AJANTA một di tích Phật Giáo ngoại
hạng
Phật giáo là một trong những tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại
vẫn còn tồn tại và đang phát triển ngày nay. Tuy nhiên theo dòng biến động của
lịch sử thì Phật giáo cũng không tránh khỏi những thăng trầm. Nếu Phật giáo đã
từng gián tiếp hay trực tiếp mang lại chữ viết, văn hóa, triết học và lịch sử
cho một số quốc gia trên địa cầu và đánh dấu một cấp bực tiến hóa cao độ cho
kho tàng tư tưởng của nhân loại thì Phật giáo cũng đã từng bị hủy diệt ở Ấn độ
và nhiều nơi khác.
Chúng ta đều biết đến ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới là
Borobudur ở Inđônêxia được khám phá trong vùng rừng rậm của đảo Java vào đầu
thế kỷ XIX và ngày nay đã hồi sinh để trở thành một nơi chiêm bái và một thắng
cảnh du lịch trong lòng một quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết về di
sản tuyệt vời khác của Phật giáo là Ajanta cũng đã được khám phá một cách thật
tình cờ vào đầu thế kỷ XIX để ngày nay trở thành một nơi hành hương tại Ấn độ,
nơi mà Phật giáo đã phát sinh và đã từng biến mất.
Bài viết ngắn dưới đây sẽ tường thuật lại sự khám phá ly kỳ đó
và mô tả sơ lược di tích quý giá này kèm theo một mẫu chuyện để chúng ta cùng
suy tư.
Một sự tình cờ lý thú
Ngày 28 tháng 4 năm 1819, có một toán quân lính người Anh thuộc
đạo quân viễn chinh ở Ấn độ cưỡi ngựa đi tuần tra dọc theo dãy núi Indhyadri
trong một vùng hẻo lánh phía đông bắc tỉnh Aurangabad, tiểu bang Maharashtra
nơi miền Tây bắc nước Ấn. Đoàn lính tiến dần vào một hẻm núi thật sâu và hoang
dã. Dưới chân họ con suối Waghora chảy xiết, ôm sát vào chân núi và luồn sâu
vào hẻm vực. Đại úy John Smith thuộc đội kỵ mã thứ 28 của đoàn kỵ binh đóng ở
Madras đang lơ đãng nhìn lên sườn núi dựng đứng thì chợt thấy dường như có
những cửa hang trên vách đá. Khá tò mò vì các cửa hang có vẻ không phải là
thiên nhiên mà do tay người đục khắc, anh chàng sĩ quan này bèn nhảy xuống ngựa
và tìm cách trèo lên vách núi để xem cho biết. Lanh quanh một lúc thì anh ta
tìm được cách trèo lên được vì nơi này có nhiều bậc thang khá hẹp đục vào vách
đá. Sau khi lên đến nơi thì anh ta cũng chỉ quan sát qua loa cảnh tượng hiện ra
trước mắt rồi phải trèo xuống vì các đồng đội còn đang đứng chờ bên dưới. Tuy
nhiên anh chàng John Smith vẫn cố lấy bút chì ghi tên mình và ngày tháng vào
một góc kín đáo trên một trụ đá ở một cửa hang lớn, và nét bút chì ấy cho đến
ngày nay vẫn còn lờ mờ. Sau đó thì các hang động này lại chìm vào sự yên lặng
mênh mông của những ngàn năm quá khứ. Tuy nhiên câu chuyện khám phá chớp nhoáng
của viên đại úy sau đó thỉnh thoảng cũng vẫn được đồn đại trong đoàn quân viễn
chinh.
Năm năm sau, vào tháng 2 năm 1824, có một viên trung úy tên là
James Alexander thuộc đạo quân xung kích 16 trong đoàn quân viễn chinh Anh quốc
quyết định xin nghỉ phép vài hôm để đi săn. Anh trung úy trẻ này rất say mê săn
bắn và vẫn thường mong có dịp đi săn trong hẻm vực Waghora vì anh nghe nói nơi
đây có rất nhiều thú nhất là các loài thú dữ, xứng đáng với biệt danh "thung
lũng cọp" mà người ta gán cho nơi này. Trước khi lên đường bạn bè trong
quân ngũ cảnh giác anh ta là ngoài thú dữ ra còn có nhiều thứ nguy hiểm khác
nữa, nhất là bọn thổ dân Bhil sinh sống trong các vùng rừng núi thuộc miền
trung và tây bắc nước Ấn. Thổ dân Bhil rất ghét người lạ dám cả gan xâm nhập
vào lãnh địa của họ. Mặc dù đã được cảnh giác nhưng James Alexander chẳng đếm
xỉa gì đến chuyện ấy vì anh ta rất mê săn heo rừng, beo, báo và cọp.
James Alexander nhờ một người thợ săn địa phương dẫn đường. Vào
thời bấy giờ có nhiều thợ săn chuyên nghiệp gọi là shikari, rất thiện nghệ và
chuyên phục vụ cho những người giàu có và quý phái tại địa phương hoặc từ Anh
Quốc đến và nhất là các sĩ quan thích săn bắn trong đạo quân viễn chinh. Anh
trung úy còn dẫn theo hai người lính trong nhóm sepoys, tức là đội lính tập
tuyển mộ tại địa phương. Cả bọn trang bị khí giới đủ loại gồm súng ngắn, súng
dài, kiếm, lao, mác... và đoàn đi săn cứ thế mà băng rừng tiến vào hẻm núi
Waghora.
Khi vừa đến cửa thung lũng nơi có một dòng suối chảy xiết thì
bỗng nhiên có tiếng huýt sáo vọng lại từ phía vách núi trước mặt. Cả đoàn dừng
lại để lắng nghe động tĩnh, và đúng là có người đang rình rập vì có nhiều tiếng
huýt sáo khác đáp lại từ các bụi rậm và hốc đá chung quanh. Quả đúng là đoàn đi
săn đang bị thổ dân Bhil phục kích. Mặc dầu sợ hãi nhưng cả đoàn tay cầm khí giới
cứ tiến lên , vừa cẩn thận quan sát chung quanh. Bỗng nhiên nhiều thổ dân Bhil
cầm cung tên nhô đầu lên từ các bụi rậm, gốc cây và hốc đá. Cũng lạ là họ không
tỏ vẻ gì tức giận hay đang chuẩn bị tấn công mà chỉ có vẻ tò mò đưa mắt theo
dõi thế mà thôi. Đoàn săn bắn cũng bớt sợ vì họ biết rằng các mũi tên của thổ
dân Bhil đều có tẩm thuốc độc. Trung úy James Alexander vẫn giữ được bình tĩnh
và nhận thấy người Bhil có thân hình nhỏ thó, da đen sậm và gần như là trần
truồng.
Đoàn săn bắn tiếp tục ngược theo dòng suối để tiến vào hẻm vực
trong khi các thổ dân Bhil vẫn rình rập phía sau nhưng chỉ quan sát mà không
tấn công. Sau cùng thì đoàn săn bắn cũng tiến được vào giữa hẻm núi, khu này có
hình vòng cung giống như hình móng ngựa, chiều ngang độ vài trăm mét. Viên
trung úy James Alexander vừa canh chừng các thổ dân Bhil vừa quan sát vách núi
trước mặt và bất ngờ anh ta trông thấy khoảng hơn một chục miệng hang cheo leo
trên vách đá...
Vì tò mò thúc đẩy, trung úy James Alexander bèn ra lệnh cho cả
đoàn tìm cách trèo lên để xem. Khi lên được đến nơi thì họ mới biết là các hang
đúng là do tay người đục đẽo. Cửa hang hình vòm cung có cột đá chống đỡ và tất
cả các hang đều được đục thẳng từ bên ngoài vào trong vách núi. Tường và cột đá
ở cửa hang được chạm nổi với các hình người, hình thú vật, hoa, lá.... Một số
hang bị đá sụp lấp kín lối vào, nhưng một số hang khác vẫn còn kẻ hở có thể
chui vào được. Vô cùng kinh ngạc trước quang cảnh đồ sộ của các cửa hang đang
hiện ra trước mặt, James Alexander bèn quyết định chui vào bên trong xem sao.
Cả đoàn tìm cành và cỏ khô bó lại làm đuốc rồi chui vào một cửa động. Ánh sáng
làm cho hàng ngàn con dơi đang đeo ngược trên trần hoảng sợ bay tán loạn. Trên
mặt đất có nhiều đống phân động vật cho biết là có nhiều thú như khỉ, chó rừng,
cọp, gấu... đến trú ẩn. Đoàn người lại tìm thấy một cầu thang đưa họ lên các
gian phòng ở tầng trên. Tại đây họ thấy có vết tro còn mới và trong một góc tối
có một bộ xương người.
Đoàn "thám hiểm" lại tiếp tục chui vào các hang động
khác. Một số hang có kích thước nhỏ và không sâu lắm, nhưng có một số hang khác
thì thật mênh mông, trần cao vút như trong một ngôi đền đồ sộ. Trong một hang
lớn dưới ánh đuốc bập bùng hiện ra trước mặt họ một pho tượng Phật to lớn và
oai nghiêm, trên tường trong hang có nhiều bức tranh vẽ rất tinh xảo và tuyệt
đẹp, màu sắc rực rỡ. Cả đoàn như bị mê hoặc trước những khám phá ngoạn mục,
quên bẵng việc săn bắn và quên cả các thổ dân Bhil còn đang rình rập dưới chân
núi. Đến chiều thì họ mới trèo xuống để tìm đường về. Mặc dù không bắn được một
con thú nào nhưng tay săn James Alexander không hề thất vọng vì anh ta tin chắc
là mình đã khám phá ra một di tích ngoại hạng, một tu viện đồ sộ và tinh xảo đã
chìm vào quên lãng, biến mất trong trong trí nhớ của con người từ lâu..., ngoại
trừ một số thổ dân Bhil là còn biết đến những di tích đó trong sự thờ ơ. Thật
ra thì viên trung úy James Alexander trước khi đi săn cũng không hề nghĩ đến
câu chuyện đồn đại về những hang động do đại úy Smith kể lại từ năm năm trước,
Tuy nhiên John Smith đơn giản là một người tò mò và chỉ cần biết rằng mình đã
trông thấy những hang động trong rừng sâu thế thôi, trong khi đó thì trung úy
James Alexander lại tin chắc là mình đã khám phá ra một kỳ quan chưa từng có.
Một thời gian ngắn sau khi tin đồn viên trung úy James Alexander
đã khám phá các hang động trong thung lũng Waghora được lan truyền đi khắp nơi
thì các nhà khảo cổ kéo đến và họ đều xác nhận đấy là một trung tâm Phật giáo
lâu đời và đồ sộ chưa nơi nào sánh kịp. Các nhà khảo cổ bèn mượn tên của ngôi
làng gần nhất là Ajanta để đặt tên cho di tích này. Các công cuộc thăm dò tiên
khởi đều công nhận là các tranh trên tường trong các hang động rất tiêu biểu
cho nghệ thuật tranh vẽ của Ấn độ, và đây là những bức tranh vừa xưa lại vừa
đẹp nhất mà trước đó chưa hề được khám phá. Năm 1983, Ajanta được cơ quan
UNESCO của Liên Hiệp Quốc xếp vào gia tài văn hóa của nhân loại.
Ajanta là một tu viện
Phật giáo gồm 29 hang động đục sâu vào vách núi tạo thành các "ngôi
chùa" và "tịnh xá". Vách núi là đá basalt, một loại đá núi lửa
rất cứng. Trong số 29 hang động có ba hang còn bỏ dở dang chưa hoàn tất. Theo
cách bố trí thì các hang được chia làm hai loại : loại thứ nhất là các hang
"chính điện" hay "thiền đường" (chaitya) bên trong cùng là
bệ thờ và nơi bệ thờ có một bảo tháp (stupa). Loại hang thứ hai là các hang
"tịnh xá" (vihara) là nơi nghỉ ngơi và trú ngụ của tăng đoàn,
gồm có một gian tập thể và nhiều phòng nhỏ.
Cách kiến trúc, tranh vẽ và điêu khắc trong hang cho thấy là
Ajanta được thực hiện vào hai thời kỳ cách nhau khá xa. Thời kỳ thứ nhất kéo
dài từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch đến từ thế kỷ thứ I trước Tây lịch và chịu
ảnh hưởng rõ rệt của Phật giáo Nguyên thủy (Therevada). Cách trang trí trong
thời kỳ này khá đơn giản và kém phần hoa mỹ, đặc biệt nhất là không có một biểu
tượng nào tượng trưng cho Đức Phật. Thời kỳ mở mang thứ hai thuộc vào thế kỷ
thứ V và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Bắc tông, thời kỳ xây dựng này tuy ngắn
ngủi nhưng đã thực hiện được nhiều hang động thật đồ sộ, với cách thiết kế phức
tạp hơn, trang trí cũng phong phú và màu mè hơn. Các hang động Ajanta có thể đã
bị bỏ hoang từ thế kỷ thứ VI, tuy nhiên theo một vài tư liệu khác thì tăng đoàn
vẫn còn lưu lại tại Ajanta cho đến thế kỷ thứ VIII trước khi rời bỏ nơi này.
Nơi trú ngụ của Đức Phật và tăng đoàn
Cho đến nay người ta không hoặc chưa tìm thấy được một di tích
kiến trúc Phật giáo nào được xây dựng vào thời kỳ Đức Phật còn tại thế, kể cả
trong các giai đoạn đầu tiên của các tăng đoàn sau khi Vị Thầy của họ đã tịch
diệt. Vào thời kỳ khi Đức Phật còn tại thế thì chưa có chùa chiền như ngày nay
vì Đức Phật chủ trương một lối sống hoàn toàn tự do không bị trói buộc vào các
sinh hoạt và lo toan thế tục, và cũng không dừng lại một nơi cố định nào cả.
Theo lời giáo huấn của Ngài thi nếu người đã tu hành mà còn lăn mình vào những
mối bận tâm của thế tục, còn bám víu vào những tiện nghi vật chất và một môi
trường sống cố định để nuôi dưỡng thói quen của mình thì nhất định họ sẽ không
thể nào tu tập được.
Nếu một người tu hành chưa đủ nghị lực vượt lên trên những trói
buộc bên ngoài thì làm thế nào có đủ khả năng để loại bỏ những xung động bên
trong tâm thức của chính mình. Dựa theo các kinh sách xưa của Nam tông thì khi
Đức Phật còn tại thế chỉ có hai loại "kiến trúc" có mái che hẳn hoi
có thể tạm gọi là "nhà cửa" để giúp cho người tu hành che thân và tạm
trú. Loại thứ nhất gọi là "avasa", tức là những túp lều do các vị tỳ
kheo tự tay cất lấy để tạm trú trên đường hoằng Pháp hoặc để an cư vào mùa kiết
hạ. Các "kiến trúc" này thật ra chỉ là những chiếc "am"
được dựng lên bằng cành lá của cây rừng hoặc bằng các vật liệu tìm được trong
các vùng nông thôn. Các nơi trú ẩn này chỉ có tính cách tạm thời vì sự sinh hoạt
của tăng đoàn rất linh động không bám vào một nơi cố định nào cả. Loại
"kiến trúc" thứ hai gọi là "arama" hay "vihara"
tức là các "tịnh xá" do các người thế tục giàu có cúng dường và rất
có thể họ cũng tiếp tục đứng ra phụ giúp tăng đoàn trong việc bảo trì bởi vì
Đức Phật và tăng đoàn là những người sống bằng khất thực nên không có tiền của
gì cả. Tịnh xá là các kiến trúc cố định khang trang và có tính cách lâu bền hơn
các "am cỏ" được dựng lên trên đường hoằng Pháp. Các tịnh xá nổi
tiếng nhất được kinh sách ghi chép là vườn Trúc lâm (Venuvana) gần thành Vương
Xá (Rajagrha) và vườn Kỳ Viên (Jetavana) gần thành Xá Vệ (Sravasti), và dầu sao
thì đấy cũng chỉ là những nơi dừng chân của Đức Phật và tăng đoàn mà thôi. Tuy
nhiên Đức Phật thường lưu lại vườn Kỳ Viên nhiều hơn các nơi khác, nhất là
trong hai mươi năm trước khi Ngài nhập diệt.
Ngoài các tịnh xá mà kinh sách nói đến thì không có một chứng
tích nào khác cho thấy vào thời kỳ Đức Phật còn tại thế đã có các kiến trúc đồ
sộ do tăng đoàn hay do người thế tục xây dựng. Tương ưng Bộ kinh (phẩm 10) mô
tả vườn Kỳ Viên có "những giảng đường to lớn, các gian phòng tiện nghi,
kho chứa, đường đi lót đá...", tuy nhiên cho đến nay các nhà khảo cổ
đã không tìm thấy một vết tích nào đáng kể tại vị trí của vườn Kỳ Viên. Các học
giả Tây phương cho rằng cách mô tả trên đây của kinh sách có phần phóng đại.
Các nơi trú ngụ xưa nhất của những tỳ kheo Phật giáo mà các nhà
khảo cổ khám phá được cho đến nay là các hang động và những hang xưa nhất thì
cũng chỉ được thiết kế bắt đầu từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch như trường hợp
của các hang Ajanta trên đây. Cũng có nhiều di tích Phật giáo xưa hơn, thuộc
thế kỷ thứ III trước Tây lịch tức là dưới triều đại của hoàng đế A-dục, đó là
các mặt đá và trụ đá ghi khắc chỉ dụ của hoàng triều và nhất là các bảo tháp do
chính hoàng đế A-dục ra lệnh xây dựng khắp nơi trên đất Ấn. Tuy nhiên đấy chỉ
là những di tích và những kiến trúc thiêng liêng chứ không phải là tu viện hay
chỗ ở của tăng đoàn. Các học giả Tây phương nghĩ rằng các tịnh xá (arama) nói
chung chỉ là những gian nhà rộng nhưng rất đơn sơ, sườn bằng tre, lợp lá và vách
đất, giống như nhà cửa ở nông thôn Ấn độ ngày nay. Các giảng đường hay các tịnh
xá lớn chẳng hạn như vườn Kỳ Viên hay Trúc Lâm thì làm bằng cây và gỗ và các
kiến trúc bằng "vật liệu nhẹ" và như thế thì không thể nào tồn tại
được với thời gian.
Sự hình thành của "Chùa chiền"
Mặc dầu Ajanta được thành lập sau khi Đức Phật đã tịch diệt hơn
ba thế kỷ nhưng cũng giúp cho chúng ta một vài ý niệm nào đó để hình dung ra sự
sinh hoạt của tăng đoàn vào những thời kỳ xa xưa nhất của Phật giáo. Ajanta là
các hang động đục thẳng vào núi đá và sau đó thì bị bỏ quên trong rừng sâu nên
vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn sau hơn hai ngàn hai trăm năm, quả thật là một
di tích vô cùng quý giá. Thật vậy trong suốt thế kỷ XIX các nhà khảo cổ đã khám
phá ra rất nhiều di tích Phật giáo rải rác khắp nơi ở Ấn độ, nhưng cho đến nay
thì vẫn chưa có một di tích nào cùng loại lại đồ sộ, tinh xảo và lâu đời hơn
Ajanta. Trong số này có thể kể ra các hang Bedsa gần thành phố Pune, các hang
Bhaja và Kharla gần thành phố Lonavala thuộc tiểu bang Maharashtra nằm trên bờ
biển phía tây của nước Ấn, (xem hình phụ lục 1).
Nói chung thì các loại hang động đục thẳng vào vách núi như trên
đây cũng gián tiếp giúp hình dung ra "chùa chiền" và các nơi trú ngụ
xưa nhất của Đức Phật và các đệ tử của Ngài. Các chuyên gia khảo cổ đã căn cứ
vào các chứng tích trong các hang động để hình dung lại "chùa chiền"
và "tịnh xá" xây dựng bằng gỗ vào những thời kỳ đầu tiên sau khi Đức
Phật tịch diệt, vì theo họ thì hang động được đục dựa vào khuôn mẫu của các
kiến trúc ngoài trời, và các kiến trúc này thì tất nhiên phải được xây dựng và
thiết kế theo truyền thống đã có từ lâu đời. Thật vậy các hang động Ajanta tuy
được đục thẳng vào núi đá nhưng đã kiến tạo lại từng chi tiết một và rập khuôn
theo cách kiến trúc bằng gỗ. Người ta nhận thấy trên trần của các gian phòng
trong hang có những kèo cột tượng trưng cho xà nhà, hai đầu của các kèo cột lại
còn đục thêm dấu vết của các đầu đinh. Vách hai bên cửa hang và bên trong hang
được trang trí bằng các cửa sổ giả, gác giả và bậc thềm giả đục tượng trưng
trên mặt đá. Dựa vào các chi tiết này người ta có thể hình dung ra kiến trúc
của "chùa chiền" vào thời bấy giờ. Tuy nhiên cho đến nay chưa thấy ai
có sáng kiến sử dụng cây và gỗ để xây dựng lại ngoài trời các "ngôi chùa
cổ xưa" của Phật giáo dựa vào các chi tiết tìm thấy trong hang động.
Cửa hang các tịnh xá có mái hiên hình vòm và cột chống đỡ. Bước
vào bên trong là một gian tập thể hình vuông hay chữ nhật dùng làm nơi sinh
hoạt chung. Ba mặt vách của gian tập thể thì được đục thêm các
"phòng" hay đúng hơn là các "hốc" nhỏ kích thước bằng nhau,
dùng làm nơi nghỉ ngơi cho các tỳ kheo. Trong mỗi hốc có hai bệ đá làm giường.
Cách thiết kế tổng quát của các tịnh xá cũng không có gì thay đổi nhiều giữa
hai thời kỳ phát triển, tuy nhiên các tịnh xá Bắc tông rộng lớn hơn, một số có
nhiều tầng và cầu thang thông nhau, đôi khi trong tịnh xá lại còn có thêm một
gian dành riêng làm thiền đường và nơi thờ phụng.
Các chính điện (chaitya) tại Ajanta cũng được thiết kế theo cùng
một khuôn mẫu như nhau. Chính điện lớn nhất được các nhà khảo cổ đặt tên là
hang số 10, thuộc thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, tuy được đục sâu vào vách núi
nhưng các hang này lại rập khuôn theo cách kiến trúc bằng gỗ ở ngoài trời. Phần
trong cùng của chính điện là bệ thờ có hình bán nguyệt, trần là một vòm cao với
các "kèo" hình vòng cung được tạc vào đá nhưng trông giống như làm
bằng gỗ, hai đầu kèo chống lên các trụ đá dựng đứng. Vào thời Đức Phật còn tại
thế thì chưa có các "chính điện" xây dựng bên cạnh các tịnh xá như
trường hợp trên đây vì các tịnh xá thời bấy giờ nhất thiết chỉ là những nơi tạm
trú cho tăng đoàn mà thôi. Tuy nhiên theo các học giả Tây phương thì chính điện
xuất hiện rất sớm sau khi Đức Phật tịch diệt và được dựng lên bên cạnh các tịnh
xá để làm nơi thiền định và đón tiếp người thế tục. Do đó vai trò của tịnh xá
cũng biến đổi đi, không còn là nơi tạm trú vào dịp kiết hạ trong mùa mưa bão
nữa, sự sinh hoạt của tăng đoàn do đó cũng trở nên cố định hơn.
Trong mỗi chính điện nơi vị trí của bệ thờ đều có một bảo tháp
xá lợi. Các bảo tháp này có lẽ đã xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch
khi hoàng đế A-dục quyết định phân tán và đưa xá lợi đến gần hơn với mọi người
trên khắp vùng đế quốc của ông. Kinh sách cho biết là hoàng đế A-dục xây dựng được
tất cả 84 000 bảo tháp và bên cạnh mỗi bảo tháp lại còn xây thêm một tu viện và
mỗi tu viện phải phụ trách nghiên cứu một chủ đề riêng biệt trong kinh sách.
Theo các học giả Tây phương thì con số 84 000 là một con số tượng trưng với ít
nhiều phóng đại, nhưng dù cho con số này chỉ có tính cách tượng trưng đi nữa
thì cũng phải công nhận là bảo tháp và tu viện hay "chùa chiền" dưới
triều đại hoàng đế A-dục cũng thật là nhiều. Bảo tháp được xây dựng khắp nơi có
mục đích thay thế cho sự hiện diện của Đấng Thế Tôn. Các vị tỳ kheo dựng lên
các chính điện với bảo tháp xá lợi bên trong vừa để thờ phụng vừa để cảm thấy
Vị Thầy của mình lúc nào cũng ở bên cạnh mình, đồng thời chính điện cũng được
dùng làm nơi để người thế tục đến chiêm bái. Chùa chiền như ngày nay có lẽ cũng
đã bắt nguồn từ đấy.
Phụ lục 1: Hình ảnh các hang Ajanta, Bedsa, Bhaja và
Kharla
Karla caves
Bhaja caves
Bedsa Caves 1000 years old.
Ajanta
Ajanta Caves
Water Falls, Ajanta Caves
Bên trong Ajanta Caves:
Reclining Buddha carved in the Ajanta Caves in Northern India,
dating to the 2nd century B.C
Tranh vẽ trong Ajanta Caves
Temptation of Mara, painting of mural in Cave 1, Ajanta,
1875-1876, Museum no. IS.13-1885
Ajanta Bodhisattva
--
You received this message because you are subscribed to the Google Groups Baovechanhphap-GHPGVNTN group. To post to this group, send email to baovechanhphap@googlegroups.com. For more options, visit this group at https://groups.google.com/d/forum/baovechanhphap?hl=en-US
You received this message because you are subscribed to the Google Groups Baovechanhphap-GHPGVNTN group. To post to this group, send email to baovechanhphap@googlegroups.com. For more options, visit this group at https://groups.google.com/d/forum/baovechanhphap?hl=en-US
No comments:
Post a Comment
Thanks for your Comment