch cường quốc thứ hai thế giới. Thế nhưng, liệu nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có thực sự được tính đến trong hàng ngũ tất cả các cường quốc hàng đầu trên thế giới hay không ?
Trung Quốc dường như có tất cả những chỉ dấu cơ bản của một cường quốc. Với nền kinh tế tăng trưởng mạnh, cho dù có bị chậm lại một cách đáng lo ngại từ hai năm qua, Trung Quốc tự hào về vị trí thứ hai của mình trên thế giới, sau khi lấy được thứ hạng này của Nhật Bản vào năm 2010. Trung Quốc cũng có các khả năng quân sự gia tăng đều đặn, với biểu tượng là có một hàng không mẫu hạm, vừa hoàn thành chuyến công tác đầu tiên ở biển Trung Hoa. Chương trình không gian đầy tham vọng của Trung Quốc trái ngược hẳn với sự èo uột của Châu Âu trong lĩnh vực này. Cuối cùng, và đó chắc chắn là thế mạnh chính của Bắc Kinh, Trung Quốc nằm trong số 5 thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, những quốc gia này, với quyền phủ quyết của mình, chi phối các vấn đề quốc tế.
Cho dù có những biểu hiệu như vậy, nhưng trên trường quốc tế, Trung Quốc tỏ ra như một cường quốc chưa định hình. Một cường quốc rụt rè hơn là một cường quốc có trách nhiệm và đặc biệt là một cường quốc hoàn toàn chỉ chú trọng đến bản thân mình và chỉ bảo vệ các lợi ích quốc gia. Thế nhưng, đôi khi thế giới cần nghe tiếng nói của các nước khác và đòi hỏi Bắc Kinh phải dấn thân, chấp nhận những lập trường khó khăn.
Vì thế, vấn đề Ukraina đã làm rõ những hạn chế của cường quốc Trung Hoa, trong tư cách là một tác nhân quan trọng trên sân khấu quốc tế. Sau vụ Nga can thiệp vào Gruzia năm 2008, các vấn đề về Crimée đặt ra một thách thức thực sự đối với các lãnh đạo Trung Quốc, buộc họ phải có ý kiến, giữa một bên là việc thường xuyên bác bỏ quyền can thiệp, nền tảng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh và chiến lược quyến rũ của Trung Quốc tại Châu Phi, Trung Đông hoặc Châu Mỹ La tinh ; và bên kia là sự cần thiết phải giữ gìn mối quan hệ đối tác chiến lược với Matxcơva, cho dù mối quan hệ này không vững chắc như người ta tưởng.
Đối với các tân lãnh đạo Trung Quốc, được đào tạo trong Cách mạng văn hóa, thời kỳ mà tất cả lực lượng của Trung Quốc đã được huy động lên vùng biên giới phía bắc trong không khí bài Liên Xô cuồng loạn, thì giờ đây, không thể gạt bỏ mối lo ngại về nước Nga. Việc hoàn tất «giấc mơ Trung Hoa » hùng mạnh tại Châu Á, không đi ngược lại các lợi ích của Matxcơva, nhưng chắc chắn Vladimir Putin không sẵn sàng lựa chọn giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, bắt đầu từ Ấn Độ, Việt Nam và thậm chí cả Nhật Bản. Và kịch bản về những căng thẳng mới với cường quốc Nga, tuy không đeo găng tay, dùng sức mạnh để áp đặt các lợi ích của mình, sẽ buộc Trung Quốc đi chệch ra khỏi mục tiêu chính của mình hiện nay là – ngoài việc tiếp tục tăng trưởng – muốn khẳng định sức mạnh của mình tại biển Trung Hoa, ở sườn phía đông và phía nam Trung Quốc.
Vả lại, nếu Trung Quốc tiếp tục coi trọng mối quan hệ đối tác với Nga, thì chính là bởi vì quan hệ đối tác này cho phép Trung Quốc mở rộng khả năng hành động đối với Hoa Kỳ và tái lập một dạng quan hệ tam giác ngược. Khác hẳn với những gì đã xẩy ra vào thời kỳ cuối chiến tranh lạnh, giờ đây, chính Matxcơva và Bắc Kinh đã về bè với nhau, nhất là trong vấn đề các giá trị phổ quát, để đối mặt với « phe phương Tây » do Washington dẫn đầu.
Trong bối cảnh đó, vấn đề Ukraina đặt Trung Quốc vào vị thế rất khó khăn. Bắc Kinh đã phát triển quan hệ hợp tác chặt chẽ với Kiev, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, và công nghệ của Ukraina, được kế thừa từ Liên Xô, thường xuyên cho phép Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tránh né được các quy định của Nga trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ quân sự. Trong các điều kiện này, khó mà không lên án. Một số người tại Trung Quốc cũng nhắc lại rằng sau cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự bảo trợ của nước Liên Xô non trẻ mà vùng Ngoại Mông đã tách ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc.
Thế nhưng, vấn đề Ukraina cũng đặt ra một thách thức đối với Châu Âu và các nền dân chủ phương Tây trong quan hệ với Bắc Kinh. Thực vậy, việc lên án cuộc trưng cầu dân ý tại Crimée trùng với lập trường của chính quyền Trung Quốc, vẫn luôn luôn chống lại việc tổ chức tham khảo ý kiến người dân mà không chú ý tới tổng thể nước Trung Hoa, như trước đây là trường hợp Hồng Kông và trong tương lai, có thể là Đài Loan ; Bắc Kinh lên án trước mọi ý định đòi độc lập mà người dân bày tỏ. Do vậy, việc Trung Quốc không bỏ phiếu tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc – một sự lên án kín đáo việc Nga dùng vũ lực – không cho phép xếp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào hàng ngũ các nền dân chủ có trách nhiệm. Lại một lần nữa, các lợi ích quốc gia, chứ không phải việc tôn trọng các giá trị phổ quát, chi phối quyết định này.
Vả lại, đối với Bắc Kinh, các căng thẳng tại Ukraina, cũng như cuộc khủng hoảng Syria, cho thấy lợi ích của việc tác động đến những lựa chọn chiến lược của Hoa Kỳ, gây khó khăn hơn – hoặc ít dễ dàng để bảo vệ - cho việc Washington giảm cam kết đối với Châu Âu và Trung Đông nhằm thực hiện một sự xoay trục sang Châu Á, kìm hãm các tham vọng của Trung Quốc trong khu vực.
Và trong bối cảnh có các gò bó chặt chẽ về ngân sách, vấn đề được đặt ra, đối với Hoa Kỳ và cả Châu Âu, là phải chăng các rủi ro bất ổn nghiêm trọng đến từ bán đảo Crimée hay từ những căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.




Quả bom nợ ở Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Thứ Sáu, 7 Tháng Ba, 2014, công ty Siêu Nhật Thái Dương ở Thượng Hải đã thú nhận không thể trả đủ số tiền lãi gần 90 triệu được Nguyên (14.6 triệu đô la Mỹ) cho các trái khoán mới phát hành hai năm trước. Ngày Thứ Ba, công ty này đã loan báo họ không thể đi vay nợ thêm để trả tiền lãi, sau khi cố gắng kiếm được khoảng 4 triệu đồng Nguyên.
Siêu Nhật Thái Dương thành lập năm 2003, chuyên bán các bản kính biến năng lượng mặt trời thành điện bán ra khắp thế giới, thuộc một ngành đã phát triển rất nhanh trong mươi năm gần đây. Ðây là công ty đầu tiên khai vỡ nợ trong thị trường nội địa Trung Quốc mà không được chính quyền ra tay cứu. Trước đó, có những công ty Trung Quốc đã khai vỡ nợ trên các trái khoán vay bằng đô la Mỹ, ở nước ngoài; như công ty Trại Duy Thái Dương ghi danh ở Cayman Islands, và công ty Suntech Power Holdings Co khai phá sản tại tòa án ở Mỹ.
Siêu Nhật Thái Dương phá sản, cho thấy Ðảng Cộng sản Trung Quốc đang làm đúng lời hứa hẹn gần đây, là để cho thị trường đóng vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế, ít nhất đối với một công ty nhỏ và một món nợ nhỏ. Cho đến Tháng Giêng vừa qua, một quỹ đầu tư lớn là Trung Thành Tín Thác đã được nhà nước bỏ tiền ra cứu sau khi không có tiền trả nợ cho các trái chủ. Lý do khiến đảng Cộng sản phải cứu các trái phiếu này, không để cho vỡ nợ là vì những trái chủ mua nhiều phiếu nhất chính là các ngân hàng lớn do nhà nước làm chủ. Nếu để cho công ty phát hành khai phá sản thì cả hệ thống ngân hàng đều lâm nạn!
Các xí nghiệp nhà nước ở Trung Quốc thường vay nợ của các ngân hàng, vì bên cho vay và bên đi vay đều thuộc quyền đảng cộng sản; nếu không trả được nợ cũng xí xóa! Thị trường trái phiếu mới phát triển gần đây, khác với giao dịch ngân hàng, cho phép các xí nghiệp phát hành “giấy nợ” (trái phiếu), cho công chúng. Thị trường này đã lớn lên rất nhanh, hiện nay tổng số nợ đã có trị giá trên giấy tờ khoảng 4,200 tỷ đô la Mỹ; tương đương với số ngoại tệ dự trữ tại ngân hàng trung ương. Vụ vỡ nợ của Chaori Solar còn rất nhỏ, nhưng cho thấy thị trường trái phiếu trong nước Tầu đang bị đe dọa với nhiều vụ phá sản khác. Các công ty sản xuất khí cụ biến ánh sáng mặt trời thành điện đua nhau ra đời nhờ nhu cầu lớn trên thế giới, kỹ thuật dễ bắt chước các nước tiên tiến và tiền lương công nhân tương đối vẫn thấp.
Nhưng số xí nghiệp bước vào ngành này nhiều quá, vay tiền để phát triển khả năng sản xuất rất nhanh trong khi nhu cầu trên thế giới bắt đầu giảm dần. Chaori Solar là công ty đầu tiên bị vỡ nợ vì không bán được hàng, nhưng chắc không phải là công ty chót phá sản. Trong năm 2014 này sẽ có nhiều công ty cùng ngành điện mặt trời phải trả đến tiền vốn đã vay, tổng số vốn phải trả cho các trái phiếu đáo hạn lên tới gần 8 tỷ đô la.
Ngành điện mặt trời cũng tương đối nhỏ. Các món nợ, vay qua ngân hàng hoặc vay bằng trái phiếu, của các ngành khác cũng đang lo ngại khó trả được, thuộc công nghiệp luyện thép, nhôm, làm tàu thủy, và khai thác than. Tất cả đều do cùng một nguyên nhân là vay nợ để phát triển khả năng sản xuất trong khi nhu cầu trong nước và trên thế giới không tăng mà lại giảm.
Nợ đang là một mối lo lớn của nền kinh tế Trung Quốc. Nó có thể bùng nổ khi các công ty không thể trả được nợ cho các ngân hàng hay trái chủ, và các ngân hàng chứa quá nhiều “nợ xấu” không thể tiếp tục cho vay, cả nền kinh tế vì thế sẽ đình trệ, giống như cơn khủng hoảng bắt đầu năm 2007 ở Mỹ, khi quá nhiều người vay tiền mua nhà rồi không trả được nợ. Ngày Thứ Tư vừa qua, Thủ tướng Lý Khắc Trường đọc báo cáo trước 2,900 đại biểu quốc Hội đã tuyên bố chính phủ ông hứa sẽ “tháo gỡ quả bom nợ” không cho nó bùng nổ!
Công ty nghiên cứu Thomson thuộc hãng Reuters cho biết tổng số nợ của 945 công ty ghi danh trên các thị trường chứng khoán ở Trung Quốc đã tăng từ 1,820 tỷ được Nguyên năm 2008 lên tới 4,740 tỷ trong năm 2013, tức là tăng hơn hai lần trong năm năm. Trong năm năm vừa qua, tổng số nợ đã gia tăng, từ 120% Tổng Sản lượng Nội địa (GDP) lên tới 215% GDP. Hầu hết các món nợ chồng chất và sẽ thiếu khả năng trả tiền vốn và lãi cho các ngân hàng chính là các doanh nghiệp nhà nước lớn và các chính quyền địa phương. Năm 2007, thị trường trái phiếu của các doanh nghiệp trị giá tổng công an 800 tỷ đồng nguyên, năm 2013 đã tăng hơn 10 lần, thành 8,700 tỷ. Tỷ số nợ trên tài sản của các xí nghiệp Trung Quốc đã lên tới 93%, trong khi ở các nước Châu Á khác trong mười năm qua chỉ lên tới tỷ số trung bình là 70%.
Quả bom nợ tại Trung Quốc đã đe dọa bùng nổ từ ba bốn năm qua, nhưng được trì hoãn vì chính quyền trung ương vừa bỏ tiền ra cứu, vừa ra lệnh giảm bớt việc cho vay. Trong nền kinh tế nửa thị trường, nửa chỉ huy, đảng Cộng sản vừa đóng vai chủ nợ, qua các ngân hàng của nhà nước, vừa đóng vai con nợ, qua các công ty quốc doanh và cơ quan chính quyền địa phương.
Giống như tay phải rút tiền từ trong túi ra cho tay trái vay vậy. Khi số nợ xấu gia tăng đến mức đe dọa, đảng cộng sản có thể ra lệnh cho tay phải giảm bớt, không cho tay trái vay nữa. Họ đã từng tăng lãi suất, tăng số dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, để ban lệnh ngưng bớt việc gia tăng tín dựng. Khi số nợ xấu của các ngân hàng lên quá cao, nhà nước bèn bỏ tiền ra, lập ra một cơ quan đứng mua các món nợ xấu đó. Số nợ xấu trong sổ sách của các ngân hàng thương mại giảm ngay lập tức, vì đảng cộng sản lấy công quỹ “mua” các món nợ xấu đó; tức là lấy tiền của dân chúng bù lỗ cho việc làm ăn thất bại của cả hệ thống, từ các doanh nghiệp nhà nước đến các chính quyền địa phương, và các ngân hàng.
Tất nhiên, tình trạng đó gây ra một tâm lý “ỷ y” của tất cả các cán bộ trong hệ thống, trong ngôn ngữ kinh tế học gọi là “moral hazard” (mối rủi ro vì tinh thần ỷ lại). Nếu biết mình không bao giờ lo vỡ nợ, có thất bại cũng không lo mất chức, thì ai còn thấy cần phải cố gắng làm việc có hiệu quả hơn?
Cho nên trước đây hai tháng, Trung Ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã tuyên bố trong thời gian tới sẽ để cho thị trường đóng vai quyết định, thay vì để cho nhà nước quyết định tất cả. Muốn vậy, phải ra lệnh cho các ngân hàng giảm bớt số tín dụng, không được cho vay nhiều như trước nữa. Nhưng tuyên bố thì dễ, thực hiện mới khó.
Cũng trong ngày Thứ Tư vừa qua, ông Lý Khắc Cường đã nói trước quốc hội rằng sẽ đặt mục tiêu phát triển kinh tế trong năm nay là 7.5%. Con số này khiến nhiều người nghi ngờ khả năng kiềm chế tín dụng của chính quyền Bắc Kinh. Bởi vì muốn kinh tế phát triển ở mức 7.5%, kinh tế Trung Quốc không thể dựa vào người tiêu thụ tiêu tiền, như ở các nước tiên tiến. Thúc đẩy người dân tiêu thụ khó hơn, vì cơ cấu kinh tế vẫn không nâng đỡ người tiêu thụ. Dễ dàng hơn cả, là chính quyền Trung Quốc cứ tiếp tục đổ tiền cho các doanh nghiệp nhà nước và các chính quyền địa phương, cho họ đầu tư mở mang thêm những nhà máy sản xuất ra rồi không bán được hàng, và xây dựng thêm những xa lộ, phi cảng không cần thiết, và dựng những khu gia cư xây lên không ai mua ở.
Quả bom nợ vẫn tiếp tục đe dọa nặng nề trong năm nay. Số tiền nợ các ngân hàng không đáng lo bằng số tiền mà các quỹ tín thác (trust) cho vay. Ðây là một hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối,” vì họ có thể gây vốn, cho vay, nhưng không phải tuân theo luật lệ ngân hàng bình thường. Những quỹ tín thác là một phương tiện làm tiền của các đại gia, trong đó có cả các người quản lý các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng nhà nước lớn. Họ có thể vay tiền của chính xí nghiệp hay ngân hàng của họ, đem góp vốn, rồi cho vay với lãi suất cao hơn, kiếm lời dễ dàng. Ðại đa số các xí nghiệp tư nhân không thể đi vay ngân hàng, đều đến vay các quỹ tín thác. Tổng số nợ mà các quỹ tín thác cho vay năm nay đã lên tới 4,600 tỷ đồng nguyên, tương đương với 750 tỷ đô la Mỹ. Trong năm 2014, một phần ba số nợ đó đáo hạn, mà rất nhiều công ty đứng vay nợ đang gặp khó khăn.
Số nợ của các chính quyền địa phương đã tăng 67% từ năm 2010, lên tới 17,900 tỷ đồng nguyên, khoảng 300 tỷ đô la trong năm 2013, theo số thống kê của nhà nước cộng sản. Trong năm nay, một nửa số nợ đó cũng đáo hạn. Theo ước tính của chuyên gia Ngân hàng Standard Chartered thì một nửa số nợ đó sẽ không trả được.
Theo cuộc nghiên cứu khác của ngân hàng JP Morgan thì tổng số nợ của các quỹ tín thác đã tăng gấp đôi trong ba năm, 2010 đến 2012, lên tới gần 6,000 tỷ Mỹ kim, lớn bằng 70% tổng sản lượng nội địa Trung Quốc. Trong năm 2013, tổng số đó đả tăng thêm 46% nữa. Ðiều nguy hiểm là hệ thống “ngân hàng nửa sáng nửa tối” này nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng trung ương.
Trung Quốc đang ngồi trên một quả bom nợ. Không biết bao giờ thì bom sẽ nổ.

Trung Quốc tịch thu 14,5 tỉ đô la tài sản liên quan đến Chu Vĩnh Khang

Cựu Bộ trưởng Công an Trung Quốc Chu Vĩnh Khang.
Cựu Bộ trưởng Công an Trung Quốc Chu Vĩnh Khang.
REUTERS/Jason Lee/Files
Chính quyền Trung Quốc đã tịch thu số tài sản trị giá 90 tỉ nhân dân tệ (14,5 tỉ đô la) từ những người thân cận của cựu Bộ trưởng Công an Chu Vĩnh Khang, nhân vật đang là trung tâm của một xì-căng-đan tham nhũng chưa từng thấy tại Trung Quốc từ hơn 60 năm qua. Hãng Reuters hôm nay 30/03/2014 dẫn hai nguồn tin thân cận chính quyền Bắc Kinh cho biết như trên.
Trên 300 người có liên quan đến ông Chu Vĩnh Khang, gồm đồng minh chính trị, người thân và nhân viên đã bị câu lưu hay thẩm vấn trong bốn tháng vừa qua.

Tầm cỡ các vụ tịch biên và cuộc điều tra khiến hồ sơ này trở thành khổng lồ trong một Trung Quốc hiện đại, có thể là dấu hiệu cho thấy ý chí của Tập Cận Bình đấu tranh chống tham nhũng ở cấp cao nhất của Nhà nước. Tất nhiên ngược lại đây cũng có thể là sự trả thù về chính trị đối với ông Chu Vĩnh Khang, người đã phản đối việc bắt giữ Bạc Hy Lai – bị bắt giam hồi tháng 9/2013 vì tham nhũng và lạm dụng quyền lực.

Cựu Bộ trưởng Công an, 71 tuổi, đã về hưu từ tháng 11/2012 sau thời gian dài là ủy viên thường trực Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực tối cao của Trung Quốc, từng là Bí thư tỉnh ủy Tứ Xuyên từ 1999 đến 2002, theo bản tiểu sử chính thức.
Ông Chu Vĩnh Khang cũng là cấp trên của Bạc Hy Lai – nhân vật chính trong xì-căng-đan chính trị lớn nhất Trung Quốc từ sau khi « bè lũ bốn tên » do vợ góa của Mao Trạch Đông cầm đầu bị thất thế năm 1976, vào cuối Cách mạng Văn hóa. Một nguồn tin giấu tên thân cận với chính quyền nhận xét : « Đó là sự kiện tệ hại nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại ».

Bắc Kinh hiện thời chưa chính thức thông tin về hồ sơ Chu Vĩnh Khang, và hiện cũng không thể tiếp xúc với ông Chu hay gia đình ông, cũng như bất kỳ người thân cận nào của cựu Bộ trưởng Công an. Đồng thời không thể biết ông có được sự hỗ trợ của luật sư hay không.

Việc tịch thu tài sản những người thân cận của Chu Vĩnh Khang liên quan đến các tài khoản ngân hàng, cổ phiếu các công ty Trung Quốc và nước ngoài. Chính quyền cũng tịch biên khoảng 300 căn hộ và biệt thự trị giá khoảng 1,7 tỉ nhân dân tệ, những bức tranh cổ và đương đại có giá thị trường 1 tỉ nhân dân tệ, và khoảng sáu chục chiếc xe, cùng nhiều loại rượu đắt tiền, vàng bạc, tiền mặt nội tệ và ngoại tệ.

Theo các nguồn tin, tổng cộng số tài sản tịch biên lên đến 90 tỉ nhân dân tệ, nhưng trước mắt chưa thể nói được trong đó có bao nhiêu là tài sản phi pháp. Số tiền được chính thức loan báo sẽ thấp hơn nhiều, để khỏi lăng nhục Đảng Cộng sản và gây phẫn nộ cho dư luận.





Bài viết của GS Stephen B. Young. Ông qúa thấu hiểu VN và cũng như sử Việt nói chung nên bài của ông qúa chi tiết mà một người VN chúng ta chắc chưa có một bài tương tự. Nhờ phổ biến rộng đến từng tầng lớp dân tại VN/ PQA.

Ông Young, ng
ười Hoa Kỳ, Luật sư, nói tiếng Việt, có vợ là người Việt, đã sang VN nhiều lần. Đọc kỹ bài viết, mọi người sẽ thấy cách hành văn của một người ngoại quốc viết tiếng Việt, tuy rất kinh điển và rành lịch sử Việt Nam.

Stephen B. Young, Global Executive Director of the Caux Round Table, is a lawyer and writer. He has served as Dean of the Hamline University School of Law and as an Assistant Dean at Harvard Law School



Ai thống trị Việt Nam ngày nay:
Đ
ảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?

Stephen B. Young

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”.

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc
của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý hệ
Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng “ tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảngthì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt
đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báoTrung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức
một thứ lệ thuộc tư tưởng.  Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viễn đàn áp, bốc lộtnhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà nội bắt đầu lo sợ.  Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những
thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.


Trung Qu
ốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng
Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ
tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

My Link